VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    Bệnh loãng xương và cách điều trị

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 08h:31' 14-03-2024
    Dung lượng: 13.5 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    ầsm4

    LOÃnG x ư m iG
    ọ cÁ g H
    ỖZ-ĐIỀU TRỊ

    Nf l À XI I ẨT lỉ/\N •| H(ÍI UẠI

    BỆNH LOẢNG XƯƠNG
    VÀ CÁCH ĐIÊU TRỊ
    LÈ ANH SƠN
    (Biên soạn)

    NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI

    LỜI GIỚI THIỆU
    “Người ta không coi trọng sức khỏe cho tới kh i
    đau yếu. ” - Thomas Puller
    Thông thường, sức khỏe là m ột giá trị rất ít k h i
    được chúng ta quan tâm đến, cho dù đó là m ột giá trị
    cực k ỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc
    sống của ta. Sự thiếu quan tâm này có lý do rất đơn
    giản, vì hầu h ết chúng ta luôn xem việc có sức khỏe
    tố t chỉ là điều tất nhiên và quá thông thường, nên chỉ
    k h i nào ta “kém sức kh ỏe”, nghĩa là có bệnh, th ì ta
    m ới thấy cần quan tâm.
    Sức khỏe của m ỗi chúng ta là m ột giá trị đặc biệt
    vô cùng quý báu. N ói như Mahatma Gandhi: “Chính
    sức khỏe m ới là sự giàu có thực sự, không phải vàng và
    bạc”. Sức khỏe chi p h ối trực tiếp cuộc sống của ta. Ta
    không thê sống thoải mái, vui vẻ với m ột thân th ể ốm
    đau bệnh hoạn. Ta cũng không th ể vui sống k h i sức
    khỏe không cho phép ta làm được những điều ta muốn.
    K h i có sức khỏe tốt, ta sẽ thấy trong người sảng khoái
    và d ễ dàng có được sự lạc quan vui sống. Vì vậy chúng
    ta cố gắng tuân thủ những nguyên tắc sau:
    1. H ãy kiểm tra sức khỏe thường xuyên đê có th ể
    ph át hiện bệnh sớm và việc điều trị sẽ trở nên d ễ dàng
    hơn.
    2. Tuân thủ lờ i khuyên của bác s ĩ k h i thực hiện
    các .xét nghiêm trên theo đúng thời hạn.
    Bệnh loãng xương và cách điều t rị 3

    3. Theo dõi kết quả khăm sức khỏe định kỳ.
    N gày nay có nhiều khó khăn, thách thức m ới như
    m ô hình bệnh tật thay đổi, các bệnh truyền nhiễm
    diễn biến phức tạp, các bệnh không lây nhiễm, dịch
    bệnh mới, bệnh lạ xuất hiện do sự ô nhiễm m ôi
    trường, các hóa chất độc hại, trong k h i chất lượng
    bệnh viện và chăm sóc y tế luôn là vấn đề được cả xã
    h ội đặc biệt quan tâm, như tình trạng quá tải; thủ tục
    hành chính về khám, chữa bệnh còn phức tạp; tình
    trạng lạm dụng thuốc, xét nghiệm cận lâm sàng, lạm
    dụng k ỹ thuật chưa được kiểm soát chặt chẽ, tinh
    thần, thái độ phục vụ người bệnh, đạo đức của m ột bộ
    phận cán bộ V tế ở nhiều bệnh viện chưa được cải
    thiện... Vì vậv, bản thân m ỗi người trước h ết tự cần
    trang b ị cho bản thân m ột tri thức nhất định về các
    loại bệnh thông thường d ể mắc ph ải đê có hướng
    phòng ngừa và điều trị k h i cần thiết.
    Vì vậy chúng tô i biên soạn cuốn 'Bệnh loãng
    xương và cách điều trị ” với các nguyên nhân, triệu
    chứng bệnh, các phương pháp điều trị cụ th ể dựa vào
    Y học hiện đại và Y học cổ truyền. Đặc b iệt trong
    sách có nhiều phương cách phòng tránh và chữa bệnh
    dựa vào các thực phẩm, thức ăn, bài thuốc dân gian và
    chế độ sinh hoạt luyện tập thường ngày đã được các
    nhà chuyên mồn có uy tín xác nhận.
    X in trân trọng giớ i thiệu với bạn đọc.
    NGƯỜI BIÊN SOẠN

    4 LÊ ANH SƠN - biên soạn

    PHẦN I
    NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG
    VÉ BỆNH LOÃNG XƯƠNG
    GIỚI THIỆU CHUNG
    VỀ BỆNH LOÃNG XUƠNG
    Bệnh loãng xương là gì?
    Loãng xương, còn được gọi xốp xương hay thưa
    xương, là một bệnh lý ảnh hưởng tới khối lượng và
    chất lượng của hệ thống xương khiến cho sức chống
    đỡ và chịu lực của xương giảm đi, xương sẽ trở nên
    mỏng mảnh, dễ gãy, dễ lún và dễ xẹp, đặc biệt ở các vị
    trí chịu lực của cơ thể như: cột sống, cổ xương đùi,
    đầu dưới xương quay...
    Nói đơn giản hơn, loãng xương là tình trạng
    xương mỏng mảnh và yếu đến mức rất dễ gãy khi bị
    chấn thương dù rất nhẹ, thậm chí có thể gãy tự nhiên
    không do chấn thương.
    Tại sao bệnh loãng xương ngày càng gia tăng?
    Một trong những thành tựu rất lớn của Y học nói
    riêng và của Khoa học Kỹ thuật nói chung là nâng cao
    tuổi thọ cho con người. Với sự gia tăng tuổi thọ, số
    người có tuổi (trên 65 tuổi) ngày càng cao và chiếm
    Bệnh loăng xương và cách điều t r ị 5

