CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
64 Mùa Valentine Đợi Em

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 14h:43' 26-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 14h:43' 26-04-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
64 mùa valentine đợi em
Anne Stuart
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
TABLE OF CONTENTS
Giới thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Giới thiệu
Valentine đối với người này có thể là hoa tươi và sô-cô-la, hạnh phúc và đầy tiếng cười,
nhưng Valentine với một ai đó cũng chỉ là một ngày như bao ngày khác, họ tiếp tục chờ đợi
một tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Nhưng, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều đã nghe
rằng, “Tình yêu là một quá trình và chỉ đến với những ai có đủ kiên nhẫn”. Và vì thế, những tâm
hồn cô đơn hãy cứ tiếp tục đi rồi sẽ gặp, cho dù năm tháng chờ đợi có dài bao lâu cũng sẽ được
đền bù xứng đáng. Lại một mùa Valentine nữa sắp đến, nhưng dù là người đã may mắn tìm
được một nửa của mình hay còn đang mải miết đi tìm tình yêu đích thực, có một câu chuyện
của Anne Stuart mà các bạn không nên bỏ qua. Đó là 64 mùa Valentine đợi em - một cuốn
tiểu thuyết nóng bỏng và hấp dẫn, hài hước và kịch tính, hứa hẹn sẽ lôi cuốn người đọc ngay từ
những trang đầu tiên. Quả thật, ấm áp biết bao khi chúng ta được tận hưởng những cung bậc
tình cảm của hai nhân vật James và Helen trong truyện, cùng họ trải qua những cung bậc trong
tình yêu với mọi sắc thái, trại huống thực tế, và biết đâu sau khi gấp cuốn sách lại, cánh cửa
tình yêu mà mỗi người đang tìm kiếm cũng bắt đầu mở ra...
Tóm tắt nội dung
14/2 hàng năm - ngày tuyệt vời cho mọi người bày tỏ, sẻ chia tình cảm của mình với những
người thân yêu nhất. Thế nhưng, có một kẻ không háo hức trông chờ, thậm chí còn ghét ngày
này nữa. Tại sao ư? Vì gã là James Sheridan Rafferty và đã chết trong vụ thảm sát ngày
14/2/1929 tại Chicago.
Chết rồi thì sao? Thì mong được chết cho an lành, vậy mà không hiểu sao, gã lại thấy mình
sống lại vào ngày 13/2 và biến mất đi đâu đó mà gã cũng chẳng biết vào nửa đêm ngày 14/2
hàng năm. 48 giờ chả mấy vui vẻ. Đơn giản vì mấy người bạn cùng chết với gã cũng xuất hiện
cùng thời gian đều tìm được nửa kia đích thực và có cuộc sống gia đình vô cùng hạnh phúc, có
thể gọi là những tên găng-xtơ hoàn lương. Dĩ nhiên bọn họ thật sự sống lại, chỉ còn mỗi mình
gã lẻ loi, đơn chiếc từ năm này qua năm khác suốt 64 năm.
Cho đến năm nay, gã xuất hiện trở lại với sứ mệnh giúp đỡ cậu nhóc đồng bạn đang gặp rắc
rối với pháp luật. Một cuộc gặp gỡ không mong chờ giữa một tay găng-xtơ và một công tố viên
xuất thân từ một gia đình cảnh sát nhà nòi. Đúng là oan gia ngõ hẹp.
Helen Emerson thức dậy vào một buổi sáng tháng 2 lạnh mướt. Nếu là ngày khác thì có lẽ
chẳng sao cả, nhưng hôm ấy lại là thứ Sáu ngày 13, thiệt vô cùng tồi tệ, y như những năm trước.
6h30 sáng, kẻ nào lại bấm chuông cửa nhà cô? Đó là một anh chàng điển trai nhưng trông đầy
vẻ đen tối, đại diện cho bị cáo của cô. Nhưng điều gì xui khiến cô để cô đồng ý đi ăn sáng với
anh chàng đó, gặp gỡ anh ta và có những cảm xúc rộn ràng? Cô không biết, không hiểu nổi.
48 giờ quay lại thế giới thực ấy, James đã khám phá ra rất rất nhiều điều mà gã chưa từng cảm
nhận trước đây. Liệu Helen có phải là định mệnh của gã trong mùa Valentine thứ 65 này
không? Liệu gã có thoát khỏi cái vòng tròn lẩn quẩn xuất hiện - biến mất - xuất hiện… đến
nhàm chán này không? Có những sự trùng hợp vô tình đến lạ kỳ, và chuyện gì cũng có lý do của
nó mà có khi không ai hiểu nổi tại sao, chắc chỉ có bàn tay vô hình sắp đặt những điều ấy mới
biết rõ mà thôi...
Không nhất thiết khi nói đến tình cảm thì người viết sẽ phải dùng đến một ngòi bút ướt át
và ủy mị, cũng không cần đến những khung cảnh được miêu tả đẹp như mơ bởi đời thực luôn
khiến độc giả rung động một cách sâu sắc nhất. Chính vì thế mà người đọc đã được gặp cặp đôi
James Sheridan Rafferty - Helen Emerson trong 64 mùa Valentine đợi em, sự kết hợp giữa
một tội phạm khét tiếng vô tâm và một nữ công tố nổi tiếng nghiêm minh. Sẽ là một tình yêu
bi kịch nếu như anh không được phép trở lại trần gian mỗi năm hai ngày ngắn ngủi trong lễ
Tình yêu...
Thông tin tác giả
Tác giả Anne Stuart (sinh ngày 02 tháng 05 năm 1948) tên đầy đủ: Anne Kristine Stuart, là
một tiểu thuyết gia lãng mạn nổi tiếng của văn học Mỹ, là một bậc thầy lớn trong giới văn học,
đã sống và làm việc hơn 35 năm trong ngành xuất bản. S các tác phẩm của Anne Stuart đã lên
đến con số 100 và vì những đóng góp không ngừng nghỉ của mình, bà đã vinh dự nhận được
giải thưởng thành tựu trọn đời từ Hội nhà văn lãng mạn Hoa Kỳ. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của
Anne được phát hành vào năm 1974 và kể từ đó trở đi, các tác phẩm được giới thiệu đến công
chúng của bà luôn nhận được sự yêu mến đặc biệt và mang về cho Anne nhiều giải thưởng văn
học danh giá như RITA, ARR... Một số tác phẩm tiêu biểu của Anne Stuart: Hắc băng, Thiên thần
sám hối, 64 mùa Valentine đợi em...
Gửi đến Julie Kistler, người đã hỗ trợ tôi về mặt pháp lý cũng như cố vấn về khu vực Chicago.
Bất cứ nhầm lẫn nào ở đây đều là lỗi của cô ấy. Yêu cậu, Julie.
Cuốn tiểu thuyết này dựa trên những sự kiện có thật xảy ra vào sáng ngày 14 tháng 2 năm
1929, tại một gara cũ ở Chicago. Tên tuổi cùng thân thế của các nạn nhân đã được thay đổi;
những chi tiết liên quan đến vụ thảm sát về cơ bản đều được giữ nguyên.
Chương 1
Helen Emerson bật dậy trên giường và thét. Tiếng thét của cô bị không khí nuốt chửng
trước khi cô kịp đưa tay bịt miệng để ngăn lại âm thanh kinh hoàng. Một lát sau, cô mò mẫm
bật chiếc đèn cạnh giường, xua những bóng ma trở vào nơi cư ngụ trong bóng tối. Cô rụt tay lại
và nhận ra chúng đang run rẩy.
Thõng chân xuống giường, cô khẽ lắc đầu. Năm rưỡi sáng, và cô không thể nhớ nổi giấc mơ.
Không thể nhớ nổi cơn ác mộng ghê rợn xé toạc cô khỏi giấc ngủ yên bình, và cô cũng không
chắc mình có muốn nhớ lại không. Vài ấn tượng còn rơi rớt lại sâu trong tâm trí cô. Một âm
thanh ầm ầm nào đó, loại âm thanh rất khó định hình. Và tiếng chó sủa.
Cô lắc đầu, lùa bàn tay vào mái tóc nâu ngang vai. Ít nhất trong mắt mọi người cô là một phụ
nữ thực tế - điều cô luôn tự hào, nên cơn ác mộng vừa qua đơn giản chỉ là một cơn ác mộng mà
thôi.
Nhưng đây không phải cơn ác mộng đầu tiên. Rất khó xác định chúng là cùng một giấc mơ
liên tục ám ảnh cô hết lần này đến lần khác, bởi lần nào cũng vậy, một khi tỉnh giấc cô không
nhớ gì về chúng. Nhưng có một thứ bất biến, âm thanh như sấm rền, như hàng nghìn tiếng
trống không bao giờ thay đổi. Và tiếng tru hoảng loạn của một con chó.
Cố buộc bản thân rời khỏi giường, cô kéo mạnh chiếc áo phông ngoại cỡ xuống và bần thần
đi vào bếp. Cô bật máy pha cà phê, rồi lơ đễnh xem cuốn lịch. Thứ Sáu ngày mười ba. Chẳng
trách sao cô lại gặp ác mộng.
Helen nhìn chăm chăm ra ánh ban mai bên ngoài. Tháng Hai hẳn là tháng lạnh giá nhất, đặc
biệt ở một thành phố như Chicago. Ngọn gió quất mạnh lên mặt hồ, tê cóng đến tận xương, và
cả thế giới cứ như phủ một màu xám xịt và hoang vắng. Một tháng nữa thôi hoa sẽ nở khắp cả
nửa khu vực quanh đây. Còn giây phút này, ngay cả bóng ma ngớ ngẩn của ngày Valentine cũng
không thể xua đi muộn phiền trong trái tim Helen.
Cô không chờ nổi cho đến khi cà phê được pha xong. Cô rót một tách rồi thơ thẩn trở ra
phòng khách. Cô yêu tòa nhà cũ này, nhất là căn hộ cô đang ở. Sau nhiều thập kỷ suy thoái, số
1322 phố Elm nằm ở phần cuối trong quá trình tái thiết thành phố, và Helen đã cố hết sức để
đưa vẻ cổ kính trở lại nơi đây như lúc đầu. Tòa nhà từng là một trong những khu nhà thanh lịch
nhất Chicago, nhưng hàng năm trời bị bỏ bê đã cướp đi hầu hết vẻ đẹp của nó. Rồi nó bị bỏ
hoang, cứ nằm đó chờ người đủ tiền và sức lực đến cứu rỗi.
Với đồng lương của một trợ lý công tố, Helen rất khó kiếm đủ tiền, nhưng cô có thừa sức lực.
Cô không có người đàn ông nào làm cô phân tâm, không có người ngày mai sẽ mang cho cô
những lời chúc cùng sôcôl thậm chí không có người để cô gửi thiệp. Và cô lại có thể phung phí
tình yêu của mình cho tòa nhà cũ kỹ, như mọi khi.
