CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
Các triều đại Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:23' 05-04-2024
Dung lượng: 780.8 KB
Số lượt tải: 13
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:23' 05-04-2024
Dung lượng: 780.8 KB
Số lượt tải: 13
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tên sách: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng
Thể loại: History
NXB: Thanh Niên
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
1.Việt Nam- Quốc Hiệu
Thời các vua Hùng (2879-258 trước công nguyên) nước ta gọi là Văn Lang. Thời Thục
An Dương Vương (257-207 trước công nguyên) gọi là âu Lạc. Thời nhà Đinh (968980) dẹp xong loạn 12 sứ quân, lập nên một nước độc lập, lấy tên là Đại Cổ Việt. Sang
thời Lý đổi là Đại Việt. Đến thời Nguyễn, vua Gia Long Nguyễn ánh, sau khi đánh bại
nhà Tây Sơn, đổi tên nước là Việt Nam. Một chi tiết khá lí thú là từ gần 500 năm trước,
ngay trang mở đầu tập "Trình tiên sinh quốc ngữ" của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ghi
"Việt Nam khởi tổ xây nền" khẳng định tên nước ta là Việt Nam. Một sự tiên đoán
chính xác 100%.
Cư dân cổ xưa ở nước ta là người Lạc Việt. Họ từ bờ biển Phúc Kiến (Trung Quốc) di
cư sang. Hàng năm, theo gió mùa, họ vượt đến các miền duyên hải ở phương Nam
như Hải Nam, vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã (Việt Nam). Họ thường tự sánh
mình với loài chim Lạc mà hàng năm, đầu mùa lạnh, chim cũng rời vùng biển Giang
Nam. Vì thế, người Việt lấy chim Lạc làm vật tổ. Cái tên của vật tổ ấy trở thành tên của
thị tộc. Sau nhiều năm vượt biển như vậy, người Lạc Việt đã ở lại miền Bắc Việt Nam.
Họ lấn lướt và đồng hóa với người Anh-đô-nê-diêng bản địa, phát triển theo dọc các
sông lớn và chiếm hầu hết những miền đất trung du Bắc Bộ, như Mê Linh, Tây Vu
(Vĩnh Phú), Liên Lâu (Bắc Ninh), trung du Thanh Hóa, Nghệ An và Đông Sơn (gần
Hàm Rồng Thanh Hóa).
Nước Việt Nam ở Đông Nam Châu á, Đông và Nam giáp biển, Tây giáp Lào, Cam-puchia, Bắc giáp Trung Quốc. Diện tích Việt Nam hiện nay khoảng 329600km2. Dân số
buổi đầu dựng nước chừng 50 vạn ngời. Đến thời Lý-Trần, chừng hơn 5 triệu và nay
hơn 70 triệu dân.
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều dân tộc. Ngoài người Kinh còn có 60 dân tộc
khác nhau cùng sinh sống. Căn cứ vào ngôn ngữ, chữ viết ta có thể phân bố các thành
phần dân tộc như sau:
1.Tiếng Môn - Khơme. Gồm nhiều nhóm người ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Quảng Trị...
2.Tiếng Thái gồm người Thái Tây Bắc, Thượng du Thanh Hóa, Nghệ An, khu Việt
Bắc, Quảng Ninh. Ngoài ra còn có nhóm người Giấy, Cao Lan, Lự v.v...
3.Tiếng Anh-đô-nê-diêng: Gồm người Chàm, Gia rai, ê - đê (Tây Nguyên).
4.Tiếng Mèo-Dao: Gồm người Mèo, Dao (Việt Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa).
5.Tiếng Tạng-Miến: Gồm người Lô Lô (Hà Giang), Hà Nhì, La Khụ, Cống, Xi La (Tây
Bắc).
6.Tiếng Hán: Người Hoa (Quảng Ninh), Sán Dìu (Hà Bắc, Bắc Thái v.v...)
2.NƯỚC VIỆT NAM THỜI DỰNG NƯỚC
Truyền Thuyết Kinh Dương Vương và Hồng Bàng Thị (2879-258 TCN)
Nước Văn Lang Và Các Vua Hùng
Nhà Thục Và Nước Âu Lạc
Theo truyền thuyết và sử cũ thì An Dương Vương tên là Thục Phán là cháu vua nước
Thục. Nước Thục này không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên thời Chiến Quốc
(Trung Quốc) mà là một bộ tộc đă tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với người Lạc
Việt và người Thái. Tục gọi là người Âu Việt. Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng Vương
có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên là Mị Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ
sang cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy
nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mị Nương, Thục Vương
căm giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào cũng phải diệt nước Văn Lang của vua
Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân đi đánh nước Văn Lang. Nhưng
vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đă đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: ta có
sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ lo yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi
thế, khi quân Thục lại kéo đến đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say.
Quân Thục đến gần, vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự
tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất.
Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An
Dương Vương, cải quốc hiệu làÂu Lạc, (tên hai nước Âu Việt và Lạc Việt ghép lại)
đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú).
An Dương Vương Dẹp Tần
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc thì Doanh Chính nước Tần đã kết thúc
mọi hỗn chiến đời Chiến Quốc, thống nhất nước Trung Hoa, lập nên một nhà nước
lớn mạnh. Để thỏa tham vọng mở mang lãnh thổ, Doanh Chính huy động lực lượng to
lớn phát động cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt.
Năm 218 trước công nguyên, Doanh Chính huy động 50 vạn quân chia làm 5 đạo đi
chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Việt, đạo quân thứ
nhất của quân Tần phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng Trung Quốc
ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, đạo quân chủ lực của quân Tần do tướng lừng
danh Đồ Thư thống lĩnh vào được đất Tây Âu, giết tù trưởng, chiếm đất rồi tiến vào
đất Lạc Việt. Nhân dân Lạc Việt biết không thể đương nổi quân Tần nên bỏ vào rừng
để bảo toàn lực lượng. Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn là lãnh tụ chung chỉ
huy cuộc kháng chiến này. Bởi vậy, khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào Lạc Việt,
chúng gặp khó khăn chồng chất. Quân địch tiến đến đâu, người Việt làm vườn không
nhà trống và tiến vào rừng đến đó. Chẳng mấy chóc, quân Tần lâm vào tình trạng
thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã mệt mỏi, chán nản và khổ sở vì thiếu
lương, khí hậu độc địa, thì người Việt do Thục Phán làm tướng mới bắt đầu xuất trận.
Chính chủ tướng Đồ Thư trong một trận giáp chiến đã bị bắn hạ. Mất chủ tướng, quân
địch hoang mang mở đường máu tháo chạy về nước. Như vậy, sau gần 10 năm lãnh
đạo nhân dân Âu Việt - Lạc Việt kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán đã
thực sự nắm chọn uy quyền tuyệt đối cả về quân sự lẫn chính trị, khiến cho uy tín của
Thục Vương càng được củng cố nâng cao. Từ vị trí ấy, Thục Vương có điều kiện thi
thố tài năng, dựng xây nước Âu Lạc hùng mạnh.
Thục An Dương Vương Xây Thành Cổ Loa, Công Trình Sáng Tạo Vĩ Đại...
Sau chiến công vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, Thục Vương quyết
định xây thành Cổ Loa.
Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ. Sau nhờ
có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh bò lại nhiều vòng dưới chân thành, Thục An
Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữa.
Sự thực về truyền thuyết đó như thế nào?
Thời ấy, tổ tiên ta chưa có gạch nung. Bởi vậy, thành Cổ Loa được xây bằng đất ở
chính địa phương. Thành có 9 vòng, chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng
trong 1,6 km... Diện tích thành trung tâm lên tới 2 km2. Thành được xây theo phương
pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt
ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ.
Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng 612m. Khối lượng đất đào đắp ước tính tới 2,2 triệu mét khối. Xem vậy công trình Cổ
loa thật đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu. Chính vì vậy,
việc xây thành Cổ Loa cực ḱ khó khăn. Thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Nhưng điều
đáng tự hào là cuối cùng thành đă đứng vững. Thục An Dương Vương đă biết dựa vào
những kinh nghiệm thực tế để gia cố nền, móng khắc phục khó khăn. Vết chân rùa
thần chính là bí mật đă được tổ tiên khám phá, xử lư. Ngày nay, khi xẽ dọc thành để
nghiên cứu, các nhà khảo cổ học thấy rõ chân thành được chẹn một lớp đá tảng. Ḥn
nhỏ có đường kính 15cm, ḥn lớn 60cm. Cần bao nhiều đá để sử dụng cho công trình?
Kĩ thuật xếp đá? Đây quả là một kỳ công.
Thành Cổ Loa chẳng những là một công trình đồ sộ, cổ nhất của dân tộc mà còn là
công trình hoàn bị về mặt quân sự. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy
đặc, tạo thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ thủy binh
hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp - Ngũ Huyền Khuê - Hoàng Giang thông với sông
Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh).