    một vị trí rất đáng kê trong dân số. Hiện nay số người
    có tuổi chiếm trên 12% dân số thế giới, dự tính vào
    năm 2020, con số này sẽ là 17% (chiếm 40% chi phí y
    tế của toàn xã hội).
    Từ 10 năm nay, bệnh loãng xương đã được coi là
    một vấn đề sức khoẻ mang tính toàn cầu vì ảnh hưởng
    nhiều tới sức khỏe người có tuổi (đặc biệt là phụ nữ) và
    đòi hỏi chi phí rất lớn về Y tế của xã hội. Loãng xương
    đã được coi là một trong bốn vấn đề lớn được đặc biệt
    quan tâm trong thập niên 2000 - 2010, thập niên đầu
    tiên của thế kỷ XXI, mà Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế
    thế giới đã đề xướng là Thập niên Xương và Khớp.
    Hiện nay, loãng xương đang được coi là một bệnh
    dịch âm thầm, ngày càng gia tăng, đang có xu hướng
    lan rộng khắp thế giới, đặc biệt ở các nước châu Á.
    - Khoảng 50% phụ nữ trên 50 tuổi bị loãng xương.
    - Trên 40% phụ nữ trên 70 tuổi bị gãy xương do
    loãng xương.
    Tình hình loãng xưctog ở nước ta như thế nào?
    Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu dịch tễ
    đầy đủ nào về bệnh loãng xương cũng như mức độ ảnh
    hưởng của bệnh lên sức khỏe người bệnh và chi phí y tế
    của căn bệnh này ở nước ta. Đa số bệnh nhân loãng
    xương chưa được chẩn đoán, chưa được điều trị đầy đủ
    và chưa được theo dõi lâu dài. Chẩn đoán loãng xương
    đa số muộn, vào lúc đã có biến chứng: đau kéo dài do
    chèn ép rễ thần kinh, gãy lún đốt sống, gãy xưctog...
    Việc điều trị hầu hết mới chỉ dựa vào canxi, vitamin D
    LÊ ANH SƠN - biên .

    và chất chuyển hóa của vitamin D (Canxitriol). Các
    thuốc điều trị tích cực khác còn rất hạn chế.
    Một số nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh đã cho
    thấy:
    - Khẩu phần ăn hàng ngày của chúng ta rất thiếu
    canxi, việc sử dụng sữa và các chế phẩm của sừa trong
    cộng đồng còn rất ít và hầu hết đều tập trung ờ TP.
    Hồ Chí Minh và Hà Nội.
    - Khối lượng khoáng chất đỉnh của xương ở người
    trưởng thành khá thấp, tỷ lệ thiếu xương và loãng
    xương khá cao trong cộng đồng.
    - Chưa có chiến lược phòng ngừa bệnh lâu dài và
    đầy đủ, mọi người chưa chủ động phát hiện bệnh sớm.
    - Đa số nhân dân lao động khóng có khả nàng sử
    dụng thuốc điều trị lâu dài khi có bệnh, chưa có giải
    pháp để đương đầu với những khó khăn về kinh tế
    của người bệnh.
    Nguyên nhân gây bệnh loãng xương
    Loãng xương có thể phân thành hai loại;
    Loãng xương tiên phát (do tuổi già) và loãng
    xương thứ phát (do các yếu tố nguy cơ thúc đẩy).
    Loãng xương do tuổi già là một tiến trình mang
    tính quy luật của cơ thể, là một trong những bệnh lý
    rất thường gặp ở người có tuổi vì ba lý do cơ bản sau:
    1. Các tế bào sinh xương bị lão hóa.
    2. Hạn chế sự hấp thụ và chuyển hóa canxi và
    vitamin D ờ ruột.
    3. Suy giảm các hormone sinh dục, đặc biệt là
    Bệnh h ã n g xương và cách điều trị 7

    hormone sinh dục nữ làm cho các tế bào hủy xương
    tăng hoạt tính.
    Loãng xương thứ phát là loãng xương do các yếu
    tố nguy cơ, làm nặng thêm tình trạng loãng xương do
    tuổi, có thể xảy ra ở người trẻ.
    Các yếu tố nguy cơ gây bệnh loãng xưctog
    1. Kém phát triển thể chất từ khi còn nhỏ, đặc
    biệt là còi xương, suy dinh dưỡng, chế độ ăn thiếu
    protid, thiếu canxi hoặc tỷ lệ canxi/phospho trong chế
    độ ăn không hỢp lý, thiếu vitamin D hoặc cơ thể
    không hấp thụ được vitamin D... vì vậy khối lượng
    khoáng chất đỉnh của xương ở tuổi trưởng thành thấp,
    đây đưỢc coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của
    bệnh loãng xương.
    2. ít hoạt động thể lực (hoạt động thể lực thường
    xuyên sẽ giúp cho cơ thể đạt được khối lượng xương
    cao nhất lúc trưởng thành).
    3. Sinh đẻ nhiều lần, nuôi con bằng sữa mẹ mà
    không ăn uống đủ chất, đặc biệt là protid và canxi để
    bù đắp lại.
    4. Bị các bệnh mãn tính đường tiêu hóa (viêm loét
    dạ dày, viêm ruột mãn tính...) làm hạn chế hấp thụ
    canxi, vitamin D, protid...
    5. Có thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê,
    thuốc lá... làm tăng thải canxi qua đường thận và giảm
    hấp thụ canxi ở đường tiêu hóa (thường ở nam giới).
    6. Thiểu năng các tuyến sinh dục nam và nữ (suy
    buồng trứng sớm, mãn kinh sớm, cắt buồng trứng,
    8 LÊ ANH SƠN - biên soạn