Không, khỉ thật. Các anh trai của cô chắc chắn sẽ gửi thiệp chúc mừng. Họ luôn bỏ qua mục
đích nguyên bản của dịp lễ. Nghĩ đến đây, cô cũng đã chuyển lời chúc đến bảy đứa cháu trai và
cháu gái của cô rồi. Có lẽ cô chỉ cần quên tên gọi của ngày mười bốn tháng Hai và tập trung vào
món sôcôla thôi.
Ít nhất năm nay nó cũng rơi vào thứ Bảy. Thế nên cô sẽ không phải đối phó với tất thảy hớn
hở gượng gạo, những lời bình luận bâng quơ và những trò chơi nho nhỏ ở chỗ làm. Hơn nữa
công việc hiện tại cũng không khiến cô cảm thấy vui vẻ. Nếu hàng ngày đều phải đối mặt với
đủ loại tội phạm thì ai phấn khởi nổi đây?!
Cô uống thêm một ngụm lớn cà phê, thầm nghĩ cách trốn việc ngày hôm nay. Có thể báo ốm
hoặc viện cớ sức khỏe suy nhược. Thời gian này tất cả mọi người đều cần một ngày dành cho
tinh thần khỏe mạnh [1] - chắc chắn thứ Sáu ngày Mười ba sẽ hội tụ đủ tiêu chuẩn cho cô xin
nghỉ. Rồi cô sẽ có thêm hai ngày để ra quyết định cuối cùng về Billy Moretti.
[1] Metal helth: khả năng bộ máy tâm lý hoạt động hợp lý, hiệu quả, hay trạng thái tinh thần
hoàn toàn thoải mái.
Nhưng cô là một phụ nữ có trách nhiệm, và hai ngày cũng đâu làm nên khác biệt. Cô là một
công tố viên, mặc dù chỉ mới ở cấp khởi đầu, còn Billy Moretti là người phạm tội. Nhiệm vụ của
cô là đảm bảo hình phạt dành cho cậu ta. Ngay cả khi việc ấy cho cô cảm giác mình đang đá
một chú cún con không nơi nương tựa.
Cô bước quanh nhà, mặc kệ hóa đơn tiền điện tăng cao để bật sáng tất cả các bóng đèn. Đây
sẽ là một ngày lạnh lẽo đầy gió, ảm đạm, muộn phiền, và cô cần gom hết mọi ánh sáng trong
tầm tay. Có lẽ cô nên đi làm sớm, đối mặt với vụ Moretti cùng vô vàn khó chịu khác rồi chuồn
sớm vào đầu giờ chiều. Tự thết đãi bản thân bằng một bữa trưa muộn, tao nhã, hay thậm chí
còn có thể đi mua sắm nữa. Chẳng phải “khi cảm thấy chán nản, hãy tìm niềm vui trong mua
sắm” sao? Chắc chắn sẽ có thứ gì đó để cô tiêu tốn tiền bạc. Dù chẳng có việc gì để làm đến
mức phải lôi các bộ phim cổ lỗ sĩ ra xem lại thì cô cũng quyết tâm tan làm sớm.
Cô uống nốt cà phê, rùng mình trong bầu không khí lành lạnh, rồi đi về phía phòng tắm. Đắm
mình trong vòi nước nóng thật lâu sẽ gạn rửa đầu óc, đánh thức cô dậy và cho cô thêm dũng
khí đối mặt với một ngày mới. Nhưng khi cô đứng dưới dòng nước như trút, cô nghĩ mình vừa
nghe thấy tiếng thình thình như sấm vọng lại từ xa. Và tiếng tru thê lương của một con chó.
***
James Sheridan Rafferty dựa vào tòa nhà xây từ gạch cũ và nhắm mắt. Gã nhớ lần đầu tiên
quay trở lại đây, và nỗi sợ hãi xâm chiếm gã. Gã nhớ lần trở về tìm cái gara tan hoang, đổ nát ở
chốn cũ.
Chết tiệt, gã lạnh. Hai bàn chân gã đang đóng băng, gió thì quất liên hồi vào chiếc áo khoác
cũ kỹ mà đến một đôi găng tay gã cũng chẳng có. Gã xọc tay vào túi, run rẩy, và mê mải trong
những cảm giác rất tự nhiên. Gã đói. Gã lạnh. Gã chai như đá.
Gã mở mắt, lôi mảnh giấy nhàu nhò ra khỏi túi, đây là thứ Mary Moretti với đôi mắt mở to
và van lơn đã đưa cho gã. Quay lại Chicago chỉ trong vài giờ và cuộc nán lại ngắn hạn của gã
đang có nguy cơ bị mang ra trưng dụng.
Gã không nên thấy hối tiếc. Gã luôn quý Billy Moretti. Trong số tất cả bọn chúng, Billy là đứa
không đáng hứng chịu số phận bi thảm đó nhất. Cậu ta chỉ là một thằng nhóc, và so với đám
cùng lứa là một đứa rất được. Đủ trẻ để mắc sai lầm. Đủ lớn để đúc rút bài học từ sai lầm, và
bước tiếp. Nếu có cơ hội thứ hai.
Mary đang sợ hãi, điều cũng không đáng ngạc nhiên. Con bé mới mười chín tuổi, bụng mang
dạ chửa và chồng thì đang có nguy cơ lĩnh án phạt tối đa ở nhà tù Joliet. Người duy nhất con bé
có thể trông cậy là James Sheridan Raffety, kẻ khiến con bé sợ chết khiếp. Gã không thể trách
con bé. Gã khiến rất nhiều người phát hoảng, một sự thật hiếm khi gã bận tâm. Là do cái gì đó
ở vẻ im lìm của gã. Cái gì đó ở đôi mắt gã. Cái gì đó ở thân phận gã, điều bất cứ ai cũng hoài
nghi nhưng không bao giờ thấu hiểu cặn kẽ. Từ đó có phản ứng sợ gã là đương nhiên.
Giống cách Mary Moretti phản ứng với gã. Nhưng sẽ không đáng bận tâm một khi Billy yêu
dấu của con bé đang gặp nguy hiểm. Vì an nguy của Billy con bé sẵn sàng đối mặt với ác quỷ
nếu cần. Qua nỗi sợ hãi hiện rõ trong đôi mắt đen, gã thừa biết con bé đang cho rằng gã là ứng
viên trời định cho công việc của quỷ Sa T
Làm sao gã có thể từ chối đây? Nhưng nếu gã chỉ có bốn mươi tám giờ ở Chicago thì sao?
Bốn mươi tám giờ để nhồi nhét toàn bộ cả một năm cuộc đời gã? Gã đang dần học cách sống có
trách nhiệm, dù việc này ngốn đến hàng thập kỷ. Gã đang dần học được cách quan tâm đến
người khác. Còn Billy lúc nào cũng ủng hộ gã, bất cứ lúc nào. Ngoài giúp đỡ thằng nhóc, gã
không còn lựa chọn nào khác.
Gã liếc xuống mảnh giấy được Mary viết ngoáy. Helen Emerson. Trợ lý công tố bang.
Gã lắc đầu. Gã có thể sẽ không bao giờ giải quyết trót lọt chuyện này. Một nữ công tố. Chết
tiệt, có khi cô ta có cả một thư ký nam cũng nên. Cái thế giới này càng lúc càng trở nên gàn dở.
Gã rút một điếu thuốc từ vỏ bao nhăn nhúm trong túi áo khoác và châm lửa, khum hai tay
che que diêm gỗ khỏi ngọn gió. Điếu thuốc lá đầu tiên trong một năm, và có vị tuyệt vời. Thêm
một rắc rối khác - càng ngày càng ít người hút thuốc lá. Cho nên gã khó kiếm nổi một chỗ châm
thuốc mà không bị ai đó trợn mắt, rồi diễn thuyết cả một tràng về tình trạng hai lá phổi của gã.
Gã thường xuyên lịch sự và lạnh lùng lắng nghe làm nhiệt huyết của chiến binh thập tự chinh
kia teo tóp, rồi hoàn toàn mất nhuệ khí trước sự tĩnh lặng toát ra từ gã.
Chắc chắn nếu không xem trước có thể làm gì cho Billy, đảm bảo các kế hoạch trong bốn
mươi tám giờ tới của gã cũng không thể nhanh chóng bắt đầu. Giờ là sáu giờ sáng - cô
Emerson đương nhiên sẽ không đi làm cho đến chín giờ. Còn lâu gã mới chịu ở yên một chỗ
chờ đợi. Quẳng ba giờ vào nhà vệ sinh thì quá lãng phí.
Gã sẽ đi tìm cô Helen Emerson kia để xem cô ta có biết điều không, vẻ quyến rũ được thời
gian tôi luyện của gã sẽ rất hữu dụng một khi gã chủ tâm dùng đến nó. Cho nên duy trì một
cuộc nói chuyện ngọt ngào khiến phụ nữ quên hết trách nhiệm quá đơn giản. Hay nói cách
khác, gã luôn có cách để cho cô ta một lời đề nghị không thể chối từ.
Ước sao gã chỉ việc quên đi Billy. Chỉ cần tận hưởng những ngày lưu lại Chicago với mưu cầu
lạc thú đặt lên hàng đầu, giống bao năm trước.
Nhưng giờ gã đâu còn như xưa. Thời gian đã làm thay đổi gã. Gã không thể chỉ biết hưởng
thụ một mình mà không b tâm đến Bill đang mắc kẹt trong tù. Nghĩ đến người vợ mang thai và
đang hoảng sợ của thằng nhóc. Gã phải làm gì đó, càng sớm càng tốt.
Địa chỉ trên phố Elm quen thuộc đến đáng lo ngại, sự quen thuộc gã không biết diễn tả ra
sao. Nó từng là một phần của khu đô thị phồn hoa tấp nập hơn nhiều so với những gì trong trí
nhớ của gã. Và rồi sau đó xuống dốc, trở thành khu ổ chuột, và dù có sống bằng đồng lương
viên chức eo hẹp đi chăng nữa, gã cũng không hình dung nổi một công tố viên lại đang sống ở
đây. Nhưng giờ gã nên quen với những bất ngờ, và cô Helen Emerson này sở hữu quyền sinh
sát với Billy Moretti. Cho nên đem so sánh với nhiều điều thiết yếu khác thì sống trên phố Elm
cũng có làm sao.
Gã yên tâm bắt taxi, bởi gã biết ví của gã vẫn đầy tiền. Đến khi chiếc xe dừng lại bên ngoài
dãy phố thì gã chồm người về phía trước. “Này, anh bạn”, gã nói với tài xế. “Giờ là năm bao
nhiêu?”
“Anh đang đùa đấy à?” Người lái xe ngoái lại nhìn chằm chằm hành khách của mình.
“Không đâu. Chỉ để kiểm tra thôi”.
