CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
Giáo án học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: nguyễn thị tâm
Ngày gửi: 17h:12' 01-05-2024
Dung lượng: 126.0 KB
Số lượt tải: 54
Nguồn:
Người gửi: nguyễn thị tâm
Ngày gửi: 17h:12' 01-05-2024
Dung lượng: 126.0 KB
Số lượt tải: 54
Số lượt thích:
0 người
TIẾT 28,29: VĂN BẢN ĐỌC
XÚY VÂN GIẢ DẠI (TRÍCH CHÈO KIM NHAM)
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để xác định: Lối nói, làn điệu, chỉ dẫn sân
khấu, nhân vật và hành động của nhân vật. Cụ thể:
- Xác định lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại việc Xúy Vân giả dại
- Phân tích lời nói, câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:
Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
Ước mơ về cuộc sống gia đình của nàng
Thực tế cuộc sống của nàng trong gia đình chồng
- Phân tích tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò, trong lời hát điệu con
gà rừng, trong lời than, lời hát ngược
- Nêu được quan điểm về nhân vật Xúy Vân (Đáng thương hay Đáng trách)
- Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện làm
nền cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở chèo, tầm quan trọng của diễn xuất
gồm hát, múa và các hình thức biểu cảm trong vở chèo
2. Về năng lực:
Học sinh vận dụng tri thức về chèo và tuồng để đọc hiểu văn bản theo thể
loại
3. Về phẩm chất: Học sinh tìm hiểu thêm ý nghĩa về đời sống văn hóa làng xã
Việt Nam, liên hệ về số phận người phụ nữ xưa và nay.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định lớp:
2. Kiểm tra bài cũ: kiểm tra sự chuẩn bị của HS
3. Bài mới:
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
SẢN PHẨM
1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ
a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội dung bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ GV cho HS chơi trò chơi "Mảnh ghép"
❖ HS chơi trò chơi.
Bước 1. Giao nhiệm vụ học GV linh hoạt sử dụng câu trả lời của HS để dẫn dắt vào bài
tập
học.
Trò chơi "Mảnh ghép": Chèo
Giáo viên phổ biến luật chơi.
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Khái niệm
phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ
Học sinh tham gia trò chơi.
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Là một loại hình kịch hát dân gian,
Nghệ thuật chèo
Mang tính tổng hợp, phối hợp giữa
Học sinh tạo tâm thế
nói, hát, múa và đạo cụ, nhạc khí,
Bước 4. Kết luận, nhận định
…
Giáo viên chốt ý và dẫn dắt
vào bài học.
Nhân vật
Gồm nhiều hạng người trong xã
hội, tự biểu hiện mình bằng động
tác và điệu hát múa đặc trưng.
Tích trò
Là yếu tố quan trọng nhất, được
xây dựng dựa vào truyện cổ tích,
truyện thơ Nôm,…
Lời hát chèo
Là lời ca dao, "bẻ" theo làn điệu
chèo.
Nhạc chèo
Lấy từ các làn điệu dân ca đồng
bằng Bắc Bộ
2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
a. Mục tiêu hoạt động:
Học sinh nhận biết và phân tích được một số yếu tố của văn bản chèo hoặc tuồng
như: đề tài, tính vô danh, tích truyện, nhân vật, lời thoại, phương thức lưu truyền
Học sinh đánh giá được vị trí của thể loại trong nền văn học dân gian Việt Nam nói
riêng và văn học Việt Nam nói chung.
Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để xác định: Lối nói, làn điệu, chỉ dẫn sân
khấu, nhân vật và hành động của nhân vật. Cụ thể:
Xác định lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại việc Xúy Vân giả dại
Phân tích lời nói, câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:
Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
Ước mơ về cuộc sống gia đình của nàng
Thực tế cuộc sống của nàng trong gia đình chồng
Phân tích tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò, trong lời hát điệu con gà
rừng, trong lời than, lời hát ngược
Nêu được quan điểm về nhân vật Xúy Vân (Đáng thương hay Đáng trách)
Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện làm nền
cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở chèo, tầm quan trọng của diễn xuất gồm hát,
múa và các hình thức biểu cảm trong vở chèo
b. Nội dung thực hiện:
❖
Học sinh tiến hành chia nhóm tìm hiểu về từng vị thần bằng nhiều hình thức
khác nhau
❖
Học sinh thuyết trình – GV chốt ý và đánh giá sản phẩm
Bước 1. Giao nhiệm vụ
học tập
Giáo viên chia lớp thành 6
nhóm, mỗi nhóm nhận
nhiệm vụ tìm hiểu một vấn
đề của văn bản
Nhóm 1. Xác định lối nói,
làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn
sân khấu kể lại việc Xúy
Vân giả dại
Nhóm 2. Phân tích lời nói,
câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:
●
Sự nhập vai điên dại
của Xúy Vân
●
Ước mơ về cuộc
sống gia đình của nàng
●
Thực tế cuộc sống
của nàng trong gia đình
chồng
Nhóm 3. Phân tích tâm
trạng của Xúy Vân qua
tiếng gọi chờ đò, trong lời
hát điệu con gà rừng, trong
lời than, lời hát ngược
Nhóm 4. Phân tích cảnh
ngộ đời sống cũng như
I. CHÈO
1. Khái niệm
Sân khấu chèo bắt nguồn từ nền văn nghệ dân gian của
cộng đồng người Việt từ thuở xa xưa trên Đồng bằng
sông Hồng. Nghệ thuật chèo đã hấp thu tinh hoa nghệ
thuật văn hóa dân gian của người Việt cổ để hình thành
một loại hình sân khấu dân tộc độc đáo mà không thể
nhầm lẫn với bất cứ nghệ thuật nào trên thế giới.