    thiểu năng tinh hoàn...)'
    7. Bất động quá lâu ngày do bệnh tật, do nghề
    nghiệp (những người du hành vũ trụ khi ở trong tàu
    vũ trụ đi ra ngoài không gian)... vì khi bất động lâu
    ngày các tế bào hủy xương tăng hoạt tính.
    8. Bị các bệnh nội tiết: cường tuyến giáp, cường
    tuyến cận giáp, cường tuyến vỏ thượng thận, tiểu
    đường...
    9. Bị bệnh suy thận mãn hoặc phải chạy thận nhân
    tạo lâu ngày gây mất nhiều canxi qua đường tiết niệu.
    10. Mắc các bệnh xương khớp mãn tính khác đặc
    biệt là Viêm khớp dạng thấp và Thoái hoá khớp.
    11. Do sử dụng một số thuốc: chống động kinh
    (Dihydan), thuốc chữa bệnh tiểu đường (Insulin),
    thuốc chống đông (Heparin) và đặc biệt là các thuốc
    kháng viêm nhóm Corticosteroid (Corticosteroid một
    mặt ức chế trực tiếp quá trình tạo xương, mặt khác
    làm giảm hấp thụ canxi ở ruột, tăng bài xuất canxi ở
    thận và làm tăng quá trình hủy xương).
    Tầm soát và chẩn đoán loãng xương
    Nhiều người thường không biết mình bị loãng
    xương vì quá trình mất xương diễn ra âm thầm trong
    một thời gian dài và không có triệu chứng, cho đến
    khi gãy xương xảy ra. Gãy xương thường là dấu hiệu
    đầu tiênđể họ biết mình đã bị loãng xương. Nhưng
    đến lúc đó thì đã quá trễ.
    Bạn nên đánh giá nguy cơ loãng xương của bản
    thân dựa trên các yếu tố nguy cơ. Càng có nhiều yếu
    Bệnh loãng xương và cách điểu t r ị 9

    tố nguy cơ, bạn càng dễ bị loãng xương. Nếu bạn có
    nguy cơ mắc bệnh loãng xương, bác sĩ có thể yêu cầu
    bạn làm xét nghiệm đo mật độ khoáng của xương
    (BMD).
    Chỉ số T-score là kết quả của đo BMD giúp xác
    định tình trạng của xương:
    > -1
    -1 đến -2.5
    <-2.5

    Bảng giá trị T-score theo WHO
    Bình thường
    Thiếu xương (Có thể cần điều trị)
    Loãng xương (Cần điều trị)

    Triệu chứng, diễn biến và biến chứng
    của bệnh loãng xương như thế nào?
    Người ta thường ví bệnh loãng xương giống như
    một tên ăn cắp thầm lặng, hàng ngày cứ lấy dần canxi
    trong ngân hàng dự trữ xương của cơ thể con người.
    Khi có dấu hiệu lâm sàng, là lúc đã có biến chứng,
    thường cơ thể đã bị mất tới 30% khối lượng xương.
    Loãng xương đang được coi là một bệnh dịch âm
    thầm nhưng đang có xu hướng lan rộng khắp thế giới.
    Biểu hiện lâm sàng:
    - Đau mỏi mơ hồ ở cột sống, đau dọc các xương
    dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp.
    - Đau thực sự cột sống, đau lan theo khoanh liên
    sườn, đau khi ngồi lâu, khi thay đổi tư thế. Có thể đau
    mãn tính hoặc cấp tính sau chấn thương (gãy xương
    cồ tay, gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi...).
    10 LÊ ANH SƠN - biên .

    - Gù lưng, giảm chiều cao.
    Biến chứng của loãng xương:
    - Đau kéo dài do chèn ép thần kinh.
    - Gãy xương cồ tay, gãy lún đốt sống, gãy cổ xương
    đùi.
    - Ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng sống
    của người có tuổi.
    Làm thế nào để phát hiện bệnh sớm?
    1. Phát hiện các yếu tố nguy cơ gây loãng xương
    thứ phát (đã nêu trên).
    2. Đi khám bệnh sớm, ngay khi có các dấu hiệu đau
    mỏi mơ hồ ở cột sống, ở hệ thống xưctog khớp, dọc các
    xương dài (đặc biệt xưctog cẳng chân), đau mỏi cơ bắp,
    vọp bẻ... Các bác sĩ chuyên khoa sẽ cho kiểm tra.
    3. Chụp X-quang xương hoặc cột sống.
    4. Đo khối lượng xương.
    5. Khám và phát hiện các yếu tố nguy cơ.
    6. Khám bệnh và theo dõi định kỳ (tùy mức độ
    bệnh).
    7. Luôn có ý thức phòng bệnh (suốt cuộc đời).
    Chế độ sinh hoạt, tập luyện tăng cường hoạt động
    ngoài trời, tập vận động thường xuyên và phù hỢp với
    sức khoẻ, duy trì lối sống năng động, tránh các thói
    quen xấu: uống nhiều rượu, cafe, thuốc lá...
    Chế độ ăn uống luôn luôn bảo đảm một chế độ ăn
    uống đầy đủ protein và khoáng chất, đặc biệt là canxi.
    Kiểm soát tốt các bệnh lý ảnh hưởng và các yếu tố

    Bệnh loãng xương và cách điều trị

    II

    nguy cơ của bệnh.