Bởi vậy, ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đă chiêu tập những thợ mộc
giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Với thuật đi sông vượt bể vốn là sở
trường của người Lạc Việt, chẳng mấy chốc, các đầm phá quanh thành Cổ Loa biến
thành quân cảng. Rồi nhân dân được điều tới khai phá vùng rừng đa (Gia Lâm), rừng
mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm) v.v... thành ruộng. Bên côn, kiếm, dáo, mác đủ
loại, bàn tay sáng tạo của cha ông đă chế tạo nỏ liên châu, mỗi phát bắn hàng chục
mũi tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật đúc đồng cổ đă được vua Thục khuyến khích.
Hàng chục vạn mũi tên đồng, những mũi tên lợi hại, có độ chính xác cao, kỹ thuật
tinh vi, dùng cho nỏ liên châu đă được bàn tay thợ tài hoa sản xuất tại đây.
Với vị trí thuận lợi ấy, với cách bố trí thành có 9 lớp xoáy trôn ốc, 18 ụ g ̣ cao nhô hẳn
ra chân lũy để có thể từ cao bắn xuống, với vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi
hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của Cổ Loa thời ấy thật đáng sợ.
Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt vời về trí tuệ của cha ông, là công trình sáng tạo kỳ
vĩ của dân tộc.
Triệu Đà, An Dương Vương Với Truyền Thuyết Nỏ Thần
Nhà Tần suy yếu, xă hội Trung Quốc bước vào thời kỳ loạn lạc. Ở các nơi, bọn phong
kiến cát cứ nổi lên tranh giành ngôi thứ, đánh lẫn nhau. Ở quận Nam Hải (vùng
Quảng Đông) có quan úy là Nhâm Ngao muốn đem quân đánh chiếm nước Âu Lạc
của Thục An Dương Vương. Nhưng âm mưu đó chưa thực hiện được thì Nhâm Ngao
chết. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà thay mình làm quan
úy quận Nam Hải. Bao phen Triệu Đà huy động binh mă, toan chiếm lấy Âu Lạc
nhưng đều thất bại. Vì An Dương Vương có thành Cổ Loa kiên cố, lại có nỏ thần
(Liên Châu) lợi hại nên quân Triệu Đà đông, thế Triệu Đà mạnh mà vẫn phải kinh
hoàng nh́n quân mình phơi xác dưới chân thành Âu Lạc. Triệu Đà dùng mưu giả hoà
hiếu, cho con trai là Trọng Thủy sang làm rể An Dương Vương để mưu phá nỏ thần.
Trọng Thủy - Mị Châu
Sự thật chuyện Mị Châu - Trọng Thủy như sau:
Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải muốn cướp nước Âu Lạc, đă bao lần đem quân sang
đánh nhưng đều đại bại. Triệu Đà thấy dùng binh không xong bèn xin giảng hoà với
An Dương và sai con là Trọng Thủy sang cầu thân. Trong những ngày đi lại để giả kết
tình ḥa hiếu, Trọng Thủy được gặp Mị Châu có sắc đẹp tuyệt vời, con gái yêu của
Thục An Dương Vương. Trọng Thủy đem lòng yêu Mị Châu. Mị Châu cũng dần dần
tha thiết yêu chàng. Hai người quấn quít bên nhau, không chỗ nào trong Loa Thành
Mị Châu không dẫn người yêu đến xem. An Dương Vương thấy đôi trẻ yêu nhau, rất
mừng, liền gả Mị Châu cho Trọng Thủy.
Một lần, trong câu chuyện tâm tình, Trọng Thủy hỏi vợ:
- Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được?
Mị Châu chân thành đáp:
- Âu Lạc chỉ có thành cao, hào sâu, lại có nỏ Liên Châu, bắn một phát hàng loạt mũi
tên bay đi có thể giết chết nhiều quân địch.
Trọng Thủy làm bộ ngạc nhiên vờ như mới nghe nói đến nỏ Liên Châu. Chàng ngỏ ý
muốn xem chiếc nỏ. Mị Châu không ngần ngại chạy đi lấy nỏ đem cho chồng xem.
Nàng lại còn chỉ dẫn cách thức bắn, cách bịt đồng cặn kẽ. Trọng Thủy chăm chú
nghe, nh́n khuôn khổ cái nỏ hồi lâu rồi đưa cho vợ cất đi.
Sau đó, Trọng Thủy xin phép An Dương Vương về thăm cha và thuật lại cho Triệu Đà
biết cách chế tạo nỏ Liên Châu.
Triệu Đà mừng rỡ reo lên:
- Phen này nước Âu Lạc tất về tay ta.
Lợi dụng mối tình trong trắng thiết tha của Mị Châu và sự lơ là mất cảnh giác của An
Dương Vương, cha con Triệu Đà đă nắm được bí mật của thành Cổ Loa và chế tạo
hàng loạt nỏ Liên Châu trang bị cho quân mình rồi cất quân đánh Âu Lạc.
An Dương Vương ỷ có vũ khí lợi hại, chủ quan không pḥng bị. Vì vậy, khi Triệu Đà
trong tay có nỏ Liên Châu, đem quân ồ ạt tiến đánh, quân Âu Lạc bị thua.
Từ mối tình trong trắng bị lợi dụng của Mị Châu đă dẫn đến kết cục bi thảm. Năm 208
trước công nguyên, Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc.
Thục An Dương Vương Bãi Chức Tướng Quân Cao Lỗ
Nhà Triệu Và Nước Âu Lạc (Năm 207-111 Trước Công Nguyên)
Nhà Triệu được lập từ năm 207, đến năm 111 trước công nguyên thì bị nhà Tây Hán
thôn tính, trải qua 5 đời vua:
- Triệu Vũ Nương (207-137 trước công nguyên)
- Triệu Văn Vương (137-125 trước công nguyên)
- Triệu Minh Vương (125-113 trước công nguyên)
- Triệu Ai Vương (113-112 trước công nguyên)
- Triệu Dương Vương (112-111 trước công nguyên)
Năm 111 trước công nguyên nhà Triệu mới mất nhưng từ năm 113 nội tình nhà Triệu
đă rất rối ren. Lúc đó, vua nhà Hán cho An quốc Thiếu Quí sang dụ Nam Việt về
chầu. Thiếu Quí nguyên là tình nhân của Cù Thị (hoàng hậu của vua Minh Vương)
nên họ tư thông với nhau và dụ dỗ Triệu Ai Vương dâng nước Nam Việt cho nhà Hán.
Việc làm đó bị tể tướng Lữ Gia phát hiện. Lữ Gia đă truyền hịch đi mọi nơi nói rõ sự
thật rồi cùng một số đại thần đem quân cấm binh vào giết chết sứ nhà Hán, Cù Thị và
vua Ai Cương, tôn Kiến Đức, con trưởng của Minh Vương lên làm vua, hiệu là Triệu
Dương Vương. Dương Vương làm vua được 1 năm thì bị vua Vũ Đế nhà Hán sai phục
ba tướng quân Lộ Bác Đức và Dương Bộc đem 5 đạo binh sang đánh lấy Nam Việt. Tể
tướng Lữ Gia chống không nổi bèn đem vua Dương Vương chạy trốn. Quân Hán đuổi
theo bắt được, vua tôi đều bị hại. Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt, đổi tên là Giao
Chỉ bộ.
3.NHÀ NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN
Giao Chỉ Và Nhà Tây Hán (111 Trước Công Nguyên - 39 Sau Công Nguyên)
Đấu Tranh Giành Độc Lập- Hai Bà Trưng Khởi Nghiệp(40-43)
May mắn thay, đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh (Vùng Hạ Lôi,
huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú) đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất (Gia đình họ
Trưng có nghề chăn tằm. Nghề chăn tằm gọi kén đầy là kén chắc kén mỏng là kén nhì.
Tên gọi Trắc và Nhị từ đó mà ra) và ở Chu Diên (Chu Diên nằm ở dọc sông Đáy, sông
Hồng, trên đất Hà Sơn Bình, Hà Nội, Hải Hưng ngày nay) là chàng trai Thi Sách dũng
mãnh. Bởi thế, mùa xuân năm ấy, khi mùa săn ở Mê Linh bắt đầu, quan lạc tướng Chu
Diên đã cho con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân
với họ Trưng . Ý quan lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên
liên kết được với nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ
Thi Sách - Trưng Trắc mà sức xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán,
khôi phục lại nước cũ của người Việt. Ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người,
Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của
người Việt: vợ chồng tuy thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất cũ của người ấy.
Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tướng
Chu Diên. Bởi hắn biết rõ, đằng sau cuộc hôn lễ là sự liên kết thế lực giữa hai miền đất
lớn của người Việt. Sự liên kết đang nhân bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà
Hán. Linh cảm thấy trước một cuộc biến sẽ xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê
Linh, Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem
đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu
của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết
trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh
cung nỏ, dao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành
voi cao, nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh trông thấy nữ chủ
tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ
tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô úy trị của
nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh lũy giặc
tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận Giao Chỉ của nhà Hán, ngày
càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương
nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống
đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy bay xa về Nam Hải
chịu tội với vua Hán. Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho
người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Trải qua hàng chục đời, nay đất nước của
vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả.