“1993. Thế anh nghĩ là năm bao nhiêu?”
Raffety thoáng mỉm cười. “Nghe có vẻ phù hợp với tôi”. Gã boa cho tài xế, trèo xuống vỉa hè,
và ngước nhìn tòa nhà khi trí nhớ của gã dần tập trung: 1993. Vậy là James Sheridan Raffety đã
chết được sáu mươi tư năm.
***
Helen nghe thấy chuông cửa reo. Cô ngạc nhiên đập tay lên tường, rồi chửi thề, thật mừng
khi người bố Ai-Len theo đạo Thiên Chúa của cô không ở quanh đây. May thay các anh trai cô
cũng vậy. Mặc dù cả bố lẫn bốn ông anh trai của cô đều là cảnh sát và quá quen với ngôn từ bẩn
thỉu nhất của bọn cặn bã, họ vẫn không thích nghe bất cứ thứ gì báng bổ đại loại như “chết tiệt”
thoát ra từ miệng Helen bé nhỏ ngọt ngào của họ. Và Helen cũng tự hào rằng mình đã nói
những từ mang nhiều màu sắc biểu cảm hơn rất nhiều. Cô học được không ít trong ba năm làm
việc ở Văn phòng Công tố.
Kẻ trời ơi đất hỡi nào lại đi bấm chuông cửa nhà cô vào lúc sáu rưỡi sáng thế này? Với cơn
sợ hãi thoáng quét khắp người, cô lo có thể gặp phải tai họa nào đó, đến mức cô quên mất công
dụng truyền tin hiệu quả của chiếc điện thoại. Nếu tai họa có giáng xuống các thành viên nhà
Emerson đang sống rải rác khắp nơi thì cô đã được thông báo ngay lập tức rồi.
Cô nhấp nhanh một ngụm từ cốc cà phê thứ ba, giật mạnh khóa kéo cứng đầu trên chiếc váy
lửng và tập tễnh đi ra cửa với một chiếc giày cao gót xỏ ở chân, chiếc còn lại vẫn cầm trong tay.
Cô có ba sợi xích cửa và một then cài nằm nguyên vị trí, và cô hé mắt qua lỗ nhìn trên cửa. “Ai
đó?” Cô lo lắng hỏi.
Cô không thấy rõ anh ta, bởi chiếc lỗ nhìn trầy xước, bẩn thỉu và có tuổi lắm rồi: Anh ta cao,
tóc đen, và rất có thể là một tên giết người hàng loạt.
“Tên tôi là Rafferty. Cô là Emerson phải không?”
Cô không thích chút chế nhạo được nhấn mạnh trong từ “cô”. Cô không thích giọng nói của
anh ta, vừa thô ráp vừa mượt mà, với hơi hướm trọng âm từ eo biển phía đông. “Tôi là
Emerson”, cô thẳng thắn, giật chiếc giày trên chân xuống và không hề có ý định mở cửa. “Anh
muốn gì?”
“Tôi muốn nói chuyện với cô về Billy Moretti”.
Tuyệt, cô nghĩ, khi dựa người vào cánh cửa. Buổi sáng nát bét, ảm đạm này hoàn hảo rồi
đấy. “Tôi sẽ có mặt ở văn phòng lúc chín giờ”, cô vào luôn vấn đề. “Hãy gặp tôi ở đó”.
“Không thể”, giọng anh ta nặng nề vọng lại qua cánh cửa. “Tôi chỉ ở lại đây hai ngày và còn
rất nhiều việc cần giải quyết. Thế này đi, cô Emerson. Giờ chưa đến bảy giờ sáng, phải vài tiếng
nữa mới tới giờ làm việc của cô. Hãy để tôi mời cô bữa sáng, cô có thể nghe tôi trình bày rồi tôi
sẽ đi ngay”.
“Và nếu tôi nói không?” Cô giật mình kinh ngạc khi nghe những từ đó thoát ra. Ý cô là cái khỉ
gì thế này, nếu cô nói không ư? Đương nhiên cô sẽ từ chối. Cô không thể đi đâu với bạn của
người cô chuẩn bị khởi tố được.
“Vậy tôi sẽ ở lại đây đến khi cô đổi ý”. Anh ta nghe có vẻ rất
“Tôi chỉ cần một cú điện thoại là cảnh sát sẽ đến mời anh đi, anh Rafferty ạ. Tôi không muốn
bị quấy rầy”.
“Thưa quý cô”, anh ta kiên nhẫn, “tin tôi đi, tôi không hứng thú quấy rối cô. Tôi chỉ muốn
xem có thể giải quyết chuyện của Billy với cô không thôi”.
Cô thoáng nhận ra bản thân cũng đang cân nhắc. Vụ Moretti đã làm hao mòn tâm trí cô suốt
mấy ngày nay. Nếu cô có thể thỏa hiệp thì thứ Sáu ngày mười ba sẽ trở nên dễ chịu hơn rất
nhiều.
“Anh làm việc với Abramowitz phải không?”
“Đương nhiên rồi!”Giọng nói trả lời ngay lập tức.
Câu trả lời ra quyết định giúp cô. Nếu luật sư của Billy sốt sắng tìm nơi ở của cô và đến đây
ngay khi bình minh vừa ló dạng, thì đương nhiên cô có thể thảo luận vụ này với anh ta vào bữa
sáng rồi. Sau cùng, bọn họ đều là người trong nghề. Thật ngớ ngẩn khi quá đặt nặng hình thức.
“Đợi tôi một lát”, cô nói, đôi tay lóng ngóng với đám ổ khóa. Lúc cô mở cái khóa cuối cùng
và kéo then bảo vệ, cô bắt đầu hối tiếc khi vội vã chấp nhận lời đề nghị của anh ta, song cánh
cửa đã bật mở và tất cả trở nên quá muộn. Ít ra sợi dây xích vẫn còn nguyên khi cô ngó qua
khoảng cách hơn mười centimet để nhìn người đàn ông đang đợi ngoài hành lang.
Anh ta vẫn kiên nhẫn đứng đó, vẻ cực kỳ tĩnh lặng của anh ta khiến người đối diện có chút
hoảng sợ. Anh ta là một người đàn ông cao lớn, dáng người săn chắc, và bộ vest cùng chiếc áo
khoác ngoài của anh ta thật khó tả, như không bị tác động bởi thời gian. Tóc anh ta đen và
ngắn, được vuốt ngược ra sau từ đường chân tóc chữ V trên đôi mắt đen đầy thách thức. Cô
nhìn vào đôi mắt đó, vào sâu trong đôi mắt tĩnh mịch khó dò và cảm nhận cơn ớn lạnh chạy
khắp người. Cùng luồng hơi nóng bất chợt bùng lên.
“Anh không giống kiểu người Abramowitz thường thuê”, cô ngơ ngẩn thốt. Chắc chắn không
phải kiểu sẽ bảo vệ Billy Moretti trước toàn thế giới. Anh ta quá đẹp trai, với cái miệng rộng và
gợi cảm, gương mặt thon, gò má cao, cùng thái độ tự chủ, điềm đ
Rồi anh ta mỉm cười, nụ cười đáng lẽ sẽ khiến cô cảm thấy nhẹ nhõm. Đó là một nụ cười
quyến rũ, theo đúng nghĩa đen, với ý đồ khiến người phụ nữ cảnh giác nhất cũng bị mê hoặc.
Helen có thể cảm nhận được sự cuốn hút đột ngột cô đang phải vật lộn đấu tranh.
“Không thể đặt lòng tin vào vẻ ngoài”, anh ta nói, đôi mắt đen chạy dọc theo chiều dài khe
hở của cánh cửa đang mở. “Cô sẽ để tôi mời cô bữa sáng chứ?”
Cô nên sập cửa thẳng vào mặt anh ta. Cô có thể giao vụ Moretti cho Jenkins, như ông ta
muốn, nhưng Jenkins ác ôn không khác gì một con heo, luôn làm việc cứng nhắc, vô lối và chưa
một lần mảy may xem xét các tình huống bất khả kháng cho bị cáo.
Cô cứ thế nhìn chằm chằm người đàn ông tự nhận là Rafferty một lúc lâu rồi gật đầu quyết
định. Cô là một phụ nữ thông minh, cẩn thận. Nhưng cô cũng là người phụ nữ học được cách
lắng nghe bản năng của mình. Và bản năng mách bảo cô nên tin người đàn ông này.
Cô gạt sợi xích xuống rồi mở cửa. “Mời vào”, cô vừa nói vừa bước lui lại. “Tôi sẽ đi với anh
ngay thôi”.
Mãi cho đến khi băng qua nửa gian phòng để thu dọn giấy tờ vào cặp tài liệu, cô mới nhận ra
hành vi của cô khác lạ đến chừng nào. Cô không thích để người khác, đặc biệt là đồng nghiệp,
vào căn hộ của cô. Bởi cô đã quen sống vô tổ chức và luộm thuộm. Lý do khác, những ai tham
vọng không bao giờ đánh giá cao khuynh hướng trang trí hệt thập niên hai mươi của cô. Cô liếc
ra sau nhìn Rafferty, cố gắng giấu đi vẻ bồn chồn, rồi chợt sững lại.
Anh ta đứng giữa căn hộ của cô, một người lạ tóc đen cao lớn, người đáng lẽ phải là một kẻ
xâm nhập bất hợp pháp, đang tròn mắt ngạc nhiên nhìn xung quanh, như thể nhận biết các thứ
trong phòng.
“Anh từng đến căn hộ này rồi sao?” Cô buột miệng.
Đôi mắt đen của anh ta chạm phải cô, và anh ta mỉm cười, nụ cười thoạt nhìn có vẻ đơn
giản. “Không”, anh ta đáp.
Cô không tin. Rồi cô bật cười lớn trước sự vô lý của bản thân. “Đương nhiên nhỉ”. Cô nói.
“Trong suốt sáu mươi năm, tòa nhà này thuộc về một cụ bà lạ lùng cùng đám mèo của bà ấy”.
“Rồi bà ấy làm sao?”
“Cụ bà đó hả?” Helen nói, kéo chiếc áo khoác xuống. “Bà ấy qua đời, tôi e là thế. Bà ấy khá
tiếng tăm - người ta đồn bà ấy là nhân tình của một tay đàn anh từ thời AI Capone [2]. Điều ấy
thì tôi tin”.
[2] Hay Alphonse Gabriel “Al” Capone (17/01/1989 - 25/01/2947) là tên trùm xã hội đen khét
tiếng ở Mỹ.
“Cô quen bà ta?”
Helen nhún vai. “Tôi gặp bà ấy vì công việc. Bà ấy bị cướp. Tôi là luật sư khởi tố kẻ nhẫn tâm
đánh quỵ bà ấy. Sau đó bà quyết định nhận tôi làm con nuôi”. Cô mỉm cười hồi tưởng. “Bà là
một phụ nữ tuyệt vời”.