    Xử trí thế nào khi có bệnh
    A. Mục tiêu điều trị bệnh loãng xương:
    Vì những hậu quả nặng nề nêu trên, bằng mọi
    cách, việc điều trị loãng xương phải đạt tới hai mục
    tiêu cơ bản sau:
    1. Không để bệnh nhân loãng xưcíng bị gãy xương.
    2. Nếu đã bị gãy xương do loãng xương, không để
    bị tái gãy xương.
    B. Chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện:
    Chế độ ăn uống: luôn luôn bảo đảm một chế độ ăn
    uống đầy đủ protein và khoáng chất, đặc biệt là canxi. Vì
    vậy sữa và các chế phẩm từ sữa (bơ, phomát, yagurt...) là
    thức ăn lý tưởng cho một khung xương khỏe mạnh. Chế
    độ này cần được duy trì suốt cuộc đời mỗi người.
    Chế độ sinh hoạt, tập luyện: tăng cường hoạt
    động ngoài trời, tập vận động thường xuyên và phù
    hỢp với sức khỏe, tránh té ngã.

    c. Chế độ điều ưị:
    Các thuốc chống h ủ y xương: Bisphosphonates
    (Alendronate, Risedronate...), canxitonine từ cá hồi
    (Miacanxic), hormone thay thế (Estrogen, Androgen,
    các thuốc giống hormone dùng để thay thế hormone
    (Tibolone, Raloxiíene...) là các điều trị tích cực nhằm
    ngăn chặn sự hủy xương và giúp cho cơ thể sử dụng
    12 LÉ ANH SƠN - biên .

    tốt các “nguyên vật liệu” để duy trì và tái tạo một
    khung xương tốt. Mỗi loại thuốc trong nhóm này đều
    có những ưu điểm riêng, đều có thể sử dụng riêng lẻ
    hoặc phối hỢp với nhau để tăng hiệu quả điều trị bệnh
    loãng xương.
    Các thuốc tăng rạo xương: vitamin D hay chất
    chuyển hóa của vitamin D (Rocaltrol), các thuốc tăng
    đồng hóa (Duraboline, Deca-duraboline), vitamin K2
    (Glakay).
    Cung cấp bổ sung đầy đủ protein và khoáng chất
    canxi, phospho... cho cơ thể là cách điều trị cơ bản
    nhằm cung cấp những “nguyên vật liệu” để bổ sung
    cho xương khi mà chế độ ăn không đáp ứng đủ hoặc
    khi cơ thể không hấp thụ được đầy đủ.
    Nhu cầu canxi hàng ngày trung bình;
    500mg cho người trưởng thành.
    lOOOmg cho người 40 - 50 tuổi.
    ISOOmg cho người > 50 tuổi.
    (Một ly sữa 200 - 300mg canxi).
    Nhu cầu protein hàng ngày trung bình 31g/kg cân
    nặng (tương đương lOOg thịt nạc, 200g cá nạc).

    Cấu tạo và tính chất của xương
    Xương thuộc hệ cơ xương đảm nhận các vai trò
    trong việc tạo hình cơ thể, tạo các khoang chứa cơ
    quan nội tạng, hỗ trỢ quá trình vận động, là nơi sản
    sinh của các tế bào máu... về mặt cấu tạo, xương chủ
    yếu được tạo thành từ khoáng chất (đa phần là canxi)
    Bệnh loãng xương và cách điều t r ị lỉi

    và tế bào xương. Để thực hiện chức năng này, xương
    cần phải có cấu trúc đặc biệt.
    Chức năng
    Các xương dài nối với cơ bắp bằng gân. Các xương
    nối với nhau ở khớp bởi dây chằng. Tác động qua lại
    của xương với cơ được nghiên cứu trong cơ sinh học.
    Ngoài việc nâng đỡ cơ thể, xương còn là nơi sản
    xuất ra hồng cầu cho máu. Chính xác hơn là tuỷ
    xương - thứ chất giống như thạch ở bên trong ống
    xương làm ra. Có 2 loại tuỷ xương, loại tuỷ vàng béo
    ngậy không sinh ra hồng cầu, chỉ có loại tuỷ đỏ ở
    trong xương bả vai, xương hông, xương sườn, xương
    ức và xương chậu mới sản xuất hồng cầu. Những dây
    chuyền chế tạo năng suất cao này luôn sản xuất ra 1
    lượng hồng cầu bù với số lượng hồng cầu mất đi.
    Cấu trúc
    Xương tương đối cứng và có thành phần nhẹ, tạo
    phần tạo bởi canxium phosphate trong cách sắp xếp
    hóa học gọi là kiểu Ca5(P 0 4 )3 0 H. Có sức nén tưctng
    đối cao nhưng sức căng kém. Trong khi xương giòn,
    có độ co giãn phụ thuộc vào thành phần sinh học (chủ
    yếu vào sụn). Xương có cấu trúc mắt lưới, và độ đặc
    tùy vào từng điểm.
    Xương có th ể rắn chắc hay xốp. vỏ (lớp ngoài)
    xương thì rắn chắc; 2 đề ngữ có thể dùng thay thế cho
    nhau. Lớp ngoài xương tạo nên phần lớn khối lượng
    của xương; nhưng, bởi vì độ đặc của nó, nên có diện