Sách giáo khoa Cánh diều, Ngữ văn 10 Tập 1 định
nghĩa:
- Chèo cổ (còn gọi là chèo sân đình, chèo truyền
thống) thuộc thể loại sân khấu dân gian, ra đời từ
xa xưa, phát triển mạnh mẽ ở vùng đồng bằng Bắc
Bộ.
- Chèo cổ phản ánh đời sống vật chất, tâm hồn, tình
cảm con người trong xã hội phong kiến: Ca ngợi
phẩm chất tốt đẹp, phê phán các thói hư tật xấu, thể
hiện sâu sắc tinh thần nhân văn.
2. Tích trò
- Tích chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, truyện
cười. Lời hát chèo thường là lấy lời ca dao “bẻ” theo
làn điệu hát chèo. Nhạc chèo lấy từ các làn điệu dân ca
đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Múa chèo lấy từ các
điệu múa trong dân gian, cách điệu nghệ thuật trên cơ
sở những động tác lao động của nhân dân: cày, cấy, gặt
hái, xe tơ, dệt vải, vá may…
- Là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất của vở chèo, làm
điểm tựa cho toàn bộ hoạt động biểu diễn, tuy có tính
ổn định nhưng vẫn để ngỏ khả năng thêm thắt, bổ sung
cho diễn viên.
niềm mong ước của Xúy
Vân và nêu nhận xét về
nhân vật
Câu hỏi mở rộng nhóm
1,2,3,4: Nhận xét hành
động giả dại của Xúy Vân
– HS thảo luận
Nhóm 5. Đặc điểm của sân
khấu chèo qua đoạn xưng
danh của Xúy Vân
Nhóm 6. Đặc điểm của
ngôn ngữ chèo được thể
hiện qua đoạn trích
Câu hỏi mở rộng cho
nhóm 5,6: Đặc trưng nghệ
thuật chèo được biểu hiện
trong đoạn trích như thế
nào?
Thời gian: 10 phút
Chia sẻ: 3 phút
Thảo luận và phản biện: 3
phút
Bước 2. Thực hiện nhiệm
vụ
Học sinh thảo luận và thực
hiện bài làm bằng nhiều
hình thức khác nhau tùy
chọn
Bước 3. Báo cáo, thảo
luận
Học sinh trình bày phần bài
làm
3. Đặc trưng
a. Đặc điểm tổ chức biểu diễn: Đơn vị biểu diễn chèo
là phường, còn gọi là “phường chèo”, hay gọi là “gánh
chèo”. Gọi là “gánh” vì mọi phường chèo đi biểu diễn
thường mang một gánh đồ. Một phường chèo thường đi
từ 10 đến 12 người. Người đứng đầu thường được gọi là
ông trùm, bà trùm hay là “trưởng trò”. Chủ yếu là nông
dân, chỉ khi nông nhàn thì họ mới gồng gánh hòm đồ
lên đường đi “xin đám” – xin biểu diễn vào các dịp.
b. Sân khấu biểu diễn: Đơn giản, thô sơ, được lập ở
trước bàn thờ hoặc ngoài sân đình, có thể ở bất cứ chỗ
nào, miễn là rộng rãi, bằng phẳng, thuận lợi cho người
diễn, người xem
c. Lối kể chuyện:
- Chèo thường được đưa lên sân khấu cả một chuyện có
đầu có cuối. Chèo thường dựa vào sự tích truyện cổ dân
gian có sẵn
- Thời gian trong chèo tiến triển tuần tự như các tình
tiết trong truyện cổ, không thể đảo lộn trật tự thời gian
như trong kịch hiện đại
- Lối kể chuyện sân khấu giống lối kể chuyện trong cổ
tích, chèo chú trọng nhiều vào diễn biến tình tiết câu
chuyện mà ít đi vào phân tích tâm lí nhân vật như ở
kịch hiện đại.
- Chèo phản ánh cuộc sống bằng phương pháp tự sự tạo
nên sự rung cảm sâu sắc cho người xem
d. Nhân vật chèo: Nhân vật chèo không xa lạ với đời
sống thường ngày của người dân lao động xưa, gồm
nhiều hạng người trong xã hội, có địa vị, nghề nghiệp,
giới tính, tuổi tác khác nhau. Xét theo tính cách, nhân
vật chèo được phân thành hai loại chính: vai chín (tích
cực) và vai lệch (tiêu cực). Mỗi loại nhân vật thường tự
biểu hiện mình bằng một số điệu hát và động tác múa
đặc trưng.