Trai gái rìu đồng, giáo sắc nắm chắc trong ray, những chiếc lông chim cắm ngất
ngưởng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng theo nhịp trống đồng dồn dập như không
bao giờ dứt. Tin thắng trận bay đi. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng nổi
lên theo về với Hai Bà Trưng.
Đất nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm vua, đóng đô ở
Mê Linh. Những nữ thủ lĩnh, nữ nam cừ súy được phong các chức tướng lĩnh rồi
người nào trở về đất ấy dốc sức cùng dân xây cuộc đời mới.
Trưng nữ vương quyết định miễn hẳn thuế khoá cho thiên hạ trong hai năm.
Năm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó tướng
cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang
đánh Trưng Vương.
Một trận quyết chiến tối sầm cả trời đất giữa 20 vạn quân của Mã Viện với dân binh
các làng chạ do Trưng Vương thống suất đã diễn ra ở Lăng Bạc (vùng từ Đông Triều
đến Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện đóng sẵn trên các triền đất cao giữa vùng
Lăng Bạc lầy lội chuẩn bị tiến công Mê Linh thì bị Trưng Vương đem quân tới chặn
đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã xuống trong trận đánh bất lợi này. Trưng Vương
thu quân về giữ Cấm Khê (Vùng Thạch Thất, Hà Nội và Quốc Oai, Hà Tây). Mã Viện
lại kéo tới, một loạt trận huyết chiến nữa lại nổ ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy.
Hơn 2 vạn người Việt nữa lại nằm xuống ở đây. Chiến trường chính chống lại cuộc đàn
áp man rợ của Mã Viện là 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tổng số dân mới có 91 vạn
cả trẻ già lớn bé. Vậy mà chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết và
bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để sống
mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương. Trong một trận đánh, sau khi
phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối cùng. Trưng Trắc, Trưng Nhị đã
gieo mình xuống dòng Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).
Nhà Đông Hán (25-220)
Mă Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ sát nhập vào nhà Đông Hán rồi
chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy
đến đó. Mă Viện cṇ cho dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới khắc sáu chữ: "Đồng
Trụ Triết, Giao Chỉ diệt"(Cây đồng trụ đổ th́ người Giao Chỉ mất ṇi). Người Giao Chỉ
đi qua chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân cột đồng trụ một ḥn đá. Về sau chỗ ấy thành g ̣ đá,
đến nay không cṇ biết cột ấy ở chỗ nào.
Cũng như nhà Tây Hán, nhà Đông Hán gộp miền đất Âu Lạc cũ thành Châu Giao gồm
3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, khoảng 50 huyện. Đứng đầu châu vẫn là thứ
sử từ Trung Quốc cử sang. Thứ sử có quyền cắt đặt quan lại, điều động binh lính ở
trong châu. Ở mỗi quận có chức thái thú cũng là người Hán. Bên dươiù quận là các
huyện. Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở cấp huyện bị băi bơ.
Thay cho các lạc tướng người Việt là những tên huyện lệnh người Hán. Luật cũ của
người Việt bị băi bỏ. Dân Việt buộc phải theo luật Hán. Chính quyền đô hộ đặc biệt
đẩy mạnh việc di dân Hán đến ở lẫn với dân Việt, bắt dân Việt phải theo phong tục tập
quán sống như người Hán. Chúng bắt dân ta học chữ Hán và tiếng Hán, truyền bá các
tư tưởng "thần phục thiên tử", "quy phục thiên triều".
Hàng năm, chúng bắt dân ta phải nộp cống nào sừng tê, ngà voi , gỗ trầm, ngọc trai,
đồi mồi, san hô, kể cả hoa quả quư như vải, nhăn, dứa v.v... Cả đến những thợ thủ
công tài hoa cũng bị trở thành đồ cống.
Sử ghi Sĩ Nhiếp mỗi năm thu hàng ngàn tấm vải cát bá, hàng trăm ngựa và nhiều thứ
lâm thổ sản quư khác. Tôn Tư đă bắt hàng ngàn thợ thủ công có tài, khéo nghề tinh
sảo sang xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh).
Truyện Trương Trọng
Trương Trọng, người quận Nhật Nam (Bình Trị Thiên, Quảng Nam) nhờ hay chữ nên
được viên thái thú Nhật Nam lấy vào làm thuộc lại trong quận.
Cuối năm 78, theo lệ nhà Hán, Trương Trọng được viên thái thú cử sang kinh đô Lạc
Dương (Hà Nam) để tâu bày công việc trong quận lên vua Hán.
Hán Minh Đế thấy Trương Trọng người thấp bé lại là dân "man di" bèn hỏi xách mé:
- Viên tiểu lại kia người quận nào?
Trương Trọng trong lòng khó chịu nhưng điềm tĩnh đáp:
- Tôi là người thay mặt thái thú quận Nhật Nam vào chầu vua chứ không phải một
viên tiểu lại. Bệ hạ muốn dùng người tài cán hai chỉ muốn đo xương thịt?
Bất ngờ bị đối thủ trả lời cứng cỏi lại đứng đắn vua Hán giận lắm nhưng không làm gì
được.
Mấy ngày sau, nhân tết Nguyên Đán, vua mở tiệc yến. Nhận thấy trong số các quan
vào chúc tết có Trương Trọng, vua Hán muốn rửa nhục bữa trước bèn hỏi Trương
Trọng:
- "Nhật Nam" có nghĩa là "phương Nam mặt trời". Ta nghe nói tất cả nhà cửa xứ ấy
đều quay về phương Bắc để trông thấy mặt trời có phải không?
Thấy vua Hán kiêu ngạo tự ví mình là mặt trời, bắt mọi người phải ngưỡng mộ sùng
bái, Trương Trọng quyết trả miếng. Bởi thế, trước trăm quan cùng một tâm địa cậy thế
nước lớn miệt thị nước nhỏ, Trương Trọng chậm rãi đáp:
- "Nhật Nam" không phải là phía Nam mặt trời. Một bậc túc nho không ai hiểu như
thế. Đất Trung Nguyên (Trung Quốc) có quận gọi là "Vân Trung" nhưng quận ấy có ở
trong mây đâu? Có quận gọi là "Kim Thành" nhưng có phải là thành xây bằng vàng
đâu? Ấy là đặt tên thế thôi chứ thực không phải như thế. Lại nữa, ở nơi nào thì mặt
trời cũng đều mọc ở đằng đông, kẻ thất phu cũng hiểu được như thế. Còn ở xứ Nhật
Nam không ai xoay về phương Bắc để trông thấy mặt trời. Ngược lại "lấy vợ hiền hoà,
làm nhà hướng Nam" là tục lệ của dân Nhật Nam. Chứ chẳng ai thay đổi được tục lệ
đó.
Vua Hán và quần thần ngây người trước câu đối đáp rắn rỏi, mạnh mẽ của viên sứ
thần có tầm vóc bé nhỏ mà trí tuệ lớn. Về sau Trương Trọng được vua Hán cho làm
thái thú quận Kim Thành.
Lư Tiến Và Lư Cầm Phá Lệ
Nhìn chung, các triều đại phong kiến Trung Quốc tự xem ḿnh là "Thiên Tử" coi dân
Việt là "man dợ" nên người Việt dẫu có học hành thông thái cũng không được trọng
dụng. Ngoài trường hợp Trương Trọng nói trên, măi đến đời vua Linh Đế (168-189)
cuối nhà Đông Hán, mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được cất nhắc làm thái thú
quận Giao Chỉ. Lư Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi làm quan bất ḱ
quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng vua Hán chỉ cho những người đổ Mậu Tài
hoặc Hiếu Liêm được làm quan trong xứ mà thôi. Lúc đó có người Giao Chỉ tên là Lư
Cầm, làm lính túc vệ trong cung, khẩn thiết xin vua Hán băi lệnh đó. Nói măi, vua
Hán mới cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu Tài đi làm quan lệnh ở Hạ Dương và một
người đỗ Hiếu Liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp.
Thực tế đất Âu Lạc từng có những người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan nhà Hán,
bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ khi Sĩ
Nhiếp (187-226) sang làm thái thú văn hoá mới phát triển, nền giáo dục mới được mở
mang là không đúng.
Nhà Đông Ngô (222-280)
Nhà Đông Hán mất, nước Trung Quốc phân làm 3 nước: Bắc Ngụy, Tây Thục và
Đông Ngô. Đất Giao Châu lúc đó lại thuộc về Đông Ngô. Nhà Đông Ngô vẫn cho Sĩ
Nhiếp làm thái thú.