    14 LÊ ANH SƠN

    -

    biên S03n

    tích bề mặt ít. Xương xốp có cấu trúc tổ ong, có diện
    tích mặt ngoài cao, như chỉ tạo phần ít của xương.
    Xương có th ể m ềm hay cứng. Xương mềm có thể
    thay thế trong quá trình phát triển hay hồi phục.
    Được gọi như thế vì cấu trúc không đồng nhất và kết
    quả là có sức chịu kém. Ngược lại thì xương cứng có
    cấu trúc song song và cứng hơn nhiều. Xương mềm
    thường đưỢc thay thế bởi xương cứng trong khi lớn.
    Xương sọ (XS)
    ở người, hộp sọ bao quanh não, gồm xương trán, 2
    xương thái dương, 2 xương đỉnh, 1 xương chẩm ở phía
    sau mũi và xương bướm. Xương mặt gồm có xương mũi,
    xương gò má, xương hàm. Khoang xs được nối với ống
    sống qua lỗ chẩm lớn. Các mảnh xs ở người trưởng
    thành liên kết với nhau bằng các đường khớp đầu: ở trẻ
    sơ sinh, tại những chỗ nối các mảnh xs có những phần
    xương chưa khép kín gọi là thóp.
    Hộp sọ được cấu tạo gồm 22 mảnh xương riêng lẻ
    hỢp thành, nhưng khớp xương giữa chúng không cử
    động được. Các khớp hộp sọ khít chặt với nhau giống
    như những miếng ghép hình. Vì thế hộp sọ rất chắc
    chắn, rất thích hỢp để bảo vệ não cũng như giữ cho
    khuôn mặt ta được ổn định, chứ không méo mó khi ta
    cử động.

    Bệnh loãng xương và cách điều t rị

    15

    Sơ đồ xương sọ người nhìn từ mặt bên
    1. Đường khớp đầu;
    2. Xương trán;
    3. Xương h\ĩớni;
    4. Lổ* trên mắt;
    5. \ỉố c mãt;
    6. Xương mũi;
    7. Xương lệ;
    8. Xương gò má;
    9. L ỗ dưới mắt;
    10. Xương hàm trên;
    11. Xương hàm dưới;
    12. Mấu nhọn xương thái dương;
    13. L ỗ tai ngoài;
    14. Mấu sau xương thái dương;
    15. Xương thái dương;
    16. Xương chẩm;
    17. Đường khớp chẩm - thái dương;
    18. Xương đỉnh hộp sọ cũng có khớp xương, nhưng theo
    kiểu khác.

    IG LÊ ANH SƠN - biên soan

    Xương tay
    Cấu tạo xương tay khá linh hoạt để có thể hoạt động
    hằng ngày, ngay từ khi tổ tiên của chúng ta chuyển từ
    việc đi bằng 4 chân sang đứng thẳng trên hai chân, họ
    đã sử dụng đôi tay làm nhiều việc khác hơn.
    1 bàn tay có tới 27 xương nhỏ để có thể cử động
    dễ dàng, và các ngón tay có thể chạm vào nhau.

    Các loại xương có cấu tạo đặc trưng, nhờ có kết cấu
    vững chắc với đủ hai thành phần; vô cơ và hữu cơ nên
    có thể đảm bảo chức năng làm bộ khung cho cơ thể.

    Biểu hiện của bệnh loãng xương
    Bệnh này được ví như những tên trộm vặt, mỗi
    ngày một chút, chúng lấy dần các khoáng chất của bộ
    xương. Lúc đầu người bệnh không cảm thấy khó chịu
    vì bệnh diễn biến thầm lặng, không có dấu hiệu nào
    Bệnh h ãn g xương vả cách điều t r ị

    17

    rõ ràng, có chăng chỉ là một vài triệu chứng đau,
    nhức, mỏi không cố định, có khi rất mơ hồ, vu vơ ở
    cột sống lưng, ở dọc các chi, ở các đầu xương... Càng
    về sau, khi khối lượng khoáng chất bị mất ngày càng
    nhiều, các triệu chứng đau nhức nêu trên sẽ rõ ràng
    dần lên, tập trung nhiều hơn ở các vùng xương chịu
    lực của cơ thể như hông, thắt lưng, khớp gối. Loãng
    xương rất thường đi kèm với bệnh thoái hóa khớp,
    cũng là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Tình trạng
    loãng xương sẽ làm cho quá trình thoái hóa nặng
    thêm, và quá trình này cũng làm bệnh loãng xương
    nặng nề thêm.
    Các triệu chứng thường gặp ở bệnh loãng xương
    1. Đau xương: đau nhức các đầu xương.
    Đau nhức, mỏi dọc các xương dài.
    Đau nhức như châm chích toàn thân.
    Đau tăng về đêm, nghỉ ngơi không hết.
    2. Đau cột sống, đau như thắt ngang cột sống hoặc
    lan sang một hoặc hai bên mạn sườn do kích thích các
    rễ thần kinh liên sườn. Đau cột sống thường kèm theo
    co cứng các cơ dọc cột sống gây đau, giật cơ khi thay
    đổi tư thế. Lúc nằm yên, người bệnh thường thấy dễ
    chịu hơn.
    3. Gù vẹo cột sống, giảm chiều cao so với lúc trẻ
    (do các đốt sống bị lún, xẹp hoặc bị gãy lún).
    4. Các triệu chứng toàn thân thường gặp là luôn
    có cảm giác lạnh hoặc ớn lạnh, hay bị chuột rút (vọp
    bẻ), thường ra mồ hôi.
    5. Thường có kèm theo các bệnh của người có tuổi
    18 LÊ ANH SƠN - biên .

    như: béo bệu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu
    đường, thoái hóa khớp...
    Khi đã có các triệu chứng lâm sàng rõ ràng nêu
    trên, khối lượng xương của cơ thể thường đã giảm
    30%. Lúc này trên phim X-quang thường có thể thấy
    rõ hiện tượng loãng xương như: xương tăng thấu
    quang.
    Vỏ xương bị mỏng đi.
    Các đốt sống bị biến dạng: lún xẹp hoặc gãy lún.

