VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    Giáo án học kì 1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: nguyễn thị tâm
    Ngày gửi: 17h:12' 01-05-2024
    Dung lượng: 126.0 KB
    Số lượt tải: 54
    Số lượt thích: 0 người
    TIẾT 28,29: VĂN BẢN ĐỌC
    XÚY VÂN GIẢ DẠI (TRÍCH CHÈO KIM NHAM)
    I. MỤC TIÊU
    1. Về kiến thức
    Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để xác định: Lối nói, làn điệu, chỉ dẫn sân
    khấu, nhân vật và hành động của nhân vật. Cụ thể:

    - Xác định lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại việc Xúy Vân giả dại
    - Phân tích lời nói, câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:

    Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
    Ước mơ về cuộc sống gia đình của nàng
    Thực tế cuộc sống của nàng trong gia đình chồng

    - Phân tích tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò, trong lời hát điệu con
    gà rừng, trong lời than, lời hát ngược
    - Nêu được quan điểm về nhân vật Xúy Vân (Đáng thương hay Đáng trách)

    - Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện làm
    nền cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở chèo, tầm quan trọng của diễn xuất

    gồm hát, múa và các hình thức biểu cảm trong vở chèo
    2. Về năng lực:
    Học sinh vận dụng tri thức về chèo và tuồng để đọc hiểu văn bản theo thể
    loại
    3. Về phẩm chất: Học sinh tìm hiểu thêm ý nghĩa về đời sống văn hóa làng xã
    Việt Nam, liên hệ về số phận người phụ nữ xưa và nay.
    II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
    1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
    2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
    III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
    1. Ổn định lớp:
    2. Kiểm tra bài cũ: kiểm tra sự chuẩn bị của HS
    3. Bài mới:
    TỔ CHỨC THỰC HIỆN
    SẢN PHẨM
    1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ
    a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội dung bài học
    b. Nội dung thực hiện:
    ❖ GV cho HS chơi trò chơi "Mảnh ghép"

    ❖ HS chơi trò chơi.
    Bước 1. Giao nhiệm vụ học GV linh hoạt sử dụng câu trả lời của HS để dẫn dắt vào bài
    tập

    học.
    Trò chơi "Mảnh ghép": Chèo

    Giáo viên phổ biến luật chơi.
    Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ

    Khái niệm

    phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ

    Học sinh tham gia trò chơi.
    Bước 3. Báo cáo, thảo luận

    Là một loại hình kịch hát dân gian,

    Nghệ thuật chèo

    Mang tính tổng hợp, phối hợp giữa

    Học sinh tạo tâm thế

    nói, hát, múa và đạo cụ, nhạc khí,

    Bước 4. Kết luận, nhận định



    Giáo viên chốt ý và dẫn dắt
    vào bài học.

    Nhân vật

    Gồm nhiều hạng người trong xã

    hội, tự biểu hiện mình bằng động
    tác và điệu hát múa đặc trưng.
    Tích trò

    Là yếu tố quan trọng nhất, được
    xây dựng dựa vào truyện cổ tích,
    truyện thơ Nôm,…

    Lời hát chèo

    Là lời ca dao, "bẻ" theo làn điệu
    chèo.

    Nhạc chèo

    Lấy từ các làn điệu dân ca đồng
    bằng Bắc Bộ

    2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
    a. Mục tiêu hoạt động:
    Học sinh nhận biết và phân tích được một số yếu tố của văn bản chèo hoặc tuồng
    như: đề tài, tính vô danh, tích truyện, nhân vật, lời thoại, phương thức lưu truyền
    Học sinh đánh giá được vị trí của thể loại trong nền văn học dân gian Việt Nam nói
    riêng và văn học Việt Nam nói chung.
    Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để xác định: Lối nói, làn điệu, chỉ dẫn sân
    khấu, nhân vật và hành động của nhân vật. Cụ thể:
    Xác định lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại việc Xúy Vân giả dại
    Phân tích lời nói, câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:
    Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
    Ước mơ về cuộc sống gia đình của nàng
    Thực tế cuộc sống của nàng trong gia đình chồng
    Phân tích tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò, trong lời hát điệu con gà
    rừng, trong lời than, lời hát ngược
    Nêu được quan điểm về nhân vật Xúy Vân (Đáng thương hay Đáng trách)
    Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện làm nền
    cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở chèo, tầm quan trọng của diễn xuất gồm hát,
    múa và các hình thức biểu cảm trong vở chèo
    b. Nội dung thực hiện:

    Học sinh tiến hành chia nhóm tìm hiểu về từng vị thần bằng nhiều hình thức
    khác nhau



    Học sinh thuyết trình – GV chốt ý và đánh giá sản phẩm

    Bước 1. Giao nhiệm vụ
    học tập
    Giáo viên chia lớp thành 6
    nhóm, mỗi nhóm nhận
    nhiệm vụ tìm hiểu một vấn
    đề của văn bản
    Nhóm 1. Xác định lối nói,
    làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn
    sân khấu kể lại việc Xúy
    Vân giả dại
    Nhóm 2. Phân tích lời nói,
    câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:

    Sự nhập vai điên dại
    của Xúy Vân

    Ước mơ về cuộc
    sống gia đình của nàng

    Thực tế cuộc sống
    của nàng trong gia đình
    chồng
    Nhóm 3. Phân tích tâm
    trạng của Xúy Vân qua
    tiếng gọi chờ đò, trong lời
    hát điệu con gà rừng, trong
    lời than, lời hát ngược
    Nhóm 4. Phân tích cảnh
    ngộ đời sống cũng như

    I. CHÈO
    1. Khái niệm
    Sân khấu chèo bắt nguồn từ nền văn nghệ dân gian của
    cộng đồng người Việt từ thuở xa xưa trên Đồng bằng
    sông Hồng. Nghệ thuật chèo đã hấp thu tinh hoa nghệ
    thuật văn hóa dân gian của người Việt cổ để hình thành
    một loại hình sân khấu dân tộc độc đáo mà không thể
    nhầm lẫn với bất cứ nghệ thuật nào trên thế giới.
    Sách giáo khoa Cánh diều, Ngữ văn 10 Tập 1 định
    nghĩa:
    - Chèo cổ (còn gọi là chèo sân đình, chèo truyền
    thống) thuộc thể loại sân khấu dân gian, ra đời từ
    xa xưa, phát triển mạnh mẽ ở vùng đồng bằng Bắc
    Bộ.
    - Chèo cổ phản ánh đời sống vật chất, tâm hồn, tình
    cảm con người trong xã hội phong kiến: Ca ngợi
    phẩm chất tốt đẹp, phê phán các thói hư tật xấu, thể
    hiện sâu sắc tinh thần nhân văn.
    2. Tích trò
    - Tích chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, truyện
    cười. Lời hát chèo thường là lấy lời ca dao “bẻ” theo
    làn điệu hát chèo. Nhạc chèo lấy từ các làn điệu dân ca
    đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Múa chèo lấy từ các
    điệu múa trong dân gian, cách điệu nghệ thuật trên cơ
    sở những động tác lao động của nhân dân: cày, cấy, gặt
    hái, xe tơ, dệt vải, vá may…
    - Là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất của vở chèo, làm
    điểm tựa cho toàn bộ hoạt động biểu diễn, tuy có tính
    ổn định nhưng vẫn để ngỏ khả năng thêm thắt, bổ sung
    cho diễn viên.

    niềm mong ước của Xúy
    Vân và nêu nhận xét về
    nhân vật
    Câu hỏi mở rộng nhóm
    1,2,3,4: Nhận xét hành
    động giả dại của Xúy Vân
    – HS thảo luận
    Nhóm 5. Đặc điểm của sân
    khấu chèo qua đoạn xưng
    danh của Xúy Vân
    Nhóm 6. Đặc điểm của
    ngôn ngữ chèo được thể
    hiện qua đoạn trích
    Câu hỏi mở rộng cho
    nhóm 5,6: Đặc trưng nghệ
    thuật chèo được biểu hiện
    trong đoạn trích như thế
    nào?
    Thời gian: 10 phút
    Chia sẻ: 3 phút
    Thảo luận và phản biện: 3
    phút
    Bước 2. Thực hiện nhiệm
    vụ
    Học sinh thảo luận và thực
    hiện bài làm bằng nhiều
    hình thức khác nhau tùy
    chọn
    Bước 3. Báo cáo, thảo
    luận
    Học sinh trình bày phần bài
    làm