“Tên bà ấy là gì?”
“Tên của bà? Anh chắc sẽ không biết đâu - tôi không nghĩ suốt ba thập kỷ bà từng đi đâu
ngoài con đường này trước khi vào bệnh viện”.
“Nếu quả thật bà ta từng cặp với đám găngxtơ thì rất có thể tôi đã nghe nói về bà ấy. Tôi
luôn hứng thú với thời xã hội đen hoành hành ở Chicago”.
“Anh và cả nửa thành phố”, Helen nói. “Tên bà là Jane Maxwell”.
“Chưa nghe bao giờ!”
“Tôi nghĩ nghệ danh của bà là Crystal Latour. Khó mà tưởng tượng nổi ai gọi cụ bà ấy là
Crystal, nhưng bà đã kể thế với tôi”.
“Crystal Latour”, giọng Rafferty khác lạ. “Phải, thật khó mà tin nổi”.
Cô vơ cặp tài liệu rồi hướng về phía cửa, lờ đi cốc cà phê, đống báo chí bừasofa cũ và nửa
chiếc bánh vòng trên bàn ăn sứt sẹo. “Anh sẵn sàng chưa?”
Anh ta như vừa sực tỉnh khỏi cõi mê nào đấy. “Hẳn rồi. Tôi chỉ đang thắc mắc sao cô lại định
cư ở đây?”
Cô phải thừa nhận anh ta rất nhạy bén. Chỉ trong vài phút anh ta đã mài ra mặt bất tiện nhất
của tòa nhà đẹp đẽ nhưng cũ kỹ này. Cô ghét gặp phải người đàn ông nào có loại bản năng chỉ
chuyên xuất hiện trong phiên tòa như thế. “Bà ấy để nó lại cho tôi, thưa anh Rafferty. Toàn bộ
tòa nhà”.
“Vậy sao, hiện thời hả? Chắc việc khởi tố tên cướp kia phải thành công mỹ mãn lắm”.
Cô dừng lại nơi ngưỡng cửa, thờ ơ nhìn anh ta. “Hệt như với người khác thôi, anh Rafferty ạ.
Tôi khởi tố tội phạm”.
“Trừng phạt kẻ xấu”, anh ta giễu cợt. “Khiến chúng trả giá trước toàn xã hội”.
“Tôi thường không dính vào chuyện báo thù, dù đôi khi tôi cũng phải thừa nhận từng có ý
nghĩ ấy. Nhưng tôi quan tâm đến việc giữ an toàn cho các cụ bà nhỏ bé như Crystal hơn”.
Anh ta cười nhăn nhó, nhưng nụ cười đó không hề chạm đến đôi mắt đen tĩnh mịch của anh
ta. “Và tôi dám chắc công việc của cô rất kinh khủng”. Anh ta liếc quanh căn phòng lớn lộn xộn,
và phải mất một lúc cô mới kiểm soát được cơn bực tức của bản thân. Đâu phải lỗi của cô khi
Crystal để lại cho cô tòa nhà. Và nó cũng đâu phải khoản thừa kế đáng giá - nơi này đang xuống
cấp nghiêm trọng và ít nhất ba nhà thầu xây dựng đã bảo cô tốt hơn hết nên dỡ bỏ và xây mới
hoàn toàn.
Song cô không thể làm thế. Cô yêu mọi đường nét của tòa nhà, vẻ thanh nhã mang hơi thở
của quá khứ và cả những gì bị vùi dưới các bức tường bao và lớp lót sàn. Bất cứ khi nào có khả
năng, cô đều bắt tay tu bổ từng phần một của tòa nhà, khởi đầu với căn hộ ở tầng một của
chính cô, sau đó sẽ sửa sang và cho thuê các tầng phía trên. Với cô thì nghe rất thực tế và đầy
triển vọng. Nhưng các anh trai cô lại bảo cô đang mơ mộng.
“Tôi nghĩ anh đến để thương lượng vụ của Moretti, chứ không phải về chuyện trang trí nhà
tôi”, giọng cô vờ lãnh đạm.
“Phải rồi. Cô biết chỗ nào lý tưởng để ăn không?”
“Xa lắm. Sao chúng ta không ăn ở gần văn phòng của tôi? Như thế một khi đôi bên đi đến
thống nhất, mọi việc sẽ giải quyết dễ dàng hơn. Đi xe của tôi nhé?”
“Vâng, thưa quý cô”, anh ta nói.
Cô ném thêm cho anh ta một cái nhìn ngờ vực, anh ta không phải đang chế nhạo cô đấy chứ?
Anh ta khiến cảm xúc của cô biến hóa thật lạ lùng, đạo mạo, chỉn chu hệt một bà giáo già. Càng
ở lâu với anh ta, cô càng muốn giật vạt váy xuống rồi quấn thật chặt chiếc áo choàng quanh
người. Anh ta khiến cô bứt rứt không yên.
“Vậy đi thôi”, cô tươi tắn nói. “Tôi còn cả đống việc đang chờ”. Cô đứng đợi ngay cạnh cửa,
châm chọc nhường anh ta đi trước.
“Chỗ ở của cô đẹp lắm!” Anh ta khen với giọng điệu trêu ngươi. Anh ta ngừng lại nơi khung
cửa để nhìn cô, với khoảng cách quá gần. Cô ngước lên, và nhận ra đôi mắt anh ta không thẫm
đen như cô nghĩ lúc đầu. Một màu nâu sâu thẳm, được thắp lên với những chấm vàng nhỏ bé,
sưởi ấm cả một chiều sâu băng giá. Chúng là đôi mắt khiến ai đó sa vào, đôi mắt có thể thôi
miên và bỏ bùa người đối diện. Đôi mắt đầy cám dỗ.
Sau đó anh ta băng qua cô, không chạm vào cô, đi thẳng xuống những bậc thang thấp dẫn ra
cửa trước. Cô nhìn theo, trong giây lát như bị xúi giục lao trở vào nhà và đóng sập cánh cửa sau
lưng lại. Anh ta khiến cô bồn chồn theo cái cách cô thậm chí còn không thể bắt đầu cắt nghĩa.
Nhưng hễ cứ gặp bóng tối là lao đầu bỏ chạy thì chẳng mấy chốc cuộc đời cô sẽ nhanh chóng
sụp đổ tan hoang. Cô nhìn lướt một vòng căn hộ, hình dung xem anh ta đã nhìn nó thế nào. Rồi
cô đóng cửa, theo sau Rafferty ra ngoài giá lạnh phủ đầy buổi sớm mai.
***
Crystal Latour, Rafferty nghĩ khi lách người qua Helen Emerson để đi vào một quán ăn nhỏ.
Họ đến trung tâm thành phố bằng một chiếc xe bé tẹo của Nhật, chỉ nửa cỡ con Packard [3] gã
từng lái, khiến đôi chân dài đáng thương của gã phải co cứng lại. Bất tiện là thế nhưng cũng
không thể làm gã nhãng ra khỏi những ký ức nhiễu loạn về Crystal Latour.
[3] Loại xe cỡ lớn, được lắp đặt bằng tay lưu hành những năm 30 của thế kỷ XX, có sự tinh xảo
và xa hoa vượt xa những xe hạng sang bây giờ.
Thôi được, gã đã từng đến số 1322 phố Elm. Duy nhất một lần, vào ngày 13 tháng 2 năm
1929. Gã đã qua đêm trên giường của Crystal Latour, và sáng hôm sau gã chết.
Gã liếc nhìn người phụ nữ ngồi bên. Thôi được, cô ta cũng là một bất ngờ. Gã đã dần quen
với những người phụ nữ hiện đại, với vẻ đẹp lạnh lùng, tự tin cùng sự độc lập và khó lấn lướt
của họ. Cho nên trong mắt gã người phụ nữ nhát gan lái chiếc xe nhỏ xíu này thật cổ lỗ sĩ.
Cô ta còn xa mới là kiểu người khó lấn lướt. Tất cả những gì người đối diện phải làm là nhìn
vào đôi mắt nâu to tròn và sẽ dễ dàng nhìn thấu tâm trí cô ta. Tóc cô ta dài, với màu nâu ánh
đỏ tráng lệ, chiếc miệng rộng và đầy đặn. Một chiếc miệng tuyệt hảo để hôn.
Nhưng không phải gã muốn hôn cô ta. Cô ta hơi quá gầy so với sở thích của gã, đã thế còn ăn
mặc hệt một thằng đàn ông. Cô ta hẳn thuộc nhóm người trợn mắt hô hào đòi bình đẳng giới,
không son phấn và đeo đôi kính gọng kim loại hệt cái thứ xuất hiện trên mặt một tên kế toán.
Cô ta rõ ràng chỉ ngủ với đàn bà.
Ngoại trừ gã không nghĩ thế. Đương nhiên không phải gã đang tưởng tượng lực hút kỳ lạ
giữa hai người là phản ứng hai chiều chết tiệt giữa nam với nữ. Gã không muốn dính líu đến cái
cô Helen Emerson này. Trong bốn mươi tám giờ ở lại đây, gã không có thời gian vướng vào ai
đó giống cô ta.
Gã cần người nào hào hứng và dễ dãi, người nào sẽ ngả lưng xuống giường cùng gã, cười vui
vẻ với gã và cho gã cảm giác thoải mái cùng giải thoát. Gã không muốn gắn bó, đi đôi với phức
tạp hay tình bạn, và với một người đàn bà giống Helen Emerson, bắt buộc phải chuẩn bị ba
điều kể trên trước cả khi chạm được vào ngực cô ta. Mà rõ ràng cô ta có đáng chạm vào tí nào
đâu.
Nhưng mẹ kiếp, gã muốn khám phá xem có đúng thế không.
“Anh làm việc cho Abramowitz lâu chưa?” Cô hỏi, nhìn gã chê trách khi gã châm một điếu
thuốc lá.
“Không lâu lắm”, gã đáp, thắc mắc Abramowitz là thằng trời đánh nào.
“Anh trông không giống luật sư”, cô nói.
“Cô cũng thế”, gã trả lời với vẻ ít quyến rũ hơn lúc thường. Gã không muốn quyến rũ cô ta.
Bởi vài lý do phi lý, gã không muốn nói dối cô ta nhiều hơn những gì bắt buộc và cần thiết.
Hồi đáp của gã là một sai lầm. Cô mỉm cười trước lời nói kháy, đôi mắt cô nhăn nhăn và
chiếc miệng rộng khẽ cong lên. “Tôi luôn làm hết khả năng”, cô nói. “Vậy chúng ta sẽ làm gì với
Billy Moretti? Cậu ta đang bị xem xét mức phạt cao nhất - chắc chắn phải bị giam từ tám đến
mười năm trong nhà tù Joliet, và tôi hoàn toàn có thể lấy được phán quyết có tội”.
Gã gọi món khi cô hầu bàn tốt bụng rót cho gã tách cà phê đầu tiên trong năm và dựa lưng
vào...