    Hậu quả của bệnh loãng xương
    Gãy xương khi bị những chấn thương nhẹ là hậu
    quả cuối cùng của bệnh loãng xương. Gãy xương do
    loãng xương thường gặp ở các vị trí chịu lực của cơ thể
    như cột sống, thắt lưng và cổ xương đùi. Với người có
    tuổi thường có nhiều bệnh lý của tuồi tác đi kèm như
    tim mạch, huyết áp, tiểu đường... và đặc biệt với tình
    trạng loãng xương nặng sẵn có (thiếu chất khoáng và
    protein của xương) thì việc liền xương thường rất khó
    khăn, đa số người bệnh phải nằm tại chỗ nhiều ngày,
    thậm chí phải nằm điều trị dài ngày trong bệnh viện.
    Việc nằm tại chỗ dài ngày khi gãy xương không
    những làm tình trạng loãng xương càng nặng lên mà
    còn kéo theo nhiều nguy cơ rất bất lợi cho sức khỏe
    người có tuổi như bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết
    niệu, loét mục ở các điểm tỳ đè... Đây cũng là một
    nguyên nhân chính gây tàn phế và giảm tuổi thọ cho
    người có tuổi (theo thống kê, ở các nước phát triển có
    Bệnh loãng xương và cách điều t r ị

    19

    đến 20% người có tuổi bị gãy cổ xương đùi sẽ tử vong
    trong vòng 6 tháng đầu vì các biến chứng do nằm lâu
    nêu trên).

    Bí mật về bộ xương của con người
    Cơ thể con người có tổng cộng 206 xương cả thảy.
    Tất cả các xương này hầu như đã xuất hiện từ lúc sinh
    ra. Cấu trúc cơ bản ban đầu của xương là sụn, tuy
    nhiên, chỉ vài tuần sau đó, sụn sẽ hóa xương và trở
    nên rắn chắc. Quá trình xương hóa sụn chủ yếu là việc
    gia tăng thành phần canxium (muối canxi phosphate)
    và dày đặc sỢi Collagen hơn. Quá trình này cần đến 20
    năm để hoàn chỉnh, có nghĩa là quá trình phát triển
    cùa xương sẽ diễn ra liên tục cho đến khi con người
    quá tuổi trưởng thành.
    Xương trẻ em thường nhỏ hơn xương người lớn và
    chứa nhiều vùng xương tăng trưởng hơn (các bản tăng
    trưởng). Các bản tăng trưởng này bao gồm các tế bào
    sụn có thể sinh sản nhanh, ngày càng dài hơn, ngày
    càng chắc và chứa nhiều khoáng chất hơn. Các bản
    tăng trưởng này rất dễ nhìn thấy trên ohim X-quang.
    Do nữ giới trưởng thành sớm hơn nam giới nên các
    bản tăng trưởng sẽ hóa xương sớm hơn.
    Xương luôn được tái tạo trong suốt cuộc đời, các
    tế bào xương mới liên tụr được tạo ra để thay thế cho
    các tế bào đã già cỗi. Xương có 3 loại tế bào cơ bản:
    nguyên bào xương dùng để tái tạo xương mới hoặc
    giúp sửa chữa các tổn thương của xương, tế bào xưctog
    2 0 LÊ ANH SƠN - biên soan

    dùng để lấy thức ăn từ các mạch máu nuôi xương và
    thải chất bã từ xứơng ra mạch máu, tế bào hủy xương
    có chức năng chỉnh hình cho xương. Các tế bào hủy
    xương rất linh động khi chúng ta còn nhỏ, lứa tuổi có
    nhiều sự chỉnh sửa, tổ chức lại xương. Chúng đóng vai
    trò quan trọng trong việc hàn gắn xương bị gãy.
    Các nguyên liệu cấu tạo nên xương bao gồm:
    canxium, phospho, natri, khoáng chất và sỢi collagen.
    Canxium cần thiết để tạo nên một bộ xương rắn chắc,
    có thể nâng đỡ được cơ thể. Xưctog là nơi tích trữ
    canxium để phóng thích vào dòng máu đến những nơi
    cần thiết. Lượng canxium và vitamin D được cung cấp
    qua thức ăn rất cần thiết cho xưctog.
    Phần cốt lõi bên trong xương gọi là tủy xưctog,
    chứa rất nhiều các tế bào gốc, các tế bào này có chức
    năng sản xuất ra hồng cầu và tiểu cầu cho máu.
    Xương được chia làm hai loại là phần rắn chắc và
    phần xương xốp. Xưchig rắn chắc cứng, bao bọc bên
    ngoài xương. Xương được bao bọc bởi màng xương,
    trên bề mặt xương rắn chắc thường có những khe
    rãnh chạy dọc theo chiều dài xương để tạo ra nhừng
    chỗ trú ẩn cho dây thần kinh và mạch máu. Xương
    xốp trông giống như tổ ong hoặc bọt biển, cấu trúc
    này nằm bên trong xương. Lấp đầy vào các hang hốc
    trong xương xốp là tủy xương, tủy xương thường có
    màu đỏ (chứa nhiều tế bào máu) ở gần các đầu xương
    còn ở phần thân xương thì tủy xương lại có màu vàng
    (chứa nhiều mỡ).
    Xương được gắn nối với các xương khác theo
    Bệnh loãng xương và cách diều t rị 2 ỉ

    chiều dài bởi các hệ thống dây chằng. Tại các đầu
    xương có 1 lớp sụn giống như cao su có tính đàn hồi
    chêm giữa các đầu xương trong các khớp để tránh ma
    sát và giảm chấn động mỗi khi các đầu xương chuyên
    động và va chạm vào nhau.
    Hình dáng của con người được xây dựng cơ bản
    bởi hệ thống xương. Từ hình dạng của đầu đến ngón
    chân đều được tạo nên bởi xương sọ và xương ngón
    chân. Xương còn có chức năng bảo vệ các thành phần
    quan trọng bên trong như: hộp sọ thì bảo vệ não bộ,
    cột sống bảo vệ tủy sống, lồng ngực bảo vệ tim gan...
    Mặc dù xương rất nhẹ nhưng cấu trúc của chúng rất
    cứng chắc để có thể nâng đỡ toàn bộ trọng lượng của
    cơ thể.