    3. Đặc trưng
    a. Đặc điểm tổ chức biểu diễn: Đơn vị biểu diễn chèo
    là phường, còn gọi là “phường chèo”, hay gọi là “gánh
    chèo”. Gọi là “gánh” vì mọi phường chèo đi biểu diễn
    thường mang một gánh đồ. Một phường chèo thường đi
    từ 10 đến 12 người. Người đứng đầu thường được gọi là
    ông trùm, bà trùm hay là “trưởng trò”. Chủ yếu là nông
    dân, chỉ khi nông nhàn thì họ mới gồng gánh hòm đồ
    lên đường đi “xin đám” – xin biểu diễn vào các dịp.
    b. Sân khấu biểu diễn: Đơn giản, thô sơ, được lập ở
    trước bàn thờ hoặc ngoài sân đình, có thể ở bất cứ chỗ
    nào, miễn là rộng rãi, bằng phẳng, thuận lợi cho người
    diễn, người xem
    c. Lối kể chuyện:
    - Chèo thường được đưa lên sân khấu cả một chuyện có
    đầu có cuối. Chèo thường dựa vào sự tích truyện cổ dân
    gian có sẵn
    - Thời gian trong chèo tiến triển tuần tự như các tình
    tiết trong truyện cổ, không thể đảo lộn trật tự thời gian
    như trong kịch hiện đại
    - Lối kể chuyện sân khấu giống lối kể chuyện trong cổ
    tích, chèo chú trọng nhiều vào diễn biến tình tiết câu
    chuyện mà ít đi vào phân tích tâm lí nhân vật như ở
    kịch hiện đại.
    - Chèo phản ánh cuộc sống bằng phương pháp tự sự tạo
    nên sự rung cảm sâu sắc cho người xem
    d. Nhân vật chèo: Nhân vật chèo không xa lạ với đời
    sống thường ngày của người dân lao động xưa, gồm
    nhiều hạng người trong xã hội, có địa vị, nghề nghiệp,
    giới tính, tuổi tác khác nhau. Xét theo tính cách, nhân
    vật chèo được phân thành hai loại chính: vai chín (tích
    cực) và vai lệch (tiêu cực). Mỗi loại nhân vật thường tự
    biểu hiện mình bằng một số điệu hát và động tác múa
    đặc trưng.

    Bước 4. Kết luận, nhận e. Nội dung tư tưởng:
    định
    - Chèo nêu những mâu thuẫn trong xã hội phong kiến,
    GV chốt lại các ý cơ bản
    phê phán những thói xấu, những hạng người xấu, phê
    phán những gì trái với đạo đức, tâm lý xã hội
    - Chèo thể hiện lòng yêu mến, quý trọng con người đặc
    biệt là đề cao người phụ nữ - lớp người mà giai cấp
    phong kiến cho là thấp hèn nhất. Vấn đề trọng tâm
    trong chèo là vấn đề đạo đức. Chèo phê phán những
    người phụ nữ kém đạo đức.
    - Khao khát hạnh phúc là thứ tình cảm chính đáng của
    con người nhưng luôn bị kiềm chế bởi những quan
    niệm hôn nhân phong kiến vô lý và nghiệt ngã

    I.

    TÁC PHẨM CHÈO KIM NHAM

    1. Bố cục
    Có thể chia đoạn trích thành
    3 phần:
    + Phần 1: Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến “ai biết là
    ai?”).
    + Phần 2: Xuý Vân xưng danh (từ “bước chân vào” đến
    “Ờ”).
    + Phần 3: Xuý Vân giãi bày (đoạn còn lại).
    2. Lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại
    việc Xúy Vân giả dại
    Tác giả dân gian đã sử dụng:
    - Lối nói: như nói lệch, vỉa, nói điệu sử rầu, nói.
    (Nói lệch: Một lối nói có giọng điệu riêng trong chèo,
    thường được dùng để tạo không khí sôi nổi hoặc gấp