Anne Stuart
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
TABLE OF CONTENTS
Giới thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Giới thiệu
Valentine đối với người này có thể là hoa tươi và sô-cô-la, hạnh phúc và đầy tiếng cười,
nhưng Valentine với một ai đó cũng chỉ là một ngày như bao ngày khác, họ tiếp tục chờ đợi
một tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Nhưng, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều đã nghe
rằng, “Tình yêu là một quá trình và chỉ đến với những ai có đủ kiên nhẫn”. Và vì thế, những tâm
hồn cô đơn hãy cứ tiếp tục đi rồi sẽ gặp, cho dù năm tháng chờ đợi có dài bao lâu cũng sẽ được
đền bù xứng đáng. Lại một mùa Valentine nữa sắp đến, nhưng dù là người đã may mắn tìm
được một nửa của mình hay còn đang mải miết đi tìm tình yêu đích thực, có một câu chuyện
của Anne Stuart mà các bạn không nên bỏ qua. Đó là 64 mùa Valentine đợi em - một cuốn
tiểu thuyết nóng bỏng và hấp dẫn, hài hước và kịch tính, hứa hẹn sẽ lôi cuốn người đọc ngay từ
những trang đầu tiên. Quả thật, ấm áp biết bao khi chúng ta được tận hưởng những cung bậc
tình cảm của hai nhân vật James và Helen trong truyện, cùng họ trải qua những cung bậc trong
tình yêu với mọi sắc thái, trại huống thực tế, và biết đâu sau khi gấp cuốn sách lại, cánh cửa
tình yêu mà mỗi người đang tìm kiếm cũng bắt đầu mở ra...
Tóm tắt nội dung
14/2 hàng năm - ngày tuyệt vời cho mọi người bày tỏ, sẻ chia tình cảm của mình với những
người thân yêu nhất. Thế nhưng, có một kẻ không háo hức trông chờ, thậm chí còn ghét ngày
này nữa. Tại sao ư? Vì gã là James Sheridan Rafferty và đã chết trong vụ thảm sát ngày
14/2/1929 tại Chicago.
Chết rồi thì sao? Thì mong được chết cho an lành, vậy mà không hiểu sao, gã lại thấy mình
sống lại vào ngày 13/2 và biến mất đi đâu đó mà gã cũng chẳng biết vào nửa đêm ngày 14/2
hàng năm. 48 giờ chả mấy vui vẻ. Đơn giản vì mấy người bạn cùng chết với gã cũng xuất hiện
cùng thời gian đều tìm được nửa kia đích thực và có cuộc sống gia đình vô cùng hạnh phúc, có
thể gọi là những tên găng-xtơ hoàn lương. Dĩ nhiên bọn họ thật sự sống lại, chỉ còn mỗi mình
gã lẻ loi, đơn chiếc từ năm này qua năm khác suốt 64 năm.
Cho đến năm nay, gã xuất hiện trở lại với sứ mệnh giúp đỡ cậu nhóc đồng bạn đang gặp rắc
rối với pháp luật. Một cuộc gặp gỡ không mong chờ giữa một tay găng-xtơ và một công tố viên
xuất thân từ một gia đình cảnh sát nhà nòi. Đúng là oan gia ngõ hẹp.
Helen Emerson thức dậy vào một buổi sáng tháng 2 lạnh mướt. Nếu là ngày khác thì có lẽ
chẳng sao cả, nhưng hôm ấy lại là thứ Sáu ngày 13, thiệt vô cùng tồi tệ, y như những năm trước.
6h30 sáng, kẻ nào lại bấm chuông cửa nhà cô? Đó là một anh chàng điển trai nhưng trông đầy
vẻ đen tối, đại diện cho bị cáo của cô. Nhưng điều gì xui khiến cô để cô đồng ý đi ăn sáng với
anh chàng đó, gặp gỡ anh ta và có những cảm xúc rộn ràng? Cô không biết, không hiểu nổi.
48 giờ quay lại thế giới thực ấy, James đã khám phá ra rất rất nhiều điều mà gã chưa từng cảm
nhận trước đây. Liệu Helen có phải là định mệnh của gã trong mùa Valentine thứ 65 này
không? Liệu gã có thoát khỏi cái vòng tròn lẩn quẩn xuất hiện - biến mất - xuất hiện… đến
nhàm chán này không? Có những sự trùng hợp vô tình đến lạ kỳ, và chuyện gì cũng có lý do của
nó mà có khi không ai hiểu nổi tại sao, chắc chỉ có bàn tay vô hình sắp đặt những điều ấy mới
biết rõ mà thôi...
Không nhất thiết khi nói đến tình cảm thì người viết sẽ phải dùng đến một ngòi bút ướt át
và ủy mị, cũng không cần đến những khung cảnh được miêu tả đẹp như mơ bởi đời thực luôn
khiến độc giả rung động một cách sâu sắc nhất. Chính vì thế mà người đọc đã được gặp cặp đôi
James Sheridan Rafferty - Helen Emerson trong 64 mùa Valentine đợi em, sự kết hợp giữa
một tội phạm khét tiếng vô tâm và một nữ công tố nổi tiếng nghiêm minh. Sẽ là một tình yêu
bi kịch nếu như anh không được phép trở lại trần gian mỗi năm hai ngày ngắn ngủi trong lễ
Tình yêu...
Thông tin tác giả
Tác giả Anne Stuart (sinh ngày 02 tháng 05 năm 1948) tên đầy đủ: Anne Kristine Stuart, là
một tiểu thuyết gia lãng mạn nổi tiếng của văn học Mỹ, là một bậc thầy lớn trong giới văn học,
đã sống và làm việc hơn 35 năm trong ngành xuất bản. S các tác phẩm của Anne Stuart đã lên
đến con số 100 và vì những đóng góp không ngừng nghỉ của mình, bà đã vinh dự nhận được
giải thưởng thành tựu trọn đời từ Hội nhà văn lãng mạn Hoa Kỳ. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của
Anne được phát hành vào năm 1974 và kể từ đó trở đi, các tác phẩm được giới thiệu đến công
chúng của bà luôn nhận được sự yêu mến đặc biệt và mang về cho Anne nhiều giải thưởng văn
học danh giá như RITA, ARR... Một số tác phẩm tiêu biểu của Anne Stuart: Hắc băng, Thiên thần
sám hối, 64 mùa Valentine đợi em...
Gửi đến Julie Kistler, người đã hỗ trợ tôi về mặt pháp lý cũng như cố vấn về khu vực Chicago.
Bất cứ nhầm lẫn nào ở đây đều là lỗi của cô ấy. Yêu cậu, Julie.
Cuốn tiểu thuyết này dựa trên những sự kiện có thật xảy ra vào sáng ngày 14 tháng 2 năm
1929, tại một gara cũ ở Chicago. Tên tuổi cùng thân thế của các nạn nhân đã được thay đổi;
những chi tiết liên quan đến vụ thảm sát về cơ bản đều được giữ nguyên.
Chương 1
Helen Emerson bật dậy trên giường và thét. Tiếng thét của cô bị không khí nuốt chửng
trước khi cô kịp đưa tay bịt miệng để ngăn lại âm thanh kinh hoàng. Một lát sau, cô mò mẫm
bật chiếc đèn cạnh giường, xua những bóng ma trở vào nơi cư ngụ trong bóng tối. Cô rụt tay lại
và nhận ra chúng đang run rẩy.
Thõng chân xuống giường, cô khẽ lắc đầu. Năm rưỡi sáng, và cô không thể nhớ nổi giấc mơ.
Không thể nhớ nổi cơn ác mộng ghê rợn xé toạc cô khỏi giấc ngủ yên bình, và cô cũng không
chắc mình có muốn nhớ lại không. Vài ấn tượng còn rơi rớt lại sâu trong tâm trí cô. Một âm
thanh ầm ầm nào đó, loại âm thanh rất khó định hình. Và tiếng chó sủa.
Cô lắc đầu, lùa bàn tay vào mái tóc nâu ngang vai. Ít nhất trong mắt mọi người cô là một phụ
nữ thực tế - điều cô luôn tự hào, nên cơn ác mộng vừa qua đơn giản chỉ là một cơn ác mộng mà
thôi.
Nhưng đây không phải cơn ác mộng đầu tiên. Rất khó xác định chúng là cùng một giấc mơ
liên tục ám ảnh cô hết lần này đến lần khác, bởi lần nào cũng vậy, một khi tỉnh giấc cô không
nhớ gì về chúng. Nhưng có một thứ bất biến, âm thanh như sấm rền, như hàng nghìn tiếng
trống không bao giờ thay đổi. Và tiếng tru hoảng loạn của một con chó.
Cố buộc bản thân rời khỏi giường, cô kéo mạnh chiếc áo phông ngoại cỡ xuống và bần thần
đi vào bếp. Cô bật máy pha cà phê, rồi lơ đễnh xem cuốn lịch. Thứ Sáu ngày mười ba. Chẳng
trách sao cô lại gặp ác mộng.
Helen nhìn chăm chăm ra ánh ban mai bên ngoài. Tháng Hai hẳn là tháng lạnh giá nhất, đặc
biệt ở một thành phố như Chicago. Ngọn gió quất mạnh lên mặt hồ, tê cóng đến tận xương, và
cả thế giới cứ như phủ một màu xám xịt và hoang vắng. Một tháng nữa thôi hoa sẽ nở khắp cả
nửa khu vực quanh đây. Còn giây phút này, ngay cả bóng ma ngớ ngẩn của ngày Valentine cũng
không thể xua đi muộn phiền trong trái tim Helen.
Cô không chờ nổi cho đến khi cà phê được pha xong. Cô rót một tách rồi thơ thẩn trở ra
phòng khách. Cô yêu tòa nhà cũ này, nhất là căn hộ cô đang ở. Sau nhiều thập kỷ suy thoái, số
1322 phố Elm nằm ở phần cuối trong quá trình tái thiết thành phố, và Helen đã cố hết sức để
đưa vẻ cổ kính trở lại nơi đây như lúc đầu. Tòa nhà từng là một trong những khu nhà thanh lịch
nhất Chicago, nhưng hàng năm trời bị bỏ bê đã cướp đi hầu hết vẻ đẹp của nó. Rồi nó bị bỏ
hoang, cứ nằm đó chờ người đủ tiền và sức lực đến cứu rỗi.
Với đồng lương của một trợ lý công tố, Helen rất khó kiếm đủ tiền, nhưng cô có thừa sức lực.
Cô không có người đàn ông nào làm cô phân tâm, không có người ngày mai sẽ mang cho cô
những lời chúc cùng sôcôl thậm chí không có người để cô gửi thiệp. Và cô lại có thể phung phí
tình yêu của mình cho tòa nhà cũ kỹ, như mọi khi.