Năm Bính Ngọ (926). Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng làm thái thú: Ngô chủ là
Tôn Quyền chia Giao Châu từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về
Nam gọi là Giao Châu. Sai Lữ Đại làm thứ sử Quảng Châu và Trần Th́ sang thay Sĩ
Huy làm thái thú quận Giao Chỉ. Bọn Đại Lương và Trần Th́ sang đế Hợp Phố th́ bị Sĩ
Huy đem quân ra chống giữ. Thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại một mặt đem binh sang
đánh dẹp, mặt khác cho người dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng liền
bị Lữ Đại bắt giết. Tôn Quyền lại hợp Quảng Châu và Giao Châu làm một và phong
cho Lữ Đại làm thứ sử.
Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248)
Bà Triệu, Triệu Trinh Nương hay Triệu Thị Trinh đều là tên các đời sau gọi người phụ
nữ anh hùng dân tộc hồi đầu thế kỷ thứ III. Theo dã sử, Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10
năm Bính Ngọ (225). Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng lớn ở miền núi
Quan Yên, quận Cửu Chân (Thanh Hoá). Ở đó cho đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều
truyền thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô. Đó là chuyện Bà
Triệu thu phục được con voi trắng một ngà, chuyện "Đá biết nói" rao truyền lời thần
dân mách bảo từ trên núi Quan Yên.
Có bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Bà Vương...
Triệu Thị Trinh là người có sức khoẻ, gan dạ và mưu trí. Năm 19 tuổi, bà cùng người
anh tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ Phú Điền (Hậu Lộc - Thanh Hoá). Đấy là một
thung lũng ở giữa hai núi đá vôi , vừa gần biển lại vừa là cửa ngõ từ đồng bằng phía
Bắc vào. Lúc đầu anh bà có ý can ngăn lo phận gái khó đảm đang trọng trách. Bà trả
lời:
- Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, giành
lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không thèm cuối đầu, còng lưng để làm tì thiếp người
ta.
Mến mộ Bà, nghĩa quân ngày đêm mài gươm luyện võ, chờ ngày nổi dậy:
"Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng".
Năm Mậu Thìn (248) nghĩa quân bắt đầu tấn công quân Ngô. Các thành ấp của quân
Ngô đều bị đánh phá tan tành. Bọn quan cai trị kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết. Từ Cửu
Chân, cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng. Thứ sử Châu Giao hoảng sợ bỏ chạy
mất tích. Sử sách của nhà Ngô phải thú nhận: "Toàn thể Châu Giao chấn động".
Mỗi lần ra trận, Triệu Thị Trinh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm vàng,
cưỡi voi dẫn quân xông trận, oai phong lẫm liệt. Quân Ngô kinh hồn, bạt vía đã phải
thốt lên:
Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan
Nghĩa là:
Vung giáo chống hổ dễ
Giáp mặt vua Bà khó
Hay tin khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng phái
ngay Lục Dận, một tướng từng kinh qua trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử.
Lục Dận đem thêm 8000 quân tinh nhuệ sang đàn áp. Lục Dận vừa đánh mạnh vừa
đem của cải chức tước ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một số kẻ giao
động mắc mưu theo địch. Mặc dầu vậy, Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau
với giặc không nào núng. Sau 6 tháng chống chọi vì có kẻ phản bội, bà đã hi sinh trên
núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hoá). Bấy giờ bà mới 23 tuổi.
Về sau, vua Lý Nam Đế khen là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là: "Bật
chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân". Nay ở Phú Điền (Thanh Hoá) còn có đền
thờ bà.
4.NƯỚC VẠN XUÂN ĐỘC LẬP
Nhà Tiền Lý (544-602)
Dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, nhà Ngô lấy đất Nam Hải , Thượng Ngô
và Uất Lâm làm Quảng Châu, đặt Châu trị ở Phiên Ngung, lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ,
Cửu Chân, Nhật Nam làm Giao Châu, đặt Châu trị ở Long Biên (Bắc Ninh). Đất Nam
Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao Châu và Quảng Châu từ đó.
Năm Ất Dậu (265), nhà Tấn đánh bại Ngụy, Thục , Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về
nhà Tấn. Nhà Tấn phong cho họ hàng ra trấn trị các nơi, nhưng các thân vương cứ dấy
binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em cốt nhục tương tàn, nước Tấn nhanh chóng
suy yếu. Nhân cơ hội ấy, các nước Triệu, nước Tần, nước Yên, nước Lương, nước Hạ,
nước Hán v.v...nổi lên chiếm lấy cả vùng phía Bắc sông Trường Giang, nhà Tấn chỉ
còn vùng đất ở Đông Nam, phải dời đô về Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay) gọi là
nhà Đông Tấn.
Năm Canh Thân (420), Lư Du cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía Nam.
Nước Trung Quốc phân ra làm Bắc Triều và Nam Triều. Bắc Triều có nhà Ngụy, nhà
Tề, nhà Chu, nối nhau làm vua. Nam Triều có nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương và nhà
Trần kế nghiệp trị vì. Năm Kỷ Mùi (479) nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp, trị vì
được 22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề.
Nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm thứ sử Giao Châu. Cũng như các triều đại phong kiến
Trung Quốc thuở trước, các viên quan lại nhà Lương sang cai trị Giao Châu đă áp
dụng những biện pháp khắt khe, độc ác khiến dân Giao Châu cực khổ trăm bề, mọi
người đều oán giận. Bởi vậy, năm 542, Lý Bôn đă lănh đạo dân Giao Châu nổi lên
đánh đuổi Tiêu Tư, chiếm giữ thành Long Biên, lập nên nhà nước độc lập đầu tiên.
Lý Bôn còn gọi là Lý Bí quê ở Long Hưng Thái Bình, xuất thân từ một hào trưởng địa
phương. Tổ tiên Lý Bí là người Trung Quốc, lánh nạn sang nước ta từ cuối thời Tây
Hán, khoảng đầu công nguyên. Trải qua 7 đời, đến Lý Bí thì dòng họ Lý đă ở Việt
Nam hơn 5 thế kỷ. Chính sử Trung Quốc đều coi Lý Bí là "Giao Châu thổ nhân".
Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quí Mùi (17-10-503). Ông là con độc nhất trong gia
đình. Bố là Lý Toản, trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh người Ái Châu (Thanh Hoá).
Từ nhỏ Lý Bí đă tỏ ra là cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha
mất; 7 tuổi mẹ qua đời. Cậu bé bất hạnh phải đến ở với chú ruột. Một hôm có vị Pháp
tổ thiền sư đi qua, trông thấy Lý Bí khôi ngôi, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa Linh
Bảo nuôi dạy. Quả hơn 10 năm đèn sách chuyên cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ
bảo, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu, ít người sánh kịp. Nhờ có tài văn võ
kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương. Có thời kỳ Lý Bí ra làm quan
cho nhà Lương, nhận chức giám quân (kiểm soát quân sự) ở Cửu Đức, Đức Châu
(Đức Thọ, Hà Tĩnh). Nhưng do bất bình với bọn đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê,
chiêu binh măi mă chống lại chính quyền đô hộ. Tù trưởng ở Chu Diên (Hải Hưng) là
Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, mến tài đức Lý Bí đă đem quân nhập với
đạo quân của ông. Rồi Tinh Thiều, Phạm Tu và hào kiệt các nơi cũng nổi dậy hưởng
ứng.
Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (542), Lý Bí khởi binh tấn công giặc. Không đương nổi
sức mạnh của đoàn quân khởi nghĩa, thứ sử Tiêu Tư khiếp sợ không dám chống cự,
vội mang của cải, vàng bạc đút lót cho Lý Bí xin được toàn tính mạng, chạy về Trung
Quốc. Không đầy 3 tháng, Lý Bí đă chiếm được hầu hết các quận, huyện và thành
Long Biên. Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân phản
công chiếm lại. Bọn xâm lược vừa kéo sang đă bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan.
Đầu năm Quí Dậu (543), vua Lương lại huy động binh mă xâm lược một lần nữa.
Tướng sĩ giặc khiếp sợ còn dùng dằng chưa dám tiến quân, thì Lý Bí đã chủ động ra
quân, đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố, miền cực Bắc Châu Giao. Quân Lương mười
phần chết bảy, tám. Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt
phải tự tử.
Tháng Hai năm Giáp Tý (544) Lý Bí tự xung hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên
nước là Vạn Xuân (ước muốn xă tắc truyền đến muôn đời), đặt kinh đô ở miền cửa
sông Tô Lịch (Hà Nội) và cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi vua quan họp bàn việc
nước. Triều đinh gồm có hai ban văn võ. Phạm Tu được cử đứng đầu hàng quan võ,
Tinh Thiều đứng đầu quan văn, Tr...