    gáp
    Lời hát vỉa: Là lời hát nối vào để bắt vào nhịp lời hát
    chính
    Điệu sử rầu: Một lối nói có giọng điệu ngâm nga,
    chậm rãi, thường được dùng ở những lớp chèo giàu tính
    trữ tình, khi nhân vật giãi bày tâm sự)
    - Làn điệu: Quá giang, con gà rừng, sắp, sa lệch, hát
    ngược.
    (Quá giang: Sang sông, hát gọi đò, thường diễn tả tâm
    trạng hụt hẫng của nhân vật
    Con gà rừng: Thường diễn tả tâm trạng bất bình, uất
    ức của nhân vật
    Hát sắp: Một điệu hát tươi vui, rộn rã, trái ngược với
    tâm trạng nhân vật trong lời hát
    Hát sa lệch: Điệu hát chèo thiết tha, ý nhị
    Hát ngược: Thường được dùng để diễn tả tâm trạng
    điên loạn của nhân vật, lời hát được khai thác từ loại ca
    dao nói ngược)
    - Vũ điệu: Múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi.
    - Chỉ dẫn sân khấu: Đế (Chên xem giao tiếp với khán
    giả)
    3. Nhân vật Xúy Vân
    a. Nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy
    Vân
    + Nguyên nhân trực tiếp: Lời xúi dục và hứa hẹn ngon
    ngọt của Trần Phương – gã người tình trăng hoa và đểu
    cáng (nguyên nhân này có thể được nhận biết một phần
    qua những chi tiết ngoài văn bản, ở đoạn tóm tắt tác
    phẩm và một phần qua chính đoạn xưng danh của Xuý
    Vân trong văn bản).
    + Nguyên nhân sâu xa: nỗi buồn chán, cô đơn khi phải
    sống xa chồng và niềm khát khao cảnh sống êm đềm,
    hạnh phúc của Xuý Vân

    b. Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
    - “Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười
    Tôi không trăng gió gặp người gió trăng
    Gió trăng thời mặc gió trăng
    Ai ơi giữ lấy đạo hằng đừng quên”
    - “Chẳng giấu gì Xúy Vân là tôi
    Tuy dại dột, tài cao vô giá
    Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ
    Ai cũng gọi cô à Xúy Vân
    Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương
    Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”
    => Tâm trạng khao khát vượt thoát nhưng lại lo âu, dằn
    vặt. Lời hát thể hiện hai nét tâm trạng vừa sợ sự lên án
    của người đời, vừa mong cầu sự đồng cảm cho ước
    vọng hạnh phúc nhỏ nhoi của nhân vật.
    c. Ước mơ về cuộc sống gia đình
    - Chờ cho bông lúa chín vàng
    Để anh đi gặt, để nàng mang cơm
    - Rủ nhau lên núi Thiên Thai
    Thấy hai con quạ đang ăn xoài trên cây
    Ba cô bán mắm trong làng
    Mắm không bán hết, còn quang với thùng
    => Cuộc sống vợ chồng trong tưởng tượng của Xúy
    Vân đầm ấm, ríu rít, hạnh phúc bình dị và tươi sáng.
    => Hình ảnh đôi lứa quấn quýt, thể hiện rõ khát khao
    hạnh phúc của nhân vật.
    d. Thực tế cuộc sống của Xúy Vân ở nhà chồng
    - Con gà rừng ăn lẫn với công
    Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
    - Bông bông dắt, bông bông díu
    Xa xa lắc, xa xa líu
    Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên
    => Bộc lộ nỗi uất ức, bất bình trước thực tại.