Bước 4. Kết luận, nhận e. Nội dung tư tưởng:
định
- Chèo nêu những mâu thuẫn trong xã hội phong kiến,
GV chốt lại các ý cơ bản
phê phán những thói xấu, những hạng người xấu, phê
phán những gì trái với đạo đức, tâm lý xã hội
- Chèo thể hiện lòng yêu mến, quý trọng con người đặc
biệt là đề cao người phụ nữ - lớp người mà giai cấp
phong kiến cho là thấp hèn nhất. Vấn đề trọng tâm
trong chèo là vấn đề đạo đức. Chèo phê phán những
người phụ nữ kém đạo đức.
- Khao khát hạnh phúc là thứ tình cảm chính đáng của
con người nhưng luôn bị kiềm chế bởi những quan
niệm hôn nhân phong kiến vô lý và nghiệt ngã
I.
TÁC PHẨM CHÈO KIM NHAM
1. Bố cục
Có thể chia đoạn trích thành
3 phần:
+ Phần 1: Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến “ai biết là
ai?”).
+ Phần 2: Xuý Vân xưng danh (từ “bước chân vào” đến
“Ờ”).
+ Phần 3: Xuý Vân giãi bày (đoạn còn lại).
2. Lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại
việc Xúy Vân giả dại
Tác giả dân gian đã sử dụng:
- Lối nói: như nói lệch, vỉa, nói điệu sử rầu, nói.
(Nói lệch: Một lối nói có giọng điệu riêng trong chèo,
thường được dùng để tạo không khí sôi nổi hoặc gấp
gáp
Lời hát vỉa: Là lời hát nối vào để bắt vào nhịp lời hát
chính
Điệu sử rầu: Một lối nói có giọng điệu ngâm nga,
chậm rãi, thường được dùng ở những lớp chèo giàu tính
trữ tình, khi nhân vật giãi bày tâm sự)
- Làn điệu: Quá giang, con gà rừng, sắp, sa lệch, hát
ngược.
(Quá giang: Sang sông, hát gọi đò, thường diễn tả tâm
trạng hụt hẫng của nhân vật
Con gà rừng: Thường diễn tả tâm trạng bất bình, uất
ức của nhân vật
Hát sắp: Một điệu hát tươi vui, rộn rã, trái ngược với
tâm trạng nhân vật trong lời hát
Hát sa lệch: Điệu hát chèo thiết tha, ý nhị
Hát ngược: Thường được dùng để diễn tả tâm trạng
điên loạn của nhân vật, lời hát được khai thác từ loại ca
dao nói ngược)
- Vũ điệu: Múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi.
- Chỉ dẫn sân khấu: Đế (Chên xem giao tiếp với khán
giả)
3. Nhân vật Xúy Vân
a. Nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy
Vân
+ Nguyên nhân trực tiếp: Lời xúi dục và hứa hẹn ngon
ngọt của Trần Phương – gã người tình trăng hoa và đểu
cáng (nguyên nhân này có thể được nhận biết một phần
qua những chi tiết ngoài văn bản, ở đoạn tóm tắt tác
phẩm và một phần qua chính đoạn xưng danh của Xuý
Vân trong văn bản).
+ Nguyên nhân sâu xa: nỗi buồn chán, cô đơn khi phải
sống xa chồng và niềm khát khao cảnh sống êm đềm,
hạnh phúc của Xuý Vân
b. Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
- “Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười
Tôi không trăng gió gặp người gió trăng
Gió trăng thời mặc gió trăng
Ai ơi giữ lấy đạo hằng đừng quên”
- “Chẳng giấu gì Xúy Vân là tôi
Tuy dại dột, tài cao vô giá
Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ
Ai cũng gọi cô à Xúy Vân
Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương
Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”
=> Tâm trạng khao khát vượt thoát nhưng lại lo âu, dằn
vặt. Lời hát thể hiện hai nét tâm trạng vừa sợ sự lên án
của người đời, vừa mong cầu sự đồng cảm cho ước
vọng hạnh phúc nhỏ nhoi của nhân vật.
c. Ước mơ về cuộc sống gia đình
- Chờ cho bông lúa chín vàng
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm
- Rủ nhau lên núi Thiên Thai
Thấy hai con quạ đang ăn xoài trên cây
Ba cô bán mắm trong làng
Mắm không bán hết, còn quang với thùng
=> Cuộc sống vợ chồng trong tưởng tượng của Xúy
Vân đầm ấm, ríu rít, hạnh phúc bình dị và tươi sáng.