Tên sách: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng
Thể loại: History
NXB: Thanh Niên
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
1.Việt Nam- Quốc Hiệu
Thời các vua Hùng (2879-258 trước công nguyên) nước ta gọi là Văn Lang. Thời Thục
An Dương Vương (257-207 trước công nguyên) gọi là âu Lạc. Thời nhà Đinh (968980) dẹp xong loạn 12 sứ quân, lập nên một nước độc lập, lấy tên là Đại Cổ Việt. Sang
thời Lý đổi là Đại Việt. Đến thời Nguyễn, vua Gia Long Nguyễn ánh, sau khi đánh bại
nhà Tây Sơn, đổi tên nước là Việt Nam. Một chi tiết khá lí thú là từ gần 500 năm trước,
ngay trang mở đầu tập "Trình tiên sinh quốc ngữ" của Nguyễn Bỉnh Khiêm có ghi
"Việt Nam khởi tổ xây nền" khẳng định tên nước ta là Việt Nam. Một sự tiên đoán
chính xác 100%.
Cư dân cổ xưa ở nước ta là người Lạc Việt. Họ từ bờ biển Phúc Kiến (Trung Quốc) di
cư sang. Hàng năm, theo gió mùa, họ vượt đến các miền duyên hải ở phương Nam
như Hải Nam, vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã (Việt Nam). Họ thường tự sánh
mình với loài chim Lạc mà hàng năm, đầu mùa lạnh, chim cũng rời vùng biển Giang
Nam. Vì thế, người Việt lấy chim Lạc làm vật tổ. Cái tên của vật tổ ấy trở thành tên của
thị tộc. Sau nhiều năm vượt biển như vậy, người Lạc Việt đã ở lại miền Bắc Việt Nam.
Họ lấn lướt và đồng hóa với người Anh-đô-nê-diêng bản địa, phát triển theo dọc các
sông lớn và chiếm hầu hết những miền đất trung du Bắc Bộ, như Mê Linh, Tây Vu
(Vĩnh Phú), Liên Lâu (Bắc Ninh), trung du Thanh Hóa, Nghệ An và Đông Sơn (gần
Hàm Rồng Thanh Hóa).
Nước Việt Nam ở Đông Nam Châu á, Đông và Nam giáp biển, Tây giáp Lào, Cam-puchia, Bắc giáp Trung Quốc. Diện tích Việt Nam hiện nay khoảng 329600km2. Dân số
buổi đầu dựng nước chừng 50 vạn ngời. Đến thời Lý-Trần, chừng hơn 5 triệu và nay
hơn 70 triệu dân.
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều dân tộc. Ngoài người Kinh còn có 60 dân tộc
khác nhau cùng sinh sống. Căn cứ vào ngôn ngữ, chữ viết ta có thể phân bố các thành
phần dân tộc như sau:
1.Tiếng Môn - Khơme. Gồm nhiều nhóm người ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Quảng Trị...
2.Tiếng Thái gồm người Thái Tây Bắc, Thượng du Thanh Hóa, Nghệ An, khu Việt
Bắc, Quảng Ninh. Ngoài ra còn có nhóm người Giấy, Cao Lan, Lự v.v...
3.Tiếng Anh-đô-nê-diêng: Gồm người Chàm, Gia rai, ê - đê (Tây Nguyên).
4.Tiếng Mèo-Dao: Gồm người Mèo, Dao (Việt Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa).
5.Tiếng Tạng-Miến: Gồm người Lô Lô (Hà Giang), Hà Nhì, La Khụ, Cống, Xi La (Tây
Bắc).
6.Tiếng Hán: Người Hoa (Quảng Ninh), Sán Dìu (Hà Bắc, Bắc Thái v.v...)
2.NƯỚC VIỆT NAM THỜI DỰNG NƯỚC
Truyền Thuyết Kinh Dương Vương và Hồng Bàng Thị (2879-258 TCN)
Nước Văn Lang Và Các Vua Hùng
Nhà Thục Và Nước Âu Lạc
Theo truyền thuyết và sử cũ thì An Dương Vương tên là Thục Phán là cháu vua nước
Thục. Nước Thục này không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên thời Chiến Quốc
(Trung Quốc) mà là một bộ tộc đă tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với người Lạc
Việt và người Thái. Tục gọi là người Âu Việt. Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng Vương
có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên là Mị Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ
sang cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy
nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mị Nương, Thục Vương
căm giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào cũng phải diệt nước Văn Lang của vua
Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân đi đánh nước Văn Lang. Nhưng
vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đă đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: ta có
sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ lo yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi
thế, khi quân Thục lại kéo đến đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say.
Quân Thục đến gần, vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự
tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất.
Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An
Dương Vương, cải quốc hiệu làÂu Lạc, (tên hai nước Âu Việt và Lạc Việt ghép lại)
đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú).
An Dương Vương Dẹp Tần
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc thì Doanh Chính nước Tần đã kết thúc
mọi hỗn chiến đời Chiến Quốc, thống nhất nước Trung Hoa, lập nên một nhà nước
lớn mạnh. Để thỏa tham vọng mở mang lãnh thổ, Doanh Chính huy động lực lượng to
lớn phát động cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt.
Năm 218 trước công nguyên, Doanh Chính huy động 50 vạn quân chia làm 5 đạo đi
chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Việt, đạo quân thứ
nhất của quân Tần phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng Trung Quốc
ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, đạo quân chủ lực của quân Tần do tướng lừng
danh Đồ Thư thống lĩnh vào được đất Tây Âu, giết tù trưởng, chiếm đất rồi tiến vào
đất Lạc Việt. Nhân dân Lạc Việt biết không thể đương nổi quân Tần nên bỏ vào rừng
để bảo toàn lực lượng. Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn là lãnh tụ chung chỉ
huy cuộc kháng chiến này. Bởi vậy, khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào Lạc Việt,
chúng gặp khó khăn chồng chất. Quân địch tiến đến đâu, người Việt làm vườn không
nhà trống và tiến vào rừng đến đó. Chẳng mấy chóc, quân Tần lâm vào tình trạng
thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã mệt mỏi, chán nản và khổ sở vì thiếu
lương, khí hậu độc địa, thì người Việt do Thục Phán làm tướng mới bắt đầu xuất trận.
Chính chủ tướng Đồ Thư trong một trận giáp chiến đã bị bắn hạ. Mất chủ tướng, quân
địch hoang mang mở đường máu tháo chạy về nước. Như vậy, sau gần 10 năm lãnh
đạo nhân dân Âu Việt - Lạc Việt kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán đã
thực sự nắm chọn uy quyền tuyệt đối cả về quân sự lẫn chính trị, khiến cho uy tín của
Thục Vương càng được củng cố nâng cao. Từ vị trí ấy, Thục Vương có điều kiện thi
thố tài năng, dựng xây nước Âu Lạc hùng mạnh.
Thục An Dương Vương Xây Thành Cổ Loa, Công Trình Sáng Tạo Vĩ Đại...
Sau chiến công vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, Thục Vương quyết
định xây thành Cổ Loa.
Tục truyền rằng Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ. Sau nhờ
có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh bò lại nhiều vòng dưới chân thành, Thục An
Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữa.
Sự thực về truyền thuyết đó như thế nào?
Thời ấy, tổ tiên ta chưa có gạch nung. Bởi vậy, thành Cổ Loa được xây bằng đất ở
chính địa phương. Thành có 9 vòng, chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng
trong 1,6 km... Diện tích thành trung tâm lên tới 2 km2. Thành được xây theo phương
pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt
ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ.
Lũy cao trung bình từ 4-5m, có chỗ 8-12m. Chân lũy rộng 20-30m, mặt lũy rộng 612m. Khối lượng đất đào đắp ước tính tới 2,2 triệu mét khối. Xem vậy công trình Cổ
loa thật đồ sộ, trong khi khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu. Chính vì vậy,
việc xây thành Cổ Loa cực ḱ khó khăn. Thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Nhưng điều
đáng tự hào là cuối cùng thành đă đứng vững. Thục An Dương Vương đă biết dựa vào
những kinh nghiệm thực tế để gia cố nền, móng khắc phục khó khăn. Vết chân rùa
thần chính là bí mật đă được tổ tiên khám phá, xử lư. Ngày nay, khi xẽ dọc thành để
nghiên cứu, các nhà khảo cổ học thấy rõ chân thành được chẹn một lớp đá tảng. Ḥn
nhỏ có đường kính 15cm, ḥn lớn 60cm. Cần bao nhiều đá để sử dụng cho công trình?
Kĩ thuật xếp đá? Đây quả là một kỳ công.
Thành Cổ Loa chẳng những là một công trình đồ sộ, cổ nhất của dân tộc mà còn là
công trình hoàn bị về mặt quân sự. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dầy
đặc, tạo thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ thủy binh
hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp - Ngũ Huyền Khuê - Hoàng Giang thông với sông
Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh).