    e. Tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò,
    trong lời hát điệu con gà rừng, trong lời than, lời hát
    ngược
    * Qua điệu “hát ngược”
    + Điều dễ thấy trước hết ở đây là rất nhiều đối tượng,
    sự vật được nhắc đến nhưng giữa chúng không có mối
    liên hệ gì với nhau. Có cảm tưởng Xuý Vân đã tiện đâu
    nói đó, nhớ gì nói nấy, mỗi câu nói như một mảnh rời,
    được gán ghép với nhau một cách lộn xộn.
    + Điều thứ hai là mọi sự đã được nhân vật nhìn theo
    một logic ngược, phải đảo lại hoàn toàn thì mới đúng
    với ghi nhận của tri giác thông thường:
    “Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,
    Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,
    Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây” ...
    ⇨ Tất cả những điều trên dễ dàng đưa đến cho người
    nghe, người đọc cảm giác rằng người nói quả thực
    là một kẻ điên hoặc không bình thường.
    => NT: tác giả dân gian đã khéo vận dụng những bài ca
    dao nói ngược đầy tính hài hước vốn khá phổ biến trong
    kho tàng ca dao, chẳng hạn: “Bước sang tháng Sáu giá
    chân/ Tháng Chạp nằm trần bức đổ mồ hôi/ Con chuột
    kéo cày lồi lồi/ Con trâu bốc gạo vào ngồi trong
    cong” ... Hoặc: “Trời mưa cho mối bắt gà/ Thòng đong
    cân cấn đuổi cò lao xao/ Lươn nằm cho trúm bò vào/
    Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô”, ...
    * Qua lời hát quá giang:
    - Ở đây, ta vừa thấy một Xuý Vân buông xuôi, thuận
    theo sự chi phối của hoàn cảnh

    “Cách con sông nên tôi phải lụy đò”
    - Vừa thấy một Xuý Vân muốn phản kháng “Chả nên
    gia thất thì về,/ Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn
    cười.”.
    - Đặc biệt, bên cạnh một Xuý Vân buông thả theo
    chuyện “gió trăng” là một Xuý Vân luôn có nỗi hổ thẹn
    ngấm ngầm, muốn thanh minh, phân bua và cũng biết
    tự dặn lòng cần giữ tiết “Tôi chắp tay lạy bạn đừng
    cười,/ Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng./Gió
    trăng thời mặc gió trăng,/ Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ
    quên.”.
    - Đoạn lời thoại thể hiện mâu thuẫn giằng xé trong nội
    tâm của nhân vật Xúy Vân nhất là từ “Bước chân vào
    tôi thưa rằng vậy” đến “Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”.
    Trong văn bản, Xúy Vân nói với mọi người mà nàng
    gọi là “chị em”, cũng như đang tự vấn chính mình.
    Nàng tự xưng tên họ, nói bản thân có “tài cao vô giá”,
    “hát hay đã lạ”, được gọi là “cô ả Xúy Vân”, cho thấy ở
    nàng một cô gái xinh đẹp, hát hay, đáng trân trọng. Thế
    nhưng lại rơi vào nỗi đau khổ khi trót bỏ chồng để đi
    theo một người đàn ông phụ bạc, “phụ Kim Nham, say
    đắm Trần Phương”. Một bên là người con gái đang tuổi
    xuân thi, với một bên là nỗi đau đớn tủi nhục vì bị
    ruồng bỏ, sự đối lập này đã cho thấy rõ tâm trạng ân
    hận của Xúy Vân, chính bi kịch ấy đã đẩy nàng “đến
    nỗi điên cuồng, rồ dại”. Nỗi ân hận của Xúy Vân tuy
    muộn màng nhưng cũng cho thấy sự thức tỉnh của nhân
    vật, điều đó thể hiện nàng đã nhận ra lỗi lầm của mình,
    đang đấu tranh đau khổ với nỗi ân hận và đau đớn khi
    đã phụ bạc Kim Nham.
    * Qua điệu “con gà rừng”
    - Nỗi đắng cay, tấm tức của Xuý Vân khi bị đặt vào một
    hoàn cảnh không được như ý, có cái gì như là sự cọc
    cạch, bất tương xứng, chẳng khác tình trạng “Con gà
    rừng ăn lẫn với công”.