=> Hình ảnh đôi lứa quấn quýt, thể hiện rõ khát khao
hạnh phúc của nhân vật.
d. Thực tế cuộc sống của Xúy Vân ở nhà chồng
- Con gà rừng ăn lẫn với công
Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
- Bông bông dắt, bông bông díu
Xa xa lắc, xa xa líu
Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên
=> Bộc lộ nỗi uất ức, bất bình trước thực tại.
e. Tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò,
trong lời hát điệu con gà rừng, trong lời than, lời hát
ngược
* Qua điệu “hát ngược”
+ Điều dễ thấy trước hết ở đây là rất nhiều đối tượng,
sự vật được nhắc đến nhưng giữa chúng không có mối
liên hệ gì với nhau. Có cảm tưởng Xuý Vân đã tiện đâu
nói đó, nhớ gì nói nấy, mỗi câu nói như một mảnh rời,
được gán ghép với nhau một cách lộn xộn.
+ Điều thứ hai là mọi sự đã được nhân vật nhìn theo
một logic ngược, phải đảo lại hoàn toàn thì mới đúng
với ghi nhận của tri giác thông thường:
“Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,
Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,
Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây” ...
⇨ Tất cả những điều trên dễ dàng đưa đến cho người
nghe, người đọc cảm giác rằng người nói quả thực
là một kẻ điên hoặc không bình thường.
=> NT: tác giả dân gian đã khéo vận dụng những bài ca
dao nói ngược đầy tính hài hước vốn khá phổ biến trong
kho tàng ca dao, chẳng hạn: “Bước sang tháng Sáu giá
chân/ Tháng Chạp nằm trần bức đổ mồ hôi/ Con chuột
kéo cày lồi lồi/ Con trâu bốc gạo vào ngồi trong
cong” ... Hoặc: “Trời mưa cho mối bắt gà/ Thòng đong
cân cấn đuổi cò lao xao/ Lươn nằm cho trúm bò vào/
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô”, ...
* Qua lời hát quá giang:
- Ở đây, ta vừa thấy một Xuý Vân buông xuôi, thuận
theo sự chi phối của hoàn cảnh
“Cách con sông nên tôi phải lụy đò”
- Vừa thấy một Xuý Vân muốn phản kháng “Chả nên
gia thất thì về,/ Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn
cười.”.
- Đặc biệt, bên cạnh một Xuý Vân buông thả theo
chuyện “gió trăng” là một Xuý Vân luôn có nỗi hổ thẹn
ngấm ngầm, muốn thanh minh, phân bua và cũng biết
tự dặn lòng cần giữ tiết “Tôi chắp tay lạy bạn đừng
cười,/ Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng./Gió
trăng thời mặc gió trăng,/ Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ
quên.”.
- Đoạn lời thoại thể hiện mâu thuẫn giằng xé trong nội
tâm của nhân vật Xúy Vân nhất là từ “Bước chân vào
tôi thưa rằng vậy” đến “Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”.
Trong văn bản, Xúy Vân nói với mọi người mà nàng
gọi là “chị em”, cũng như đang tự vấn chính mình.
Nàng tự xưng tên họ, nói bản thân có “tài cao vô giá”,
“hát hay đã lạ”, được gọi là “cô ả Xúy Vân”, cho thấy ở
nàng một cô gái xinh đẹp, hát hay, đáng trân trọng. Thế
nhưng lại rơi vào nỗi đau khổ khi trót bỏ chồng để đi
theo một người đàn ông phụ bạc, “phụ Kim Nham, say
đắm Trần Phương”. Một bên là người con gái đang tuổi
xuân thi, với một bên là nỗi đau đớn tủi nhục vì bị
ruồng bỏ, sự đối lập này đã cho thấy rõ tâm trạng ân
hận của Xúy Vân, chính bi kịch ấy đã đẩy nàng “đến
nỗi điên cuồng, rồ dại”. Nỗi ân hận của Xúy Vân tuy
muộn màng nhưng cũng cho thấy sự thức tỉnh của nhân
vật, điều đó thể hiện nàng đã nhận ra lỗi lầm của mình,
đang đấu tranh đau khổ với nỗi ân hận và đau đớn khi
đã phụ bạc Kim Nham.
* Qua điệu “con gà rừng”
- Nỗi đắng cay, tấm tức của Xuý Vân khi bị đặt vào một
hoàn cảnh không được như ý, có cái gì như là sự cọc
cạch, bất tương xứng, chẳng khác tình trạng “Con gà
rừng ăn lẫn với công”.
- Sâu trong lòng, nàng chỉ ao ước được sống trong cảnh
vợ chồng sum họp, hoà thuận:
“Chờ cho bông lúa chín vàng,
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm”.
- Việc lặp lại hai dòng “Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu” nhằm diễn tả cảm giác vui vầy,
ríu rít của đôi vợ chồng được cùng làm lụng bên nhau,
giúp đỡ nhau (theo tưởng tượng, ước mong hơn là
theo thực tế), thì việc lặp lại dòng “Láng giềng ai hay,
ức bởi xuân huyên” (cách quãng, dòng đặt giữa đoạn,
dòng đặt cuối đoạn) lại nhằm biểu đạt nỗi ấm ức, bất
bình trước thực tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên
bấy nhiêu.