Không, khỉ thật. Các anh trai của cô chắc chắn sẽ gửi thiệp chúc mừng. Họ luôn bỏ qua mục
đích nguyên bản của dịp lễ. Nghĩ đến đây, cô cũng đã chuyển lời chúc đến bảy đứa cháu trai và
cháu gái của cô rồi. Có lẽ cô chỉ cần quên tên gọi của ngày mười bốn tháng Hai và tập trung vào
món sôcôla thôi.
Ít nhất năm nay nó cũng rơi vào thứ Bảy. Thế nên cô sẽ không phải đối phó với tất thảy hớn
hở gượng gạo, những lời bình luận bâng quơ và những trò chơi nho nhỏ ở chỗ làm. Hơn nữa
công việc hiện tại cũng không khiến cô cảm thấy vui vẻ. Nếu hàng ngày đều phải đối mặt với
đủ loại tội phạm thì ai phấn khởi nổi đây?!
Cô uống thêm một ngụm lớn cà phê, thầm nghĩ cách trốn việc ngày hôm nay. Có thể báo ốm
hoặc viện cớ sức khỏe suy nhược. Thời gian này tất cả mọi người đều cần một ngày dành cho
tinh thần khỏe mạnh [1] - chắc chắn thứ Sáu ngày Mười ba sẽ hội tụ đủ tiêu chuẩn cho cô xin
nghỉ. Rồi cô sẽ có thêm hai ngày để ra quyết định cuối cùng về Billy Moretti.
[1] Metal helth: khả năng bộ máy tâm lý hoạt động hợp lý, hiệu quả, hay trạng thái tinh thần
hoàn toàn thoải mái.
Nhưng cô là một phụ nữ có trách nhiệm, và hai ngày cũng đâu làm nên khác biệt. Cô là một
công tố viên, mặc dù chỉ mới ở cấp khởi đầu, còn Billy Moretti là người phạm tội. Nhiệm vụ của
cô là đảm bảo hình phạt dành cho cậu ta. Ngay cả khi việc ấy cho cô cảm giác mình đang đá
một chú cún con không nơi nương tựa.
Cô bước quanh nhà, mặc kệ hóa đơn tiền điện tăng cao để bật sáng tất cả các bóng đèn. Đây
sẽ là một ngày lạnh lẽo đầy gió, ảm đạm, muộn phiền, và cô cần gom hết mọi ánh sáng trong
tầm tay. Có lẽ cô nên đi làm sớm, đối mặt với vụ Moretti cùng vô vàn khó chịu khác rồi chuồn
sớm vào đầu giờ chiều. Tự thết đãi bản thân bằng một bữa trưa muộn, tao nhã, hay thậm chí
còn có thể đi mua sắm nữa. Chẳng phải “khi cảm thấy chán nản, hãy tìm niềm vui trong mua
sắm” sao? Chắc chắn sẽ có thứ gì đó để cô tiêu tốn tiền bạc. Dù chẳng có việc gì để làm đến
mức phải lôi các bộ phim cổ lỗ sĩ ra xem lại thì cô cũng quyết tâm tan làm sớm.
Cô uống nốt cà phê, rùng mình trong bầu không khí lành lạnh, rồi đi về phía phòng tắm. Đắm
mình trong vòi nước nóng thật lâu sẽ gạn rửa đầu óc, đánh thức cô dậy và cho cô thêm dũng
khí đối mặt với một ngày mới. Nhưng khi cô đứng dưới dòng nước như trút, cô nghĩ mình vừa
nghe thấy tiếng thình thình như sấm vọng lại từ xa. Và tiếng tru thê lương của một con chó.
***
James Sheridan Rafferty dựa vào tòa nhà xây từ gạch cũ và nhắm mắt. Gã nhớ lần đầu tiên
quay trở lại đây, và nỗi sợ hãi xâm chiếm gã. Gã nhớ lần trở về tìm cái gara tan hoang, đổ nát ở
chốn cũ.
Chết tiệt, gã lạnh. Hai bàn chân gã đang đóng băng, gió thì quất liên hồi vào chiếc áo khoác
cũ kỹ mà đến một đôi găng tay gã cũng chẳng có. Gã xọc tay vào túi, run rẩy, và mê mải trong
những cảm giác rất tự nhiên. Gã đói. Gã lạnh. Gã chai như đá.
Gã mở mắt, lôi mảnh giấy nhàu nhò ra khỏi túi, đây là thứ Mary Moretti với đôi mắt mở to
và van lơn đã đưa cho gã. Quay lại Chicago chỉ trong vài giờ và cuộc nán lại ngắn hạn của gã
đang có nguy cơ bị mang ra trưng dụng.
Gã không nên thấy hối tiếc. Gã luôn quý Billy Moretti. Trong số tất cả bọn chúng, Billy là đứa
không đáng hứng chịu số phận bi thảm đó nhất. Cậu ta chỉ là một thằng nhóc, và so với đám
cùng lứa là một đứa rất được. Đủ trẻ để mắc sai lầm. Đủ lớn để đúc rút bài học từ sai lầm, và
bước tiếp. Nếu có cơ hội thứ hai.
Mary đang sợ hãi, điều cũng không đáng ngạc nhiên. Con bé mới mười chín tuổi, bụng mang
dạ chửa và chồng thì đang có nguy cơ lĩnh án phạt tối đa ở nhà tù Joliet. Người duy nhất con bé
có thể trông cậy là James Sheridan Raffety, kẻ khiến con bé sợ chết khiếp. Gã không thể trách
con bé. Gã khiến rất nhiều người phát hoảng, một sự thật hiếm khi gã bận tâm. Là do cái gì đó
ở vẻ im lìm của gã. Cái gì đó ở đôi mắt gã. Cái gì đó ở thân phận gã, điều bất cứ ai cũng hoài
nghi nhưng không bao giờ thấu hiểu cặn kẽ. Từ đó có phản ứng sợ gã là đương nhiên.
Giống cách Mary Moretti phản ứng với gã. Nhưng sẽ không đáng bận tâm một khi Billy yêu
dấu của con bé đang gặp nguy hiểm. Vì an nguy của Billy con bé sẵn sàng đối mặt với ác quỷ
nếu cần. Qua nỗi sợ hãi hiện rõ trong đôi mắt đen, gã thừa biết con bé đang cho rằng gã là ứng
viên trời định cho công việc của quỷ Sa T
Làm sao gã có thể từ chối đây? Nhưng nếu gã chỉ có bốn mươi tám giờ ở Chicago thì sao?
Bốn mươi tám giờ để nhồi nhét toàn bộ cả một năm cuộc đời gã? Gã đang dần học cách sống có
trách nhiệm, dù việc này ngốn đến hàng thập kỷ. Gã đang dần học được cách quan tâm đến
người khác. Còn Billy lúc nào cũng ủng hộ gã, bất cứ lúc nào. Ngoài giúp đỡ thằng nhóc, gã
không còn lựa chọn nào khác.
Gã liếc xuống mảnh giấy được Mary viết ngoáy. Helen Emerson. Trợ lý công tố bang.
Gã lắc đầu. Gã có thể sẽ không bao giờ giải quyết trót lọt chuyện này. Một nữ công tố. Chết
tiệt, có khi cô ta có cả một thư ký nam cũng nên. Cái thế giới này càng lúc càng trở nên gàn dở.
Gã rút một điếu thuốc từ vỏ bao nhăn nhúm trong túi áo khoác và châm lửa, khum hai tay
che que diêm gỗ khỏi ngọn gió. Điếu thuốc lá đầu tiên trong một năm, và có vị tuyệt vời. Thêm
một rắc rối khác - càng ngày càng ít người hút thuốc lá. Cho nên gã khó kiếm nổi một chỗ châm
thuốc mà không bị ai đó trợn mắt, rồi diễn thuyết cả một tràng về tình trạng hai lá phổi của gã.
Gã thường xuyên lịch sự và lạnh lùng lắng nghe làm nhiệt huyết của chiến binh thập tự chinh
kia teo tóp, rồi hoàn toàn mất nhuệ khí trước sự tĩnh lặng toát ra từ gã.
Chắc chắn nếu không xem trước có thể làm gì cho Billy, đảm bảo các kế hoạch trong bốn
mươi tám giờ tới của gã cũng không thể nhanh chóng bắt đầu. Giờ là sáu giờ sáng - cô
Emerson đương nhiên sẽ không đi làm cho đến chín giờ. Còn lâu gã mới chịu ở yên một chỗ
chờ đợi. Quẳng ba giờ vào nhà vệ sinh thì quá lãng phí.
Gã sẽ đi tìm cô Helen Emerson kia để xem cô ta có biết điều không, vẻ quyến rũ được thời
gian tôi luyện của gã sẽ rất hữu dụng một khi gã chủ tâm dùng đến nó. Cho nên duy trì một
cuộc nói chuyện ngọt ngào khiến phụ nữ quên hết trách nhiệm quá đơn giản. Hay nói cách
khác, gã luôn có cách để cho cô ta một lời đề nghị không thể chối từ.
Ước sao gã chỉ việc quên đi Billy. Chỉ cần tận hưởng những ngày lưu lại Chicago với mưu cầu
lạc thú đặt lên hàng đầu, giống bao năm trước.
Nhưng giờ gã đâu còn như xưa. Thời gian đã làm thay đổi gã. Gã không thể chỉ biết hưởng
thụ một mình mà không b tâm đến Bill đang mắc kẹt trong tù. Nghĩ đến người vợ mang thai và
đang hoảng sợ của thằng nhóc. Gã phải làm gì đó, càng sớm càng tốt.
Địa chỉ trên phố Elm quen thuộc đến đáng lo ngại, sự quen thuộc gã không biết diễn tả ra
sao. Nó từng là một phần của khu đô thị phồn hoa tấp nập hơn nhiều so với những gì trong trí
nhớ của gã. Và rồi sau đó xuống dốc, trở thành khu ổ chuột, và dù có sống bằng đồng lương
viên chức eo hẹp đi chăng nữa, gã cũng không hình dung nổi một công tố viên lại đang sống ở
đây. Nhưng giờ gã nên quen với những bất ngờ, và cô Helen Emerson này sở hữu quyền sinh
sát với Billy Moretti. Cho nên đem so sánh với nhiều điều thiết yếu khác thì sống trên phố Elm
cũng có làm sao.
Gã yên tâm bắt taxi, bởi gã biết ví của gã vẫn đầy tiền. Đến khi chiếc xe dừng lại bên ngoài
dãy phố thì gã chồm người về phía trước. “Này, anh bạn”, gã nói với tài xế. “Giờ là năm bao
nhiêu?”
“Anh đang đùa đấy à?” Người lái xe ngoái lại nhìn chằm chằm hành khách của mình.
“Không đâu. Chỉ để kiểm tra thôi”.
“1993. Thế anh nghĩ là năm bao nhiêu?”