    - Sâu trong lòng, nàng chỉ ao ước được sống trong cảnh
    vợ chồng sum họp, hoà thuận:
    “Chờ cho bông lúa chín vàng,
    Để anh đi gặt, để nàng mang cơm”.
    - Việc lặp lại hai dòng “Bông bông dắt, bông bông díu,
    Xa xa lắc, xa xa líu” nhằm diễn tả cảm giác vui vầy,
    ríu rít của đôi vợ chồng được cùng làm lụng bên nhau,
    giúp đỡ nhau (theo tưởng tượng, ước mong hơn là
    theo thực tế), thì việc lặp lại dòng “Láng giềng ai hay,
    ức bởi xuân huyên” (cách quãng, dòng đặt giữa đoạn,
    dòng đặt cuối đoạn) lại nhằm biểu đạt nỗi ấm ức, bất
    bình trước thực tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên
    bấy nhiêu.
    - Từ “ức” là tiếng đệm trong câu hát, vừa mô phỏng
    tiếng kêu của con gà nghẹn thóc, vừa mang nghĩa bất
    bình, uất ức. Nói chung, sự xen kẽ giữa niềm vui và
    nỗi buồn trong tâm trạng Xuý Vân đã thể hiện rất rõ
    khát khao hạnh phúc của nhân vật. Đó là điều cần
    được cảm thông.
    NHẬN XÉT
    - Trong xã hội Việt Nam xưa, con người cá nhân chưa
    được tôn trọng. Điều đó dẫn tới việc những đòi hỏi về
    quyền tự quyết lối sống hay quyền lựa chọn người mình
    yêu thường bị phán xét một cách nghiêm khắc. Với
    người phụ nữ, những khát vọng mang tính chất “vượt
    rào” lại càng bị ngăn trở, cấm đoán ngặt nghèo. Đây là
    nguyên nhân chính khiến Xuý Vân phải che giấu động
    cơ và mong muốn thật của mình dưới một hình thức
    tiêu cực là giả dại.
    * Qua điệu hát xưng danh
    - Xưng danh là hình thức giới thiệu, thể hiện nhân vật
    rất riêng biệt của sân khấu dân gian Việt Nam, không
    chỉ có trong chèo mà còn có cả trong tuồng nữa. Hình
    thức xưng danh này đáp ứng yêu cầu của khán giả bình
    dân muốn nắm bắt nhanh chóng về loại, đặc điểm và

    vai trò của nhân vật, ngay từ lúc nhân vật vừa xuất hiện
    trên sân khấu (nhân vật thuộc vai chín (tích cực) hay vai
    lệch (tiêu cực), tính cách ra sao, có vị trí thế nào trong
    tích trò). Khi đã được nghe những lời xưng danh, khán
    giả không còn phải bỏ nhiều công để suy đoán về tính
    cách của nhân vật nữ để có thể tập trung theo dõi nghệ
    thuật trình diễn (múa, hát) của diễn viên (sự thực, sau
    màn xưng danh, diễn viên chỉ cố sức thể hiện như thế
    nào cho nổi bật điều đã được báo trước qua những câu
    chào hỏi).
    - Nội dung xưng danh thường cho biết một cách rất khái
    quát về danh tính, quê quán, thân phận, gia cảnh, tính
    cách... của nhân vật, trong đó, ngay cả nét xấu của nhân
    vật cũng được nói ra rất tự nhiên (ví dụ, Xuý Vân đã
    nói về mình: “Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,
    Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại.”). Từ góc nhìn của một
    khán giả, độc giả hiện đại, cách tự giới thiệu này có vẻ
    không logic, nhưng đối với người xưa, nó đã được chấp
    nhận như một quy ước nghệ thuật. Qua lời chào hỏi
    kiểu như: “Chị em ơi/ Ra đây có phải xưng danh không
    nhỉ?” và tiếng đế: “Không xưng danh, ai biết là ai?”,
    có thể nhận ra giữa khán giả và sân khấu không có
    khoảng cách nào đáng kể. Nói cách khác, sân khấu là
    một không gian được hình thành tự nhiên giữa vòng
    vây của khán giả, gây cảm tưởng diễn viên là người vừa
    bước tách ra khỏi đám đông để lên sàn diễn. Trong khi
    đó, những khán giả còn lại không hề giữ vai trò thụ
    động vì họ vẫn có thể tham gia vở diễn ở một số hoạt
    động nhất định (chẳng hạn tạo tiếng đế sau lời hỏi của
    nhân vật – diễn viên).
    4. Đặc điểm của ngôn ngữ chèo được thể hiện qua
    đoạn trích
    - Trong chèo, lời thoại của nhân vật có thể được thể
    hiện bằng hình thức của lời nói thường hoặc hình thức

    Hoạt động 3: Tổng kết
    Bước 1: Chuyển giao
    nhiệm vụ: Hoạt động cá
    nhân
    - GV sử dụng kĩ thuật viết
    01 phút để yêu cầu HS tóm
    tắt những đặc sắc về nội
    dung và nghệ thuật của văn
    bản “Xúy Vân giả dại”.
    - Từ đó em rút ra để đọc
    hiểu một văn bản chèo,
    chúng ta cần lưu ý điều gì?