- Từ “ức” là tiếng đệm trong câu hát, vừa mô phỏng
tiếng kêu của con gà nghẹn thóc, vừa mang nghĩa bất
bình, uất ức. Nói chung, sự xen kẽ giữa niềm vui và
nỗi buồn trong tâm trạng Xuý Vân đã thể hiện rất rõ
khát khao hạnh phúc của nhân vật. Đó là điều cần
được cảm thông.
NHẬN XÉT
- Trong xã hội Việt Nam xưa, con người cá nhân chưa
được tôn trọng. Điều đó dẫn tới việc những đòi hỏi về
quyền tự quyết lối sống hay quyền lựa chọn người mình
yêu thường bị phán xét một cách nghiêm khắc. Với
người phụ nữ, những khát vọng mang tính chất “vượt
rào” lại càng bị ngăn trở, cấm đoán ngặt nghèo. Đây là
nguyên nhân chính khiến Xuý Vân phải che giấu động
cơ và mong muốn thật của mình dưới một hình thức
tiêu cực là giả dại.
* Qua điệu hát xưng danh
- Xưng danh là hình thức giới thiệu, thể hiện nhân vật
rất riêng biệt của sân khấu dân gian Việt Nam, không
chỉ có trong chèo mà còn có cả trong tuồng nữa. Hình
thức xưng danh này đáp ứng yêu cầu của khán giả bình
dân muốn nắm bắt nhanh chóng về loại, đặc điểm và
vai trò của nhân vật, ngay từ lúc nhân vật vừa xuất hiện
trên sân khấu (nhân vật thuộc vai chín (tích cực) hay vai
lệch (tiêu cực), tính cách ra sao, có vị trí thế nào trong
tích trò). Khi đã được nghe những lời xưng danh, khán
giả không còn phải bỏ nhiều công để suy đoán về tính
cách của nhân vật nữ để có thể tập trung theo dõi nghệ
thuật trình diễn (múa, hát) của diễn viên (sự thực, sau
màn xưng danh, diễn viên chỉ cố sức thể hiện như thế
nào cho nổi bật điều đã được báo trước qua những câu
chào hỏi).
- Nội dung xưng danh thường cho biết một cách rất khái
quát về danh tính, quê quán, thân phận, gia cảnh, tính
cách... của nhân vật, trong đó, ngay cả nét xấu của nhân
vật cũng được nói ra rất tự nhiên (ví dụ, Xuý Vân đã
nói về mình: “Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,
Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại.”). Từ góc nhìn của một
khán giả, độc giả hiện đại, cách tự giới thiệu này có vẻ
không logic, nhưng đối với người xưa, nó đã được chấp
nhận như một quy ước nghệ thuật. Qua lời chào hỏi
kiểu như: “Chị em ơi/ Ra đây có phải xưng danh không
nhỉ?” và tiếng đế: “Không xưng danh, ai biết là ai?”,
có thể nhận ra giữa khán giả và sân khấu không có
khoảng cách nào đáng kể. Nói cách khác, sân khấu là
một không gian được hình thành tự nhiên giữa vòng
vây của khán giả, gây cảm tưởng diễn viên là người vừa
bước tách ra khỏi đám đông để lên sàn diễn. Trong khi
đó, những khán giả còn lại không hề giữ vai trò thụ
động vì họ vẫn có thể tham gia vở diễn ở một số hoạt
động nhất định (chẳng hạn tạo tiếng đế sau lời hỏi của
nhân vật – diễn viên).
4. Đặc điểm của ngôn ngữ chèo được thể hiện qua
đoạn trích
- Trong chèo, lời thoại của nhân vật có thể được thể
hiện bằng hình thức của lời nói thường hoặc hình thức
Hoạt động 3: Tổng kết
Bước 1: Chuyển giao
nhiệm vụ: Hoạt động cá
nhân
- GV sử dụng kĩ thuật viết
01 phút để yêu cầu HS tóm
tắt những đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật của văn
bản “Xúy Vân giả dại”.
- Từ đó em rút ra để đọc
hiểu một văn bản chèo,
chúng ta cần lưu ý điều gì?
của thơ.
- Ở phần lớn trường hợp, giữa hai hình thức này có sự
kết hợp linh hoạt. Những lời thoại có hình thức thơ mà
người đọc nhận thấy trên văn bản sẽ được hát lên theo
các làn điệu khác nhau khi diễn viên thể hiện trên sân
khấu. Bóng dáng của thơ bốn chữ hay thơ lục bát
thường hiện diện trong lời thoại của nhân vật với nhiều
biến đổi ở cách ngắt nhịp và số tiếng, một phần có thể
do sự chi phối của điệu hát hay ngữ điệu của lời nói
thường. Có khi, ta gặp ở đây những cặp lục bát theo
đúng mô hình chuẩn như: “Gió trăng thời mặc gió
trăng, Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên” hay: “Chờ cho
bông lúa chín vàng/ Để anh đi gặt, để nàng mang cơm”.