    Bộ xương, các loại xương và khớp xương người
    Các thành phần chính của bộ xương:
    Xương gồm 206 chiếc, dài ngắn khác nhau, hỢp
    lại tạo thành bộ xương nâng đỡ cơ thể, che chở cho các
    nội quan khỏi những chấn thương lý học. Bộ xương
    người chia làm ba phần là xương đầu (gồm các xưcfng
    mặt và khối xương sọ), xương thân (gồm xương ức,
    xương sườn và xương sống) và xương chi (xương chi
    trên - tay và xương chi dưới - chân). Tất cả gồm 300
    chiếc xương ở trẻ em và 206 xương ở người trưởng
    thành, dài, ngắn, dẹt khác nhau hỢp lại ở các khớp
    xương. Trong bộ xương còn có nhiều phần sụn. Khối
    xương sọ ở người gồm 8 xương ghép lại tạo ra hộp sọ
    2 2 LÊ ANH SƠN - biên soạn

    lớn chứa não. Xương mặt nhỏ, có xương hàm bớt thô
    so với động vật vì nhai thức ăn chín và không phải là
    vũ khí tự vệ. Sự hình thành lồi cằm liên quan đến các
    cơ vận động ngôn ngữ. Cột sống gồm 33 - 34 đốt sống
    khớp với nhau và cong ở 4 chỗ, thành 2 chữ s tiếp
    nhau giúp cơ thể đứng thẳng. Các xương sườn gắn với
    cột sống và gắn với xương ức tạo thành lồng ngực, bảo
    vệ tim và phổi. Xương tay và xương chân có các phần
    tương ứng với nhau nhưng phân hóa khác nhau phù
    hợp với chức năng đứng thẳng và lao động.

    Bộ xương người nhìn từ đằng trước
    Các loại xưctng
    Căn cứ vào hình dạng cấu tạo, người ta phân biệt
    3 loại xương là:
    * Xương dài: hình ống, giữa chứa tủy đỏ ở trẻ em
    và chứa mỡ vàng ở người trưởng thành như xương ống
    Bệnh loãng xương và cách điều trị 2 3

    tay, xương đùi, xương cẳng chân,... Loại xương này có
    nhiều nhất.
    * Xương ũgắn\ kích thước ngắn, chẳng hạn như
    xương đốt sống, xương cồ chân, cổ tay,...
    * Xương dẹt. hình bản dẹt, mỏng như xương bả
    vai, xương cánh chậu, các xương sọ. Loại xương này ít
    nhất.
    Các khớp xương
    Nơi tiếp giáp giữa các đầu xương gọi là khớp
    xương. Có ba loại khớp là: khớp động như các khớp ở
    tay, chân; khớp bán động như khớp các đốt sống và
    khớp bất động như khớp ở hộp sọ.
    * K bớp động: là loại khớp cử động dễ dàng và
    phổ biến nhất trong cơ thể người như khớp xưcmg đùi
    và xương chày, khớp xương cánh chậu và xương đùi.
    Mặt khớp ở mỗi xương có một lớp sụn trơn, bóng và
    đàn hồi, có tác dụng làm giảm sự cọ xát giữa hai đầu
    xương. Giữa khớp có một bao đệm chứa đầy chất dịch
    nhầy do thành bao tiết ra gọi là bao hoạt dịch. Bên
    ngoài khớp động là những dây chằng dai và đàn hồi,
    đi từ đầu xương này qua đầu xương kia làm thành bao
    kín để bọc hai đầu xương lại. Nhờ cấu tạo đó mà loại
    khớp này cử động dễ dàng. Khớp động phức tạp nhất
    trong cơ thể người là khớp gối.
    * K hớp băn động: là loại khớp mà giữa hai đầu
    xương khớp với nhau thường có một đĩa sụn làm hạn
    chế cử động của khớp. Khớp bán động điển hình là
    khớp đốt sống, ngoài ra còn có khớp háng: ở trẻ em.
    2 4 LÊ ANH SƠN - biên soan