    của thơ.
    - Ở phần lớn trường hợp, giữa hai hình thức này có sự
    kết hợp linh hoạt. Những lời thoại có hình thức thơ mà
    người đọc nhận thấy trên văn bản sẽ được hát lên theo
    các làn điệu khác nhau khi diễn viên thể hiện trên sân
    khấu. Bóng dáng của thơ bốn chữ hay thơ lục bát
    thường hiện diện trong lời thoại của nhân vật với nhiều
    biến đổi ở cách ngắt nhịp và số tiếng, một phần có thể
    do sự chi phối của điệu hát hay ngữ điệu của lời nói
    thường. Có khi, ta gặp ở đây những cặp lục bát theo
    đúng mô hình chuẩn như: “Gió trăng thời mặc gió
    trăng, Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên” hay: “Chờ cho
    bông lúa chín vàng/ Để anh đi gặt, để nàng mang cơm”.
    Nhưng cũng nhiều khi ta gặp những cặp hoặc đoạn lục
    bát biến thể: “Chiếc trống cơm, ai khéo vỗ nên bông,
    Một đàn các cô con gái lội sông té bèo”...
    - Ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa: “Bông bông dắt, bông
    bông díu/ Xa xa lắc, xa xa líu”
    - Cách nói ví von giàu tính tự sự trữ tình: “Tôi không
    trăng gió lại gặp người gió trăng”, “chờ cho bông lúa
    chín vàng”, “con cá rô nằm vũng chân trâu/ để cho năm
    bảy cần câu châu vào” …
    III. Tổng kết
    1. Nghệ thuật
    - Ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, sinh động với lời
    nói, lời hát…
    - Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ, hành
    động, đặc biệt là qua diễn biến tâm trạng.
    - Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế.
    - Sử dụng các chỉ dẫn sân khấu.
    2. Nội dung
    - Dựng lên chân dung nhân vật Xúy Vân đầy bi kịch,
    qua đó phản ánh số phận đau khổ của người phụ nữ
    trong xã hội phong kiến.
    - Lên án xã hội phong kiến xưa, đồng thời đòi quyền

    (Nêu được ít nhất 03 điều
    được hưởng hạnh phúc cho người phụ nữ.
    trong đọc hiểu văn bản
    3. Cách đọc hiểu văn bản chèo
    chèo).
    - Cốt truyện: văn bản kể lại sự việc gì và diễn biến của
    Bước 2: Thực hiện nhiệm sự việc đó như thế nào?
    vụ.
    - Nhân vật: Nhân vật chính là ai? Nhân vật được thể
    - HS suy nghĩ cá nhân và hiện qua các chi tiết ngôn ngữ, hành động, tâm trạng…
    ghi ra giấy câu trả lời trong như thế nào?
    01 phút.
    - Xác định được những chỉ dẫn sân khấu, các hình ảnh,
    GV hướng theo dõi, từ ngữ, biện pháp tu từ… được sử dụng để tái hiện bối
    hỗ trợ (nếu HS gặp khó cảnh, hành động, tâm trạng… của nhân vật.
    khăn).
    - Rút ra nội dung tư tưởng của vở chèo: Vở chèo phản
    Bước 3: Báo cáo, thảo
    ánh nội dung gì? Thể hiện tình cảm nhân đạo gì của tác
    luận
    giả dân gian?
    Tổ chức trao đổi, trình bày - Rút ra được thông điệp, bài học cho bản thân.
    nội dung đã thảo luận.
    Bước 4: Đánh giá, kết
    luận
    GV chuẩn kiến thức.
    3. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
    a. Mục tiêu hoạt động: Dựa vào nội dung tìm hiểu về đoạn trích, học sinh vận dụng
    để rèn luyện kĩ năng viết.
    b. Nội dung thực hiện
    Học sinh thực hành kết nối đọc – viết
    Bước 1. Giao nhiệm vụ Bài làm tham khảo
    học tập
    Tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng chờ đò, trong điệu
    - Giáo viên giao nhiệm vụ: hát con gà, trong lời than, lời hát ngược. Nàng day dứt
    Viết đoạn văn khoảng 150 về những việc mình làm, nhưng có khi tự thấy mình đã
    chữ, trình bày suy nghĩ của lỡ làng, dở dang, bẽ bàng, tự thấy mình lạc lõng, cô
    bạn về nỗi niềm của nhân đơn, vô nghĩa trong gia đình chồng, những nỗi thất
    vật Xúy Vân được thể hiện vọng trước mâu thuẫn giữa ước mơ hạnh phúc gia đình
    qua lớp chèo Xúy Vân giả đầm ấm với thực tế bị chồng xao nhãng, bỏ bê vì mải
    dại
    mê đèn sách. Nàng còn trách duyên trách phận, duyên
    - Thời gian: 20 phút.
    phận dắt díu, ràng buộc họ với nhau, nhưng khát vọng
    Bước 2. Thực hiện nhiệm của họ không gặp nhau. Chính vì thế nàng có cảm thấy
    vụ
    ấm ức, cô đơn, quẫn bách, nỗi tủi phận vì những áp lực