Raffety thoáng mỉm cười. “Nghe có vẻ phù hợp với tôi”. Gã boa cho tài xế, trèo xuống vỉa hè,
và ngước nhìn tòa nhà khi trí nhớ của gã dần tập trung: 1993. Vậy là James Sheridan Raffety đã
chết được sáu mươi tư năm.
***
Helen nghe thấy chuông cửa reo. Cô ngạc nhiên đập tay lên tường, rồi chửi thề, thật mừng
khi người bố Ai-Len theo đạo Thiên Chúa của cô không ở quanh đây. May thay các anh trai cô
cũng vậy. Mặc dù cả bố lẫn bốn ông anh trai của cô đều là cảnh sát và quá quen với ngôn từ bẩn
thỉu nhất của bọn cặn bã, họ vẫn không thích nghe bất cứ thứ gì báng bổ đại loại như “chết tiệt”
thoát ra từ miệng Helen bé nhỏ ngọt ngào của họ. Và Helen cũng tự hào rằng mình đã nói
những từ mang nhiều màu sắc biểu cảm hơn rất nhiều. Cô học được không ít trong ba năm làm
việc ở Văn phòng Công tố.
Kẻ trời ơi đất hỡi nào lại đi bấm chuông cửa nhà cô vào lúc sáu rưỡi sáng thế này? Với cơn
sợ hãi thoáng quét khắp người, cô lo có thể gặp phải tai họa nào đó, đến mức cô quên mất công
dụng truyền tin hiệu quả của chiếc điện thoại. Nếu tai họa có giáng xuống các thành viên nhà
Emerson đang sống rải rác khắp nơi thì cô đã được thông báo ngay lập tức rồi.
Cô nhấp nhanh một ngụm từ cốc cà phê thứ ba, giật mạnh khóa kéo cứng đầu trên chiếc váy
lửng và tập tễnh đi ra cửa với một chiếc giày cao gót xỏ ở chân, chiếc còn lại vẫn cầm trong tay.
Cô có ba sợi xích cửa và một then cài nằm nguyên vị trí, và cô hé mắt qua lỗ nhìn trên cửa. “Ai
đó?” Cô lo lắng hỏi.
Cô không thấy rõ anh ta, bởi chiếc lỗ nhìn trầy xước, bẩn thỉu và có tuổi lắm rồi: Anh ta cao,
tóc đen, và rất có thể là một tên giết người hàng loạt.
“Tên tôi là Rafferty. Cô là Emerson phải không?”
Cô không thích chút chế nhạo được nhấn mạnh trong từ “cô”. Cô không thích giọng nói của
anh ta, vừa thô ráp vừa mượt mà, với hơi hướm trọng âm từ eo biển phía đông. “Tôi là
Emerson”, cô thẳng thắn, giật chiếc giày trên chân xuống và không hề có ý định mở cửa. “Anh
muốn gì?”
“Tôi muốn nói chuyện với cô về Billy Moretti”.
Tuyệt, cô nghĩ, khi dựa người vào cánh cửa. Buổi sáng nát bét, ảm đạm này hoàn hảo rồi
đấy. “Tôi sẽ có mặt ở văn phòng lúc chín giờ”, cô vào luôn vấn đề. “Hãy gặp tôi ở đó”.
“Không thể”, giọng anh ta nặng nề vọng lại qua cánh cửa. “Tôi chỉ ở lại đây hai ngày và còn
rất nhiều việc cần giải quyết. Thế này đi, cô Emerson. Giờ chưa đến bảy giờ sáng, phải vài tiếng
nữa mới tới giờ làm việc của cô. Hãy để tôi mời cô bữa sáng, cô có thể nghe tôi trình bày rồi tôi
sẽ đi ngay”.
“Và nếu tôi nói không?” Cô giật mình kinh ngạc khi nghe những từ đó thoát ra. Ý cô là cái khỉ
gì thế này, nếu cô nói không ư? Đương nhiên cô sẽ từ chối. Cô không thể đi đâu với bạn của
người cô chuẩn bị khởi tố được.
“Vậy tôi sẽ ở lại đây đến khi cô đổi ý”. Anh ta nghe có vẻ rất
“Tôi chỉ cần một cú điện thoại là cảnh sát sẽ đến mời anh đi, anh Rafferty ạ. Tôi không muốn
bị quấy rầy”.
“Thưa quý cô”, anh ta kiên nhẫn, “tin tôi đi, tôi không hứng thú quấy rối cô. Tôi chỉ muốn
xem có thể giải quyết chuyện của Billy với cô không thôi”.
Cô thoáng nhận ra bản thân cũng đang cân nhắc. Vụ Moretti đã làm hao mòn tâm trí cô suốt
mấy ngày nay. Nếu cô có thể thỏa hiệp thì thứ Sáu ngày mười ba sẽ trở nên dễ chịu hơn rất
nhiều.
“Anh làm việc với Abramowitz phải không?”
“Đương nhiên rồi!”Giọng nói trả lời ngay lập tức.
Câu trả lời ra quyết định giúp cô. Nếu luật sư của Billy sốt sắng tìm nơi ở của cô và đến đây
ngay khi bình minh vừa ló dạng, thì đương nhiên cô có thể thảo luận vụ này với anh ta vào bữa
sáng rồi. Sau cùng, bọn họ đều là người trong nghề. Thật ngớ ngẩn khi quá đặt nặng hình thức.
“Đợi tôi một lát”, cô nói, đôi tay lóng ngóng với đám ổ khóa. Lúc cô mở cái khóa cuối cùng
và kéo then bảo vệ, cô bắt đầu hối tiếc khi vội vã chấp nhận lời đề nghị của anh ta, song cánh
cửa đã bật mở và tất cả trở nên quá muộn. Ít ra sợi dây xích vẫn còn nguyên khi cô ngó qua
khoảng cách hơn mười centimet để nhìn người đàn ông đang đợi ngoài hành lang.
Anh ta vẫn kiên nhẫn đứng đó, vẻ cực kỳ tĩnh lặng của anh ta khiến người đối diện có chút
hoảng sợ. Anh ta là một người đàn ông cao lớn, dáng người săn chắc, và bộ vest cùng chiếc áo
khoác ngoài của anh ta thật khó tả, như không bị tác động bởi thời gian. Tóc anh ta đen và
ngắn, được vuốt ngược ra sau từ đường chân tóc chữ V trên đôi mắt đen đầy thách thức. Cô
nhìn vào đôi mắt đó, vào sâu trong đôi mắt tĩnh mịch khó dò và cảm nhận cơn ớn lạnh chạy
khắp người. Cùng luồng hơi nóng bất chợt bùng lên.
“Anh không giống kiểu người Abramowitz thường thuê”, cô ngơ ngẩn thốt. Chắc chắn không
phải kiểu sẽ bảo vệ Billy Moretti trước toàn thế giới. Anh ta quá đẹp trai, với cái miệng rộng và
gợi cảm, gương mặt thon, gò má cao, cùng thái độ tự chủ, điềm đ
Rồi anh ta mỉm cười, nụ cười đáng lẽ sẽ khiến cô cảm thấy nhẹ nhõm. Đó là một nụ cười
quyến rũ, theo đúng nghĩa đen, với ý đồ khiến người phụ nữ cảnh giác nhất cũng bị mê hoặc.
Helen có thể cảm nhận được sự cuốn hút đột ngột cô đang phải vật lộn đấu tranh.
“Không thể đặt lòng tin vào vẻ ngoài”, anh ta nói, đôi mắt đen chạy dọc theo chiều dài khe
hở của cánh cửa đang mở. “Cô sẽ để tôi mời cô bữa sáng chứ?”
Cô nên sập cửa thẳng vào mặt anh ta. Cô có thể giao vụ Moretti cho Jenkins, như ông ta
muốn, nhưng Jenkins ác ôn không khác gì một con heo, luôn làm việc cứng nhắc, vô lối và chưa
một lần mảy may xem xét các tình huống bất khả kháng cho bị cáo.
Cô cứ thế nhìn chằm chằm người đàn ông tự nhận là Rafferty một lúc lâu rồi gật đầu quyết
định. Cô là một phụ nữ thông minh, cẩn thận. Nhưng cô cũng là người phụ nữ học được cách
lắng nghe bản năng của mình. Và bản năng mách bảo cô nên tin người đàn ông này.
Cô gạt sợi xích xuống rồi mở cửa. “Mời vào”, cô vừa nói vừa bước lui lại. “Tôi sẽ đi với anh
ngay thôi”.
Mãi cho đến khi băng qua nửa gian phòng để thu dọn giấy tờ vào cặp tài liệu, cô mới nhận ra
hành vi của cô khác lạ đến chừng nào. Cô không thích để người khác, đặc biệt là đồng nghiệp,
vào căn hộ của cô. Bởi cô đã quen sống vô tổ chức và luộm thuộm. Lý do khác, những ai tham
vọng không bao giờ đánh giá cao khuynh hướng trang trí hệt thập niên hai mươi của cô. Cô liếc
ra sau nhìn Rafferty, cố gắng giấu đi vẻ bồn chồn, rồi chợt sững lại.
Anh ta đứng giữa căn hộ của cô, một người lạ tóc đen cao lớn, người đáng lẽ phải là một kẻ
xâm nhập bất hợp pháp, đang tròn mắt ngạc nhiên nhìn xung quanh, như thể nhận biết các thứ
trong phòng.
“Anh từng đến căn hộ này rồi sao?” Cô buột miệng.
Đôi mắt đen của anh ta chạm phải cô, và anh ta mỉm cười, nụ cười thoạt nhìn có vẻ đơn
giản. “Không”, anh ta đáp.
Cô không tin. Rồi cô bật cười lớn trước sự vô lý của bản thân. “Đương nhiên nhỉ”. Cô nói.
“Trong suốt sáu mươi năm, tòa nhà này thuộc về một cụ bà lạ lùng cùng đám mèo của bà ấy”.
“Rồi bà ấy làm sao?”
“Cụ bà đó hả?” Helen nói, kéo chiếc áo khoác xuống. “Bà ấy qua đời, tôi e là thế. Bà ấy khá
tiếng tăm - người ta đồn bà ấy là nhân tình của một tay đàn anh từ thời AI Capone [2]. Điều ấy
thì tôi tin”.
[2] Hay Alphonse Gabriel “Al” Capone (17/01/1989 - 25/01/2947) là tên trùm xã hội đen khét
tiếng ở Mỹ.
“Cô quen bà ta?”
Helen nhún vai. “Tôi gặp bà ấy vì công việc. Bà ấy bị cướp. Tôi là luật sư khởi tố kẻ nhẫn tâm
đánh quỵ bà ấy. Sau đó bà quyết định nhận tôi làm con nuôi”. Cô mỉm cười hồi tưởng. “Bà là
một phụ nữ tuyệt vời”.
“Tên bà ấy là gì?”