    các đĩa sụn rất đàn hồi nên dễ uốn lưng mềm mại hay
    xoạc chân ra dễ dàng. Trái lại ở người trưởng thành và
    nhất là người già, các đĩa sụn dẹp lại làm cột sống khó
    cử động hơn, xoạc chân ra khó khăn.
    * Khớp bất động: trong cơ thể có một số xương
    được khớp cố định với nhau, như xương lộp sọ và một
    số xương mặt. Các xương này khớp với nhau nhờ các
    răng cưa nhỏ hoặc do những mép xương lợp lên nhau
    kiểu vảy cá nên khi cơ co không làm khớp cử động.
    Cấu tạo và tính chất của 3 loại xương dài, ngắn,
    dẹt
    Cấu tạo và chức năng của xương dài:
    Hai đầu xương là mô xương xốp có các nan xương
    xếp theo kiểu vòng cung, phân tán lực tác động và tạo
    ô chứa tủy đỏ xương. Bọc hai đầu xương là lớp sụn để
    giảm ma sát trong đầu xương. Đoạn giữa là thân
    xương. Thân xương hình ống, cấu tạo từ ngoài vào
    trong có: màng xương mỏng, mô xương cứng và
    khoang xương. Màng xương giúp xương phát triển về
    bề ngang. Mô xương cứng chịu lực, đảm bảo tính
    vững chắc cho xương. Khoang xương chứa tủy xương,
    ở trẻ em là tuỷ đỏ sinh hồng cầu; ở người trưởng
    thành tủy đỏ được thay bằng mô mỡ màu vàng nên
    gọi là tủy vàng.
    * Cấu tạo xương ngắn và xương dẹt:
    Xương ngắn và xương dẹt không có cấu tạo hình
    ống, bên ngoài là mô xương cứng, bên trong lớp mô
    xương cứng là mô xương xốp gồm nhiều nan xương và
    Bệnh loãng xương và cách điểu t rị

    2ÍĨ

    T
    hốc trống nhỏ (như mô xương xốp ở đầu xương dài)
    chứa tủy đỏ.
    Xương to ra về chiều ngang là nhờ các tế bào
    màng xương phân chia lạo ra những tế bào mới đẩy tế
    bào cũ vào trong rồi hóa xương. Xương dài ra là nhờ
    quá trình phân bào ở sụn tăng trưởng: ở tuối thiếu
    niên xương phát triển nhanh. Đến 1 8 - 2 0 tuổi ở nữ
    hoặc 20 - 25 tuổi đối với nam xương phát triển chậm
    lại; ở người trưởng thành, sụn tăng trưởng không còn
    khả năng hóa xương, vì thế người không cao thêm.
    Người già xương bị phân hủy nhanh hơn sự tạo thành,
    tỉ lệ cốt giao giảm, vì vậy xương người già xốp giòn và
    dễ gãy và nếu gãy thì xương phục hồi rất chậm, không
    chắc chắn.
    Thành phần hóa học và tính chất của xưctng
    Xương có hai đặc tính cơ bản: mềm dẻo và bền
    chắc. Nhờ tính mềm dẻo nên xương có thể chống lại
    các lực cơ học tác động vào cơ thể, nhờ tính bền chắc
    mà bộ xương có thể nâng đỡ cơ thể. Độ bền chắc của
    xương người trưởng thành có thể gấp 30 lần so với loại
    gạch tốt. Sở dĩ xương có được hai tính chất trên là nhờ
    vào thành phần hóa học. Xương được cấu tạo từ 2 chất
    chính: một loại chất hữu cơ gọi là cốt giao và một số
    chất vô cơ là các muối canxi. Chất khoáng làm cho
    xương bền chắc, cốt giao đảm bảo tính mềm dẻo. Tỉ lệ
    cốt giao thay đổi tùy theo tuổi. Trong xương người
    trưởng thành, cốt giao chiếm 1/3 còn các muối canxi
    chiếm khoảng 2/3. Nếu ta đem tách riêng hai chất này

    2(ĩ

    LÊ ANH SƠN - biên soan

    ihì xương không đạt đủ hai đặc tính trên. Thí nghiệm
    lấy hai xương đùi ếch; một xương ngâm trong dung
    dịch acid clohiđric (HCl) 10% để hòa tan hết các muối
    canxi, còn một xương đốt trên ngọn lửa đèn cồn để
    đốt cháy hết cốt giao. Sau 10- 15 phút lấy đoạn xương
    ngâm trong HCl 10% ra ta dễ dàng uốn cong, thậm chí
    thắt nút đoạn xương này lại được như một sỢi dây vì
    nó rất mềm. Đợi đến khi không còn khói bay lên ta
    tắt đền cồn rồi bóp nhẹ phần xương đã đốt thì thấy nó
    vỡ vụn ra. Tuy vậy khi lấy hai đoạn xương ra chúng
    vẫn giữ nguyên hình dạng: ở trẻ em, cốt giao lại
    chiếm tỉ lệ cao hơn so với muối canxi, vì vậy xương trẻ
    em mềm dẻo hơn xương người lớn.

    LOĂNG XƯƠNG

    Loãng xương là một rối loạn bất thường của
    xương, xảy ra ở bất kỳ xương nào, là yếu tố nguy cơ
    hàng đầu gây ra gây xương.
    Bệnh loãng xương và cách điều t rị

    2'/

    Xương bình thường được cấu tạo bằng protein
    collagen và canxium. Loãng xương là do tiêu hủy cả
    canxi và protein của xương, kết quả là tạo ra xương có
    chất lượng kém hay giảm độ đậm đặc của xương.
    Xương bị loãng có thể bị gãy dù chỉ một chấn thương
    nhỏ mà trong trường hỢp bình thường lại không bị.
    Gãy xương có thể xảy ra khi ngã, hoặc té cao.
    Xương sống, xương chậu, xương đùi, xương cổ tay
    là những vùng thường bị gãy khi té ngã. Mặt khác,
    gãy xương cũng có thể xảy ra ở những xương khác như
    xương sườn.
    Triệu chứng của loãng xương là gì?
    Loãng xương tiến triển chậm chạp hàng chục
    năm. Một số trường hợp loãng xương gây ra gãy xương
    có thể được phát hiện trong những năm sau đó. Trước
    khi bị gãy xương, nhiều bệnh nhân không biết mình
    bị loãng xư...
     
    Gửi ý kiến