Bởi vậy, ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đă chiêu tập những thợ mộc
giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Với thuật đi sông vượt bể vốn là sở
trường của người Lạc Việt, chẳng mấy chốc, các đầm phá quanh thành Cổ Loa biến
thành quân cảng. Rồi nhân dân được điều tới khai phá vùng rừng đa (Gia Lâm), rừng
mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm) v.v... thành ruộng. Bên côn, kiếm, dáo, mác đủ
loại, bàn tay sáng tạo của cha ông đă chế tạo nỏ liên châu, mỗi phát bắn hàng chục
mũi tên. Cũng tại Cổ Loa, kỹ thuật đúc đồng cổ đă được vua Thục khuyến khích.
Hàng chục vạn mũi tên đồng, những mũi tên lợi hại, có độ chính xác cao, kỹ thuật
tinh vi, dùng cho nỏ liên châu đă được bàn tay thợ tài hoa sản xuất tại đây.
Với vị trí thuận lợi ấy, với cách bố trí thành có 9 lớp xoáy trôn ốc, 18 ụ g ̣ cao nhô hẳn
ra chân lũy để có thể từ cao bắn xuống, với vũ khí nỏ thần và những mũi tên đồng lợi
hại, sức mạnh quân sự tổng hợp của Cổ Loa thời ấy thật đáng sợ.
Thành Cổ Loa là sự đúc kết tuyệt vời về trí tuệ của cha ông, là công trình sáng tạo kỳ
vĩ của dân tộc.
Triệu Đà, An Dương Vương Với Truyền Thuyết Nỏ Thần
Nhà Tần suy yếu, xă hội Trung Quốc bước vào thời kỳ loạn lạc. Ở các nơi, bọn phong
kiến cát cứ nổi lên tranh giành ngôi thứ, đánh lẫn nhau. Ở quận Nam Hải (vùng
Quảng Đông) có quan úy là Nhâm Ngao muốn đem quân đánh chiếm nước Âu Lạc
của Thục An Dương Vương. Nhưng âm mưu đó chưa thực hiện được thì Nhâm Ngao
chết. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà thay mình làm quan
úy quận Nam Hải. Bao phen Triệu Đà huy động binh mă, toan chiếm lấy Âu Lạc
nhưng đều thất bại. Vì An Dương Vương có thành Cổ Loa kiên cố, lại có nỏ thần
(Liên Châu) lợi hại nên quân Triệu Đà đông, thế Triệu Đà mạnh mà vẫn phải kinh
hoàng nh́n quân mình phơi xác dưới chân thành Âu Lạc. Triệu Đà dùng mưu giả hoà
hiếu, cho con trai là Trọng Thủy sang làm rể An Dương Vương để mưu phá nỏ thần.
Trọng Thủy - Mị Châu
Sự thật chuyện Mị Châu - Trọng Thủy như sau:
Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải muốn cướp nước Âu Lạc, đă bao lần đem quân sang
đánh nhưng đều đại bại. Triệu Đà thấy dùng binh không xong bèn xin giảng hoà với
An Dương và sai con là Trọng Thủy sang cầu thân. Trong những ngày đi lại để giả kết
tình ḥa hiếu, Trọng Thủy được gặp Mị Châu có sắc đẹp tuyệt vời, con gái yêu của
Thục An Dương Vương. Trọng Thủy đem lòng yêu Mị Châu. Mị Châu cũng dần dần
tha thiết yêu chàng. Hai người quấn quít bên nhau, không chỗ nào trong Loa Thành
Mị Châu không dẫn người yêu đến xem. An Dương Vương thấy đôi trẻ yêu nhau, rất
mừng, liền gả Mị Châu cho Trọng Thủy.
Một lần, trong câu chuyện tâm tình, Trọng Thủy hỏi vợ:
- Nàng ơi, bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không ai đánh được?
Mị Châu chân thành đáp:
- Âu Lạc chỉ có thành cao, hào sâu, lại có nỏ Liên Châu, bắn một phát hàng loạt mũi
tên bay đi có thể giết chết nhiều quân địch.
Trọng Thủy làm bộ ngạc nhiên vờ như mới nghe nói đến nỏ Liên Châu. Chàng ngỏ ý
muốn xem chiếc nỏ. Mị Châu không ngần ngại chạy đi lấy nỏ đem cho chồng xem.
Nàng lại còn chỉ dẫn cách thức bắn, cách bịt đồng cặn kẽ. Trọng Thủy chăm chú
nghe, nh́n khuôn khổ cái nỏ hồi lâu rồi đưa cho vợ cất đi.
Sau đó, Trọng Thủy xin phép An Dương Vương về thăm cha và thuật lại cho Triệu Đà
biết cách chế tạo nỏ Liên Châu.
Triệu Đà mừng rỡ reo lên:
- Phen này nước Âu Lạc tất về tay ta.
Lợi dụng mối tình trong trắng thiết tha của Mị Châu và sự lơ là mất cảnh giác của An
Dương Vương, cha con Triệu Đà đă nắm được bí mật của thành Cổ Loa và chế tạo
hàng loạt nỏ Liên Châu trang bị cho quân mình rồi cất quân đánh Âu Lạc.
An Dương Vương ỷ có vũ khí lợi hại, chủ quan không pḥng bị. Vì vậy, khi Triệu Đà
trong tay có nỏ Liên Châu, đem quân ồ ạt tiến đánh, quân Âu Lạc bị thua.
Từ mối tình trong trắng bị lợi dụng của Mị Châu đă dẫn đến kết cục bi thảm. Năm 208
trước công nguyên, Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc.
Thục An Dương Vương Bãi Chức Tướng Quân Cao Lỗ
Nhà Triệu Và Nước Âu Lạc (Năm 207-111 Trước Công Nguyên)
Nhà Triệu được lập từ năm 207, đến năm 111 trước công nguyên thì bị nhà Tây Hán
thôn tính, trải qua 5 đời vua:
- Triệu Vũ Nương (207-137 trước công nguyên)
- Triệu Văn Vương (137-125 trước công nguyên)
- Triệu Minh Vương (125-113 trước công nguyên)
- Triệu Ai Vương (113-112 trước công nguyên)
- Triệu Dương Vương (112-111 trước công nguyên)
Năm 111 trước công nguyên nhà Triệu mới mất nhưng từ năm 113 nội tình nhà Triệu
đă rất rối ren. Lúc đó, vua nhà Hán cho An quốc Thiếu Quí sang dụ Nam Việt về
chầu. Thiếu Quí nguyên là tình nhân của Cù Thị (hoàng hậu của vua Minh Vương)
nên họ tư thông với nhau và dụ dỗ Triệu Ai Vương dâng nước Nam Việt cho nhà Hán.
Việc làm đó bị tể tướng Lữ Gia phát hiện. Lữ Gia đă truyền hịch đi mọi nơi nói rõ sự
thật rồi cùng một số đại thần đem quân cấm binh vào giết chết sứ nhà Hán, Cù Thị và
vua Ai Cương, tôn Kiến Đức, con trưởng của Minh Vương lên làm vua, hiệu là Triệu
Dương Vương. Dương Vương làm vua được 1 năm thì bị vua Vũ Đế nhà Hán sai phục
ba tướng quân Lộ Bác Đức và Dương Bộc đem 5 đạo binh sang đánh lấy Nam Việt. Tể
tướng Lữ Gia chống không nổi bèn đem vua Dương Vương chạy trốn. Quân Hán đuổi
theo bắt được, vua tôi đều bị hại. Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt, đổi tên là Giao
Chỉ bộ.
3.NHÀ NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN
Giao Chỉ Và Nhà Tây Hán (111 Trước Công Nguyên - 39 Sau Công Nguyên)
Đấu Tranh Giành Độc Lập- Hai Bà Trưng Khởi Nghiệp(40-43)
May mắn thay, đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh (Vùng Hạ Lôi,
huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú) đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất (Gia đình họ
Trưng có nghề chăn tằm. Nghề chăn tằm gọi kén đầy là kén chắc kén mỏng là kén nhì.
Tên gọi Trắc và Nhị từ đó mà ra) và ở Chu Diên (Chu Diên nằm ở dọc sông Đáy, sông
Hồng, trên đất Hà Sơn Bình, Hà Nội, Hải Hưng ngày nay) là chàng trai Thi Sách dũng
mãnh. Bởi thế, mùa xuân năm ấy, khi mùa săn ở Mê Linh bắt đầu, quan lạc tướng Chu
Diên đã cho con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân
với họ Trưng . Ý quan lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên
liên kết được với nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ
Thi Sách - Trưng Trắc mà sức xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán,
khôi phục lại nước cũ của người Việt. Ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người,
Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của
người Việt: vợ chồng tuy thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất cũ của người ấy.
Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tướng
Chu Diên. Bởi hắn biết rõ, đằng sau cuộc hôn lễ là sự liên kết thế lực giữa hai miền đất
lớn của người Việt. Sự liên kết đang nhân bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà
Hán. Linh cảm thấy trước một cuộc biến sẽ xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê
Linh, Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem
đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu
của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết
trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh
cung nỏ, dao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành
voi cao, nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh trông thấy nữ chủ
tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ
tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô úy trị của
nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh lũy giặc
tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận Giao Chỉ của nhà Hán, ngày
càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương
nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống
đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy bay xa về Nam Hải
chịu tội với vua Hán. Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho
người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Trải qua hàng chục đời, nay đất nước của
vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả.