    Học sinh thực hiện bài làm
    viết kết nối đọc
    Bước 3. Báo cáo, thảo
    luận
    Học sinh trình bày phần bài
    làm của mình
    Bước 4. Kết luận, nhận
    định
    GV chốt lại các chia sẻ, lựa
    chọn các chia sẻ tốt để cả
    lớp tham khảo

    tứ phía, khó khăn đè lên đôi vai nàng trong khi ấy Xúy
    Vân không có một người người sẻ chia những điều đó.
    Những câu nói ngược, đầy những phi lí, nghịch dị khơi
    gợi về một thực trạng nội tâm xáo trộn, bất ổn, đầy trớ
    trêu. Xúy Vân dường như rơi vào trạng thái hỗn loạn,
    điên dại, rối bời, mất phương hướng.

    4. HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG, LIÊN HỆ
    a. Mục tiêu hoạt động: Học sinh tìm hiểu thêm số phận người phụ nữ trong xã hội
    xưa và nay
    b. Nội dung thực hiện: HS trình bày quan điểm
    Bước 1. Giao nhiệm vụ Nếu nhân vật Xúy Vân trong vở chèo Kim Nham sống
    học tập
    ở thời điểm hiện đại có thể giải thoát bi kịch của bản
    Giáo viên đặt câu hỏi thảo thân như: Đầu tiên sẽ phải xin lỗi Kim Nham, cùng
    luận
    nhau ngồi nói chuyện để cả hai hiểu nhau, nói lí do tại
    Nếu nhân vật Xúy Vân sao mình lại làm như vậy chứ không nhất thiết phải giả
    trong vở chèo Kim Nham điên để kết thúc cuộc hôn nhân này. Trước khi muốn
    sống ở thời hiện đại, theo kết thúc mối quan hệ vợ chồng với Kim Nham để chạy
    em, nàng có thể chọn cách theo tình yêu của Trần Phương thì nàng phải tìm hiểu kĩ
    giải thoát bi kịch của bản con người kia là như thế nào chứ không vì cảm xúc
    thân như thế nào?
    nhất thời mà buông bỏ mái ấm đang có.
    Bước 2. Thực hiện nhiệm
    vụ
    Học sinh suy nghĩ và trả lời
    Bước 3. Báo cáo, thảo
    luận
    Học sinh trình bày
    Bước 4. Kết luận, nhận
    định

    GV chốt lại các chia sẻ, lựa
    chọn các chia sẻ tốt để cả
    lớp tham khảo
    NHIỆM VỤ VỀ NHÀ
    - Vẽ sơ đồ tư duy về các đơn vị kiến thức của bài học hoặc vẽ tranh hình ảnh ấn
    tượng về bài học.
    - Tìm đọc thêm các trích đoạn khác trong kịch bản chèo Kim Nham.
    - Xem trọn vẹn vở chèo cổ Kim Nham trên Youtube.
    - Chuẩn bị soạn bài: đọc, tìm hiểu về văn bản “Mắc mưu Thị Hến” (Trích tuồng
    Nghêu, Sò, ỐC, Hến).
    RÚT KINH NGHIỆM
    .....................................................................................................................................
    .............................................................................................................................
     
    Gửi ý kiến