“Tên của bà? Anh chắc sẽ không biết đâu - tôi không nghĩ suốt ba thập kỷ bà từng đi đâu
ngoài con đường này trước khi vào bệnh viện”.
“Nếu quả thật bà ta từng cặp với đám găngxtơ thì rất có thể tôi đã nghe nói về bà ấy. Tôi
luôn hứng thú với thời xã hội đen hoành hành ở Chicago”.
“Anh và cả nửa thành phố”, Helen nói. “Tên bà là Jane Maxwell”.
“Chưa nghe bao giờ!”
“Tôi nghĩ nghệ danh của bà là Crystal Latour. Khó mà tưởng tượng nổi ai gọi cụ bà ấy là
Crystal, nhưng bà đã kể thế với tôi”.
“Crystal Latour”, giọng Rafferty khác lạ. “Phải, thật khó mà tin nổi”.
Cô vơ cặp tài liệu rồi hướng về phía cửa, lờ đi cốc cà phê, đống báo chí bừasofa cũ và nửa
chiếc bánh vòng trên bàn ăn sứt sẹo. “Anh sẵn sàng chưa?”
Anh ta như vừa sực tỉnh khỏi cõi mê nào đấy. “Hẳn rồi. Tôi chỉ đang thắc mắc sao cô lại định
cư ở đây?”
Cô phải thừa nhận anh ta rất nhạy bén. Chỉ trong vài phút anh ta đã mài ra mặt bất tiện nhất
của tòa nhà đẹp đẽ nhưng cũ kỹ này. Cô ghét gặp phải người đàn ông nào có loại bản năng chỉ
chuyên xuất hiện trong phiên tòa như thế. “Bà ấy để nó lại cho tôi, thưa anh Rafferty. Toàn bộ
tòa nhà”.
“Vậy sao, hiện thời hả? Chắc việc khởi tố tên cướp kia phải thành công mỹ mãn lắm”.
Cô dừng lại nơi ngưỡng cửa, thờ ơ nhìn anh ta. “Hệt như với người khác thôi, anh Rafferty ạ.
Tôi khởi tố tội phạm”.
“Trừng phạt kẻ xấu”, anh ta giễu cợt. “Khiến chúng trả giá trước toàn xã hội”.
“Tôi thường không dính vào chuyện báo thù, dù đôi khi tôi cũng phải thừa nhận từng có ý
nghĩ ấy. Nhưng tôi quan tâm đến việc giữ an toàn cho các cụ bà nhỏ bé như Crystal hơn”.
Anh ta cười nhăn nhó, nhưng nụ cười đó không hề chạm đến đôi mắt đen tĩnh mịch của anh
ta. “Và tôi dám chắc công việc của cô rất kinh khủng”. Anh ta liếc quanh căn phòng lớn lộn xộn,
và phải mất một lúc cô mới kiểm soát được cơn bực tức của bản thân. Đâu phải lỗi của cô khi
Crystal để lại cho cô tòa nhà. Và nó cũng đâu phải khoản thừa kế đáng giá - nơi này đang xuống
cấp nghiêm trọng và ít nhất ba nhà thầu xây dựng đã bảo cô tốt hơn hết nên dỡ bỏ và xây mới
hoàn toàn.
Song cô không thể làm thế. Cô yêu mọi đường nét của tòa nhà, vẻ thanh nhã mang hơi thở
của quá khứ và cả những gì bị vùi dưới các bức tường bao và lớp lót sàn. Bất cứ khi nào có khả
năng, cô đều bắt tay tu bổ từng phần một của tòa nhà, khởi đầu với căn hộ ở tầng một của
chính cô, sau đó sẽ sửa sang và cho thuê các tầng phía trên. Với cô thì nghe rất thực tế và đầy
triển vọng. Nhưng các anh trai cô lại bảo cô đang mơ mộng.
“Tôi nghĩ anh đến để thương lượng vụ của Moretti, chứ không phải về chuyện trang trí nhà
tôi”, giọng cô vờ lãnh đạm.
“Phải rồi. Cô biết chỗ nào lý tưởng để ăn không?”
“Xa lắm. Sao chúng ta không ăn ở gần văn phòng của tôi? Như thế một khi đôi bên đi đến
thống nhất, mọi việc sẽ giải quyết dễ dàng hơn. Đi xe của tôi nhé?”
“Vâng, thưa quý cô”, anh ta nói.
Cô ném thêm cho anh ta một cái nhìn ngờ vực, anh ta không phải đang chế nhạo cô đấy chứ?
Anh ta khiến cảm xúc của cô biến hóa thật lạ lùng, đạo mạo, chỉn chu hệt một bà giáo già. Càng
ở lâu với anh ta, cô càng muốn giật vạt váy xuống rồi quấn thật chặt chiếc áo choàng quanh
người. Anh ta khiến cô bứt rứt không yên.
“Vậy đi thôi”, cô tươi tắn nói. “Tôi còn cả đống việc đang chờ”. Cô đứng đợi ngay cạnh cửa,
châm chọc nhường anh ta đi trước.
“Chỗ ở của cô đẹp lắm!” Anh ta khen với giọng điệu trêu ngươi. Anh ta ngừng lại nơi khung
cửa để nhìn cô, với khoảng cách quá gần. Cô ngước lên, và nhận ra đôi mắt anh ta không thẫm
đen như cô nghĩ lúc đầu. Một màu nâu sâu thẳm, được thắp lên với những chấm vàng nhỏ bé,
sưởi ấm cả một chiều sâu băng giá. Chúng là đôi mắt khiến ai đó sa vào, đôi mắt có thể thôi
miên và bỏ bùa người đối diện. Đôi mắt đầy cám dỗ.
Sau đó anh ta băng qua cô, không chạm vào cô, đi thẳng xuống những bậc thang thấp dẫn ra
cửa trước. Cô nhìn theo, trong giây lát như bị xúi giục lao trở vào nhà và đóng sập cánh cửa sau
lưng lại. Anh ta khiến cô bồn chồn theo cái cách cô thậm chí còn không thể bắt đầu cắt nghĩa.
Nhưng hễ cứ gặp bóng tối là lao đầu bỏ chạy thì chẳng mấy chốc cuộc đời cô sẽ nhanh chóng
sụp đổ tan hoang. Cô nhìn lướt một vòng căn hộ, hình dung xem anh ta đã nhìn nó thế nào. Rồi
cô đóng cửa, theo sau Rafferty ra ngoài giá lạnh phủ đầy buổi sớm mai.
***
Crystal Latour, Rafferty nghĩ khi lách người qua Helen Emerson để đi vào một quán ăn nhỏ.
Họ đến trung tâm thành phố bằng một chiếc xe bé tẹo của Nhật, chỉ nửa cỡ con Packard [3] gã
từng lái, khiến đôi chân dài đáng thương của gã phải co cứng lại. Bất tiện là thế nhưng cũng
không thể làm gã nhãng ra khỏi những ký ức nhiễu loạn về Crystal Latour.
[3] Loại xe cỡ lớn, được lắp đặt bằng tay lưu hành những năm 30 của thế kỷ XX, có sự tinh xảo
và xa hoa vượt xa những xe hạng sang bây giờ.
Thôi được, gã đã từng đến số 1322 phố Elm. Duy nhất một lần, vào ngày 13 tháng 2 năm
1929. Gã đã qua đêm trên giường của Crystal Latour, và sáng hôm sau gã chết.
Gã liếc nhìn người phụ nữ ngồi bên. Thôi được, cô ta cũng là một bất ngờ. Gã đã dần quen
với những người phụ nữ hiện đại, với vẻ đẹp lạnh lùng, tự tin cùng sự độc lập và khó lấn lướt
của họ. Cho nên trong mắt gã người phụ nữ nhát gan lái chiếc xe nhỏ xíu này thật cổ lỗ sĩ.
Cô ta còn xa mới là kiểu người khó lấn lướt. Tất cả những gì người đối diện phải làm là nhìn
vào đôi mắt nâu to tròn và sẽ dễ dàng nhìn thấu tâm trí cô ta. Tóc cô ta dài, với màu nâu ánh
đỏ tráng lệ, chiếc miệng rộng và đầy đặn. Một chiếc miệng tuyệt hảo để hôn.
Nhưng không phải gã muốn hôn cô ta. Cô ta hơi quá gầy so với sở thích của gã, đã thế còn ăn
mặc hệt một thằng đàn ông. Cô ta hẳn thuộc nhóm người trợn mắt hô hào đòi bình đẳng giới,
không son phấn và đeo đôi kính gọng kim loại hệt cái thứ xuất hiện trên mặt một tên kế toán.
Cô ta rõ ràng chỉ ngủ với đàn bà.
Ngoại trừ gã không nghĩ thế. Đương nhiên không phải gã đang tưởng tượng lực hút kỳ lạ
giữa hai người là phản ứng hai chiều chết tiệt giữa nam với nữ. Gã không muốn dính líu đến cái
cô Helen Emerson này. Trong bốn mươi tám giờ ở lại đây, gã không có thời gian vướng vào ai
đó giống cô ta.
Gã cần người nào hào hứng và dễ dãi, người nào sẽ ngả lưng xuống giường cùng gã, cười vui
vẻ với gã và cho gã cảm giác thoải mái cùng giải thoát. Gã không muốn gắn bó, đi đôi với phức
tạp hay tình bạn, và với một người đàn bà giống Helen Emerson, bắt buộc phải chuẩn bị ba
điều kể trên trước cả khi chạm được vào ngực cô ta. Mà rõ ràng cô ta có đáng chạm vào tí nào
đâu.
Nhưng mẹ kiếp, gã muốn khám phá xem có đúng thế không.
“Anh làm việc cho Abramowitz lâu chưa?” Cô hỏi, nhìn gã chê trách khi gã châm một điếu
thuốc lá.
“Không lâu lắm”, gã đáp, thắc mắc Abramowitz là thằng trời đánh nào.
“Anh trông không giống luật sư”, cô nói.
“Cô cũng thế”, gã trả lời với vẻ ít quyến rũ hơn lúc thường. Gã không muốn quyến rũ cô ta.
Bởi vài lý do phi lý, gã không muốn nói dối cô ta nhiều hơn những gì bắt buộc và cần thiết.
Hồi đáp của gã là một sai lầm. Cô mỉm cười trước lời nói kháy, đôi mắt cô nhăn nhăn và
chiếc miệng rộng khẽ cong lên. “Tôi luôn làm hết khả năng”, cô nói. “Vậy chúng ta sẽ làm gì với
Billy Moretti? Cậu ta đang bị xem xét mức phạt cao nhất - chắc chắn phải bị giam từ tám đến
mười năm trong nhà tù Joliet, và tôi hoàn toàn có thể lấy được phán quyết có tội”.
Gã gọi món khi cô hầu bàn tốt bụng rót cho gã tách cà phê đầu tiên trong năm và dựa lưng
vào...
 