Trai gái rìu đồng, giáo sắc nắm chắc trong ray, những chiếc lông chim cắm ngất
ngưởng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng theo nhịp trống đồng dồn dập như không
bao giờ dứt. Tin thắng trận bay đi. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng nổi
lên theo về với Hai Bà Trưng.
Đất nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm vua, đóng đô ở
Mê Linh. Những nữ thủ lĩnh, nữ nam cừ súy được phong các chức tướng lĩnh rồi
người nào trở về đất ấy dốc sức cùng dân xây cuộc đời mới.
Trưng nữ vương quyết định miễn hẳn thuế khoá cho thiên hạ trong hai năm.
Năm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó tướng
cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang
đánh Trưng Vương.
Một trận quyết chiến tối sầm cả trời đất giữa 20 vạn quân của Mã Viện với dân binh
các làng chạ do Trưng Vương thống suất đã diễn ra ở Lăng Bạc (vùng từ Đông Triều
đến Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện đóng sẵn trên các triền đất cao giữa vùng
Lăng Bạc lầy lội chuẩn bị tiến công Mê Linh thì bị Trưng Vương đem quân tới chặn
đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã xuống trong trận đánh bất lợi này. Trưng Vương
thu quân về giữ Cấm Khê (Vùng Thạch Thất, Hà Nội và Quốc Oai, Hà Tây). Mã Viện
lại kéo tới, một loạt trận huyết chiến nữa lại nổ ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy.
Hơn 2 vạn người Việt nữa lại nằm xuống ở đây. Chiến trường chính chống lại cuộc đàn
áp man rợ của Mã Viện là 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tổng số dân mới có 91 vạn
cả trẻ già lớn bé. Vậy mà chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết và
bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để sống
mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương. Trong một trận đánh, sau khi
phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối cùng. Trưng Trắc, Trưng Nhị đã
gieo mình xuống dòng Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).
Nhà Đông Hán (25-220)
Mă Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ sát nhập vào nhà Đông Hán rồi
chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy
đến đó. Mă Viện cṇ cho dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới khắc sáu chữ: "Đồng
Trụ Triết, Giao Chỉ diệt"(Cây đồng trụ đổ th́ người Giao Chỉ mất ṇi). Người Giao Chỉ
đi qua chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân cột đồng trụ một ḥn đá. Về sau chỗ ấy thành g ̣ đá,
đến nay không cṇ biết cột ấy ở chỗ nào.
Cũng như nhà Tây Hán, nhà Đông Hán gộp miền đất Âu Lạc cũ thành Châu Giao gồm
3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, khoảng 50 huyện. Đứng đầu châu vẫn là thứ
sử từ Trung Quốc cử sang. Thứ sử có quyền cắt đặt quan lại, điều động binh lính ở
trong châu. Ở mỗi quận có chức thái thú cũng là người Hán. Bên dươiù quận là các
huyện. Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở cấp huyện bị băi bơ.
Thay cho các lạc tướng người Việt là những tên huyện lệnh người Hán. Luật cũ của
người Việt bị băi bỏ. Dân Việt buộc phải theo luật Hán. Chính quyền đô hộ đặc biệt
đẩy mạnh việc di dân Hán đến ở lẫn với dân Việt, bắt dân Việt phải theo phong tục tập
quán sống như người Hán. Chúng bắt dân ta học chữ Hán và tiếng Hán, truyền bá các
tư tưởng "thần phục thiên tử", "quy phục thiên triều".
Hàng năm, chúng bắt dân ta phải nộp cống nào sừng tê, ngà voi , gỗ trầm, ngọc trai,
đồi mồi, san hô, kể cả hoa quả quư như vải, nhăn, dứa v.v... Cả đến những thợ thủ
công tài hoa cũng bị trở thành đồ cống.
Sử ghi Sĩ Nhiếp mỗi năm thu hàng ngàn tấm vải cát bá, hàng trăm ngựa và nhiều thứ
lâm thổ sản quư khác. Tôn Tư đă bắt hàng ngàn thợ thủ công có tài, khéo nghề tinh
sảo sang xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh).
Truyện Trương Trọng
Trương Trọng, người quận Nhật Nam (Bình Trị Thiên, Quảng Nam) nhờ hay chữ nên
được viên thái thú Nhật Nam lấy vào làm thuộc lại trong quận.
Cuối năm 78, theo lệ nhà Hán, Trương Trọng được viên thái thú cử sang kinh đô Lạc
Dương (Hà Nam) để tâu bày công việc trong quận lên vua Hán.
Hán Minh Đế thấy Trương Trọng người thấp bé lại là dân "man di" bèn hỏi xách mé:
- Viên tiểu lại kia người quận nào?
Trương Trọng trong lòng khó chịu nhưng điềm tĩnh đáp:
- Tôi là người thay mặt thái thú quận Nhật Nam vào chầu vua chứ không phải một
viên tiểu lại. Bệ hạ muốn dùng người tài cán hai chỉ muốn đo xương thịt?
Bất ngờ bị đối thủ trả lời cứng cỏi lại đứng đắn vua Hán giận lắm nhưng không làm gì
được.
Mấy ngày sau, nhân tết Nguyên Đán, vua mở tiệc yến. Nhận thấy trong số các quan
vào chúc tết có Trương Trọng, vua Hán muốn rửa nhục bữa trước bèn hỏi Trương
Trọng:
- "Nhật Nam" có nghĩa là "phương Nam mặt trời". Ta nghe nói tất cả nhà cửa xứ ấy
đều quay về phương Bắc để trông thấy mặt trời có phải không?
Thấy vua Hán kiêu ngạo tự ví mình là mặt trời, bắt mọi người phải ngưỡng mộ sùng
bái, Trương Trọng quyết trả miếng. Bởi thế, trước trăm quan cùng một tâm địa cậy thế
nước lớn miệt thị nước nhỏ, Trương Trọng chậm rãi đáp:
- "Nhật Nam" không phải là phía Nam mặt trời. Một bậc túc nho không ai hiểu như
thế. Đất Trung Nguyên (Trung Quốc) có quận gọi là "Vân Trung" nhưng quận ấy có ở
trong mây đâu? Có quận gọi là "Kim Thành" nhưng có phải là thành xây bằng vàng
đâu? Ấy là đặt tên thế thôi chứ thực không phải như thế. Lại nữa, ở nơi nào thì mặt
trời cũng đều mọc ở đằng đông, kẻ thất phu cũng hiểu được như thế. Còn ở xứ Nhật
Nam không ai xoay về phương Bắc để trông thấy mặt trời. Ngược lại "lấy vợ hiền hoà,
làm nhà hướng Nam" là tục lệ của dân Nhật Nam. Chứ chẳng ai thay đổi được tục lệ
đó.
Vua Hán và quần thần ngây người trước câu đối đáp rắn rỏi, mạnh mẽ của viên sứ
thần có tầm vóc bé nhỏ mà trí tuệ lớn. Về sau Trương Trọng được vua Hán cho làm
thái thú quận Kim Thành.
Lư Tiến Và Lư Cầm Phá Lệ
Nhìn chung, các triều đại phong kiến Trung Quốc tự xem ḿnh là "Thiên Tử" coi dân
Việt là "man dợ" nên người Việt dẫu có học hành thông thái cũng không được trọng
dụng. Ngoài trường hợp Trương Trọng nói trên, măi đến đời vua Linh Đế (168-189)
cuối nhà Đông Hán, mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được cất nhắc làm thái thú
quận Giao Chỉ. Lư Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi làm quan bất ḱ
quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng vua Hán chỉ cho những người đổ Mậu Tài
hoặc Hiếu Liêm được làm quan trong xứ mà thôi. Lúc đó có người Giao Chỉ tên là Lư
Cầm, làm lính túc vệ trong cung, khẩn thiết xin vua Hán băi lệnh đó. Nói măi, vua
Hán mới cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu Tài đi làm quan lệnh ở Hạ Dương và một
người đỗ Hiếu Liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp.
Thực tế đất Âu Lạc từng có những người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan nhà Hán,
bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ khi Sĩ
Nhiếp (187-226) sang làm thái thú văn hoá mới phát triển, nền giáo dục mới được mở
mang là không đúng.
Nhà Đông Ngô (222-280)
Nhà Đông Hán mất, nước Trung Quốc phân làm 3 nước: Bắc Ngụy, Tây Thục và
Đông Ngô. Đất Giao Châu lúc đó lại thuộc về Đông Ngô. Nhà Đông Ngô vẫn cho Sĩ
Nhiếp làm thái thú.
Năm Bính Ngọ (926). Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng làm thái thú: Ngô chủ là
Tôn Quyền chia Giao Châu từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về
Nam gọi là Giao Châu. Sai Lữ Đại làm thứ sử Quảng Châu và Trần Th́ sang thay Sĩ
Huy làm thái thú quận Giao Chỉ. Bọn Đại Lương và Trần Th́ sang đế Hợp Phố th́ bị Sĩ
Huy đem quân ra chống giữ. Thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại một mặt đem binh sang
đánh dẹp, mặt khác cho người dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng liền
bị Lữ Đại bắt giết. Tôn Quyền lại hợp Quảng Châu và Giao Châu làm một và phong
cho Lữ Đại làm thứ sử.
Cuộc Khởi Nghĩa Của Triệu Thị Trinh (248)
Bà Triệu, Triệu Trinh Nương hay Triệu Thị Trinh đều là tên các đời sau gọi người phụ
nữ anh hùng dân tộc hồi đầu thế kỷ thứ III. Theo dã sử, Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10
năm Bính Ngọ (225). Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng lớn ở miền núi
Quan Yên, quận Cửu Chân (Thanh Hoá). Ở đó cho đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều
truyền thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô. Đó là chuyện Bà
Triệu thu phục được con voi trắng một ngà, chuyện "Đá biết nói" rao truyền lời thần
dân mách bảo từ trên núi Quan Yên.
Có bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Bà Vương...
Triệu Thị Trinh là người có sức khoẻ, gan dạ và mưu trí. Năm 19 tuổi, bà cùng người
anh tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ Phú Điền (Hậu Lộc - Thanh Hoá). Đấy là một
thung lũng ở giữa hai núi đá vôi , vừa gần biển lại vừa là cửa ngõ từ đồng bằng phía
Bắc vào. Lúc đầu anh bà có ý can ngăn lo phận gái khó đảm đang trọng trách. Bà trả
lời:
- Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, giành
lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không thèm cuối đầu, còng lưng để làm tì thiếp người
ta.
Mến mộ Bà, nghĩa quân ngày đêm mài gươm luyện võ, chờ ngày nổi dậy:
"Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng".
Năm Mậu Thìn (248) nghĩa quân bắt đầu tấn công quân Ngô. Các thành ấp của quân
Ngô đều bị đánh phá tan tành. Bọn quan cai trị kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết. Từ Cửu
Chân, cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng. Thứ sử Châu Giao hoảng sợ bỏ chạy
mất tích. Sử sách của nhà Ngô phải thú nhận: "Toàn thể Châu Giao chấn động".
Mỗi lần ra trận, Triệu Thị Trinh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm vàng,
cưỡi voi dẫn quân xông trận, oai phong lẫm liệt. Quân Ngô kinh hồn, bạt vía đã phải
thốt lên:
Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan
Nghĩa là:
Vung giáo chống hổ dễ
Giáp mặt vua Bà khó
Hay tin khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng phái
ngay Lục Dận, một tướng từng kinh qua trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử.
Lục Dận đem thêm 8000 quân tinh nhuệ sang đàn áp. Lục Dận vừa đánh mạnh vừa
đem của cải chức tước ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một số kẻ giao
động mắc mưu theo địch. Mặc dầu vậy, Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau
với giặc không nào núng. Sau 6 tháng chống chọi vì có kẻ phản bội, bà đã hi sinh trên
núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hoá). Bấy giờ bà mới 23 tuổi.
Về sau, vua Lý Nam Đế khen là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là: "Bật
chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân". Nay ở Phú Điền (Thanh Hoá) còn có đền
thờ bà.
4.NƯỚC VẠN XUÂN ĐỘC LẬP
Nhà Tiền Lý (544-602)
Dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, nhà Ngô lấy đất Nam Hải , Thượng Ngô
và Uất Lâm làm Quảng Châu, đặt Châu trị ở Phiên Ngung, lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ,
Cửu Chân, Nhật Nam làm Giao Châu, đặt Châu trị ở Long Biên (Bắc Ninh). Đất Nam
Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao Châu và Quảng Châu từ đó.
Năm Ất Dậu (265), nhà Tấn đánh bại Ngụy, Thục , Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về
nhà Tấn. Nhà Tấn phong cho họ hàng ra trấn trị các nơi, nhưng các thân vương cứ dấy
binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em cốt nhục tương tàn, nước Tấn nhanh chóng
suy yếu. Nhân cơ hội ấy, các nước Triệu, nước Tần, nước Yên, nước Lương, nước Hạ,
nước Hán v.v...nổi lên chiếm lấy cả vùng phía Bắc sông Trường Giang, nhà Tấn chỉ
còn vùng đất ở Đông Nam, phải dời đô về Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay) gọi là
nhà Đông Tấn.
Năm Canh Thân (420), Lư Du cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía Nam.
Nước Trung Quốc phân ra làm Bắc Triều và Nam Triều. Bắc Triều có nhà Ngụy, nhà
Tề, nhà Chu, nối nhau làm vua. Nam Triều có nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương và nhà
Trần kế nghiệp trị vì. Năm Kỷ Mùi (479) nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp, trị vì
được 22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề.
Nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm thứ sử Giao Châu. Cũng như các triều đại phong kiến
Trung Quốc thuở trước, các viên quan lại nhà Lương sang cai trị Giao Châu đă áp
dụng những biện pháp khắt khe, độc ác khiến dân Giao Châu cực khổ trăm bề, mọi
người đều oán giận. Bởi vậy, năm 542, Lý Bôn đă lănh đạo dân Giao Châu nổi lên
đánh đuổi Tiêu Tư, chiếm giữ thành Long Biên, lập nên nhà nước độc lập đầu tiên.
Lý Bôn còn gọi là Lý Bí quê ở Long Hưng Thái Bình, xuất thân từ một hào trưởng địa
phương. Tổ tiên Lý Bí là người Trung Quốc, lánh nạn sang nước ta từ cuối thời Tây
Hán, khoảng đầu công nguyên. Trải qua 7 đời, đến Lý Bí thì dòng họ Lý đă ở Việt
Nam hơn 5 thế kỷ. Chính sử Trung Quốc đều coi Lý Bí là "Giao Châu thổ nhân".
Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quí Mùi (17-10-503). Ông là con độc nhất trong gia
đình. Bố là Lý Toản, trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh người Ái Châu (Thanh Hoá).
Từ nhỏ Lý Bí đă tỏ ra là cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha
mất; 7 tuổi mẹ qua đời. Cậu bé bất hạnh phải đến ở với chú ruột. Một hôm có vị Pháp
tổ thiền sư đi qua, trông thấy Lý Bí khôi ngôi, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa Linh
Bảo nuôi dạy. Quả hơn 10 năm đèn sách chuyên cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ
bảo, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu, ít người sánh kịp. Nhờ có tài văn võ
kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương. Có thời kỳ Lý Bí ra làm quan
cho nhà Lương, nhận chức giám quân (kiểm soát quân sự) ở Cửu Đức, Đức Châu
(Đức Thọ, Hà Tĩnh). Nhưng do bất bình với bọn đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê,
chiêu binh măi mă chống lại chính quyền đô hộ. Tù trưởng ở Chu Diên (Hải Hưng) là
Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, mến tài đức Lý Bí đă đem quân nhập với
đạo quân của ông. Rồi Tinh Thiều, Phạm Tu và hào kiệt các nơi cũng nổi dậy hưởng
ứng.
Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (542), Lý Bí khởi binh tấn công giặc. Không đương nổi
sức mạnh của đoàn quân khởi nghĩa, thứ sử Tiêu Tư khiếp sợ không dám chống cự,
vội mang của cải, vàng bạc đút lót cho Lý Bí xin được toàn tính mạng, chạy về Trung
Quốc. Không đầy 3 tháng, Lý Bí đă chiếm được hầu hết các quận, huyện và thành
Long Biên. Được tin Long Biên thất thủ, vua Lương lập tức hạ lệnh cho quân phản
công chiếm lại. Bọn xâm lược vừa kéo sang đă bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan.
Đầu năm Quí Dậu (543), vua Lương lại huy động binh mă xâm lược một lần nữa.
Tướng sĩ giặc khiếp sợ còn dùng dằng chưa dám tiến quân, thì Lý Bí đã chủ động ra
quân, đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố, miền cực Bắc Châu Giao. Quân Lương mười
phần chết bảy, tám. Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt
phải tự tử.
Tháng Hai năm Giáp Tý (544) Lý Bí tự xung hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên
nước là Vạn Xuân (ước muốn xă tắc truyền đến muôn đời), đặt kinh đô ở miền cửa
sông Tô Lịch (Hà Nội) và cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi vua quan họp bàn việc
nước. Triều đinh gồm có hai ban văn võ. Phạm Tu được cử đứng đầu hàng quan võ,
Tinh Thiều đứng đầu quan văn, Tr...
 