Nhưng cũng nhiều khi ta gặp những cặp hoặc đoạn lục
bát biến thể: “Chiếc trống cơm, ai khéo vỗ nên bông,
Một đàn các cô con gái lội sông té bèo”...
- Ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa: “Bông bông dắt, bông
bông díu/ Xa xa lắc, xa xa líu”
- Cách nói ví von giàu tính tự sự trữ tình: “Tôi không
trăng gió lại gặp người gió trăng”, “chờ cho bông lúa
chín vàng”, “con cá rô nằm vũng chân trâu/ để cho năm
bảy cần câu châu vào” …
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
- Ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, sinh động với lời
nói, lời hát…
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ, hành
động, đặc biệt là qua diễn biến tâm trạng.
- Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế.
- Sử dụng các chỉ dẫn sân khấu.
2. Nội dung
- Dựng lên chân dung nhân vật Xúy Vân đầy bi kịch,
qua đó phản ánh số phận đau khổ của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến.
- Lên án xã hội phong kiến xưa, đồng thời đòi quyền
(Nêu được ít nhất 03 điều
được hưởng hạnh phúc cho người phụ nữ.
trong đọc hiểu văn bản
3. Cách đọc hiểu văn bản chèo
chèo).
- Cốt truyện: văn bản kể lại sự việc gì và diễn biến của
Bước 2: Thực hiện nhiệm sự việc đó như thế nào?
vụ.
- Nhân vật: Nhân vật chính là ai? Nhân vật được thể
- HS suy nghĩ cá nhân và hiện qua các chi tiết ngôn ngữ, hành động, tâm trạng…
ghi ra giấy câu trả lời trong như thế nào?
01 phút.
- Xác định được những chỉ dẫn sân khấu, các hình ảnh,
GV hướng theo dõi, từ ngữ, biện pháp tu từ… được sử dụng để tái hiện bối
hỗ trợ (nếu HS gặp khó cảnh, hành động, tâm trạng… của nhân vật.
khăn).
- Rút ra nội dung tư tưởng của vở chèo: Vở chèo phản
Bước 3: Báo cáo, thảo
ánh nội dung gì? Thể hiện tình cảm nhân đạo gì của tác
luận
giả dân gian?
Tổ chức trao đổi, trình bày - Rút ra được thông điệp, bài học cho bản thân.
nội dung đã thảo luận.
Bước 4: Đánh giá, kết
luận
GV chuẩn kiến thức.
3. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
a. Mục tiêu hoạt động: Dựa vào nội dung tìm hiểu về đoạn trích, học sinh vận dụng
để rèn luyện kĩ năng viết.
b. Nội dung thực hiện
Học sinh thực hành kết nối đọc – viết
Bước 1. Giao nhiệm vụ Bài làm tham khảo
học tập
Tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng chờ đò, trong điệu
- Giáo viên giao nhiệm vụ: hát con gà, trong lời than, lời hát ngược. Nàng day dứt
Viết đoạn văn khoảng 150 về những việc mình làm, nhưng có khi tự thấy mình đã
chữ, trình bày suy nghĩ của lỡ làng, dở dang, bẽ bàng, tự thấy mình lạc lõng, cô
bạn về nỗi niềm của nhân đơn, vô nghĩa trong gia đình chồng, những nỗi thất
vật Xúy Vân được thể hiện vọng trước mâu thuẫn giữa ước mơ hạnh phúc gia đình
qua lớp chèo Xúy Vân giả đầm ấm với thực tế bị chồng xao nhãng, bỏ bê vì mải
dại
mê đèn sách. Nàng còn trách duyên trách phận, duyên
- Thời gian: 20 phút.
phận dắt díu, ràng buộc họ với nhau, nhưng khát vọng
Bước 2. Thực hiện nhiệm của họ không gặp nhau. Chính vì thế nàng có cảm thấy
vụ
ấm ức, cô đơn, quẫn bách, nỗi tủi phận vì những áp lực
Học sinh thực hiện bài làm
viết kết nối đọc
Bước 3. Báo cáo, thảo
luận
Học sinh trình bày phần bài
làm của mình
Bước 4. Kết luận, nhận
định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa
chọn các chia sẻ tốt để cả
lớp tham khảo
tứ phía, khó khăn đè lên đôi vai nàng trong khi ấy Xúy
Vân không có một người người sẻ chia những điều đó.
Những câu nói ngược, đầy những phi lí, nghịch dị khơi
gợi về một thực trạng nội tâm xáo trộn, bất ổn, đầy trớ
trêu. Xúy Vân dường như rơi vào trạng thái hỗn loạn,
điên dại, rối bời, mất phương hướng.
4. HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG, LIÊN HỆ
a. Mục tiêu hoạt động: Học sinh tìm hiểu thêm số phận người phụ nữ trong xã hội
xưa và nay
b. Nội dung thực hiện: HS trình bày quan điểm
Bước 1. Giao nhiệm vụ Nếu nhân vật Xúy Vân trong vở chèo Kim Nham sống
học tập
ở thời điểm hiện đại có thể giải thoát bi kịch của bản
Giáo viên đặt câu hỏi thảo thân như: Đầu tiên sẽ phải xin lỗi Kim Nham, cùng
luận
nhau ngồi nói chuyện để cả hai hiểu nhau, nói lí do tại
Nếu nhân vật Xúy Vân sao mình lại làm như vậy chứ không nhất thiết phải giả
trong vở chèo Kim Nham điên để kết thúc cuộc hôn nhân này. Trước khi muốn
sống ở thời hiện đại, theo kết thúc mối quan hệ vợ chồng với Kim Nham để chạy
em, nàng có thể chọn cách theo tình yêu của Trần Phương thì nàng phải tìm hiểu kĩ
giải thoát bi kịch của bản con người kia là như thế nào chứ không vì cảm xúc
thân như thế nào?
nhất thời mà buông bỏ mái ấm đang có.
Bước 2. Thực hiện nhiệm
vụ
Học sinh suy nghĩ và trả lời
Bước 3. Báo cáo, thảo
luận
Học sinh trình bày
Bước 4. Kết luận, nhận
định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa
chọn các chia sẻ tốt để cả
lớp tham khảo
NHIỆM VỤ VỀ NHÀ
- Vẽ sơ đồ tư duy về các đơn vị kiến thức của bài học hoặc vẽ tranh hình ảnh ấn
tượng về bài học.
- Tìm đọc thêm các trích đoạn khác trong kịch bản chèo Kim Nham.
- Xem trọn vẹn vở chèo cổ Kim Nham trên Youtube.
- Chuẩn bị soạn bài: đọc, tìm hiểu về văn bản “Mắc mưu Thị Hến” (Trích tuồng
Nghêu, Sò, ỐC, Hến).
RÚT KINH NGHIỆM
.....................................................................................................................................
.............................................................................................................................
XÚY VÂN GIẢ DẠI (TRÍCH CHÈO KIM NHAM)
I. MỤC TIÊU
1. Về kiến thức
Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để xác định: Lối nói, làn điệu, chỉ dẫn sân
khấu, nhân vật và hành động của nhân vật. Cụ thể:
- Xác định lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại việc Xúy Vân giả dại
- Phân tích lời nói, câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:
Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
Ước mơ về cuộc sống gia đình của nàng
Thực tế cuộc sống của nàng trong gia đình chồng
- Phân tích tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò, trong lời hát điệu con
gà rừng, trong lời than, lời hát ngược
- Nêu được quan điểm về nhân vật Xúy Vân (Đáng thương hay Đáng trách)
- Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện làm
nền cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở chèo, tầm quan trọng của diễn xuất
gồm hát, múa và các hình thức biểu cảm trong vở chèo
2. Về năng lực:
Học sinh vận dụng tri thức về chèo và tuồng để đọc hiểu văn bản theo thể
loại
3. Về phẩm chất: Học sinh tìm hiểu thêm ý nghĩa về đời sống văn hóa làng xã
Việt Nam, liên hệ về số phận người phụ nữ xưa và nay.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1. Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
2. Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định lớp:
2. Kiểm tra bài cũ: kiểm tra sự chuẩn bị của HS
3. Bài mới:
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
SẢN PHẨM
1. HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG – TẠO TÂM THẾ
a. Mục tiêu hoạt động: Tạo tâm thế thoải mái và gợi dẫn cho học sinh về nội dung bài học
b. Nội dung thực hiện:
❖ GV cho HS chơi trò chơi "Mảnh ghép"
❖ HS chơi trò chơi.
Bước 1. Giao nhiệm vụ học GV linh hoạt sử dụng câu trả lời của HS để dẫn dắt vào bài
tập
học.
Trò chơi "Mảnh ghép": Chèo
Giáo viên phổ biến luật chơi.
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
Khái niệm
phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ
Học sinh tham gia trò chơi.
Bước 3. Báo cáo, thảo luận
Là một loại hình kịch hát dân gian,
Nghệ thuật chèo
Mang tính tổng hợp, phối hợp giữa
Học sinh tạo tâm thế
nói, hát, múa và đạo cụ, nhạc khí,
Bước 4. Kết luận, nhận định
…
Giáo viên chốt ý và dẫn dắt
vào bài học.
Nhân vật
Gồm nhiều hạng người trong xã
hội, tự biểu hiện mình bằng động
tác và điệu hát múa đặc trưng.
Tích trò
Là yếu tố quan trọng nhất, được
xây dựng dựa vào truyện cổ tích,
truyện thơ Nôm,…
Lời hát chèo
Là lời ca dao, "bẻ" theo làn điệu
chèo.
Nhạc chèo
Lấy từ các làn điệu dân ca đồng
bằng Bắc Bộ
2. HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
a. Mục tiêu hoạt động:
Học sinh nhận biết và phân tích được một số yếu tố của văn bản chèo hoặc tuồng
như: đề tài, tính vô danh, tích truyện, nhân vật, lời thoại, phương thức lưu truyền
Học sinh đánh giá được vị trí của thể loại trong nền văn học dân gian Việt Nam nói
riêng và văn học Việt Nam nói chung.
Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để xác định: Lối nói, làn điệu, chỉ dẫn sân
khấu, nhân vật và hành động của nhân vật. Cụ thể:
Xác định lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại việc Xúy Vân giả dại
Phân tích lời nói, câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:
Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
Ước mơ về cuộc sống gia đình của nàng
Thực tế cuộc sống của nàng trong gia đình chồng
Phân tích tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò, trong lời hát điệu con gà
rừng, trong lời than, lời hát ngược
Nêu được quan điểm về nhân vật Xúy Vân (Đáng thương hay Đáng trách)
Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể hiện tích truyện làm nền
cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở chèo, tầm quan trọng của diễn xuất gồm hát,
múa và các hình thức biểu cảm trong vở chèo
b. Nội dung thực hiện:
❖
Học sinh tiến hành chia nhóm tìm hiểu về từng vị thần bằng nhiều hình thức
khác nhau
❖
Học sinh thuyết trình – GV chốt ý và đánh giá sản phẩm
Bước 1. Giao nhiệm vụ
học tập
Giáo viên chia lớp thành 6
nhóm, mỗi nhóm nhận
nhiệm vụ tìm hiểu một vấn
đề của văn bản
Nhóm 1. Xác định lối nói,
làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn
sân khấu kể lại việc Xúy
Vân giả dại
Nhóm 2. Phân tích lời nói,
câu hát, chỉ dẫn để thể hiện:
●
Sự nhập vai điên dại
của Xúy Vân
●
Ước mơ về cuộc
sống gia đình của nàng
●
Thực tế cuộc sống
của nàng trong gia đình
chồng
Nhóm 3. Phân tích tâm
trạng của Xúy Vân qua
tiếng gọi chờ đò, trong lời
hát điệu con gà rừng, trong
lời than, lời hát ngược
Nhóm 4. Phân tích cảnh
ngộ đời sống cũng như
I. CHÈO
1. Khái niệm
Sân khấu chèo bắt nguồn từ nền văn nghệ dân gian của
cộng đồng người Việt từ thuở xa xưa trên Đồng bằng
sông Hồng. Nghệ thuật chèo đã hấp thu tinh hoa nghệ
thuật văn hóa dân gian của người Việt cổ để hình thành
một loại hình sân khấu dân tộc độc đáo mà không thể
nhầm lẫn với bất cứ nghệ thuật nào trên thế giới.
Sách giáo khoa Cánh diều, Ngữ văn 10 Tập 1 định
nghĩa:
- Chèo cổ (còn gọi là chèo sân đình, chèo truyền
thống) thuộc thể loại sân khấu dân gian, ra đời từ
xa xưa, phát triển mạnh mẽ ở vùng đồng bằng Bắc
Bộ.
- Chèo cổ phản ánh đời sống vật chất, tâm hồn, tình
cảm con người trong xã hội phong kiến: Ca ngợi
phẩm chất tốt đẹp, phê phán các thói hư tật xấu, thể
hiện sâu sắc tinh thần nhân văn.
2. Tích trò
- Tích chèo lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, truyện
cười. Lời hát chèo thường là lấy lời ca dao “bẻ” theo
làn điệu hát chèo. Nhạc chèo lấy từ các làn điệu dân ca
đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Múa chèo lấy từ các
điệu múa trong dân gian, cách điệu nghệ thuật trên cơ
sở những động tác lao động của nhân dân: cày, cấy, gặt
hái, xe tơ, dệt vải, vá may…
- Là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất của vở chèo, làm
điểm tựa cho toàn bộ hoạt động biểu diễn, tuy có tính
ổn định nhưng vẫn để ngỏ khả năng thêm thắt, bổ sung
cho diễn viên.
niềm mong ước của Xúy
Vân và nêu nhận xét về
nhân vật
Câu hỏi mở rộng nhóm
1,2,3,4: Nhận xét hành
động giả dại của Xúy Vân
– HS thảo luận
Nhóm 5. Đặc điểm của sân
khấu chèo qua đoạn xưng
danh của Xúy Vân
Nhóm 6. Đặc điểm của
ngôn ngữ chèo được thể
hiện qua đoạn trích
Câu hỏi mở rộng cho
nhóm 5,6: Đặc trưng nghệ
thuật chèo được biểu hiện
trong đoạn trích như thế
nào?
Thời gian: 10 phút
Chia sẻ: 3 phút
Thảo luận và phản biện: 3
phút
Bước 2. Thực hiện nhiệm
vụ
Học sinh thảo luận và thực
hiện bài làm bằng nhiều
hình thức khác nhau tùy
chọn
Bước 3. Báo cáo, thảo
luận
Học sinh trình bày phần bài
làm
3. Đặc trưng
a. Đặc điểm tổ chức biểu diễn: Đơn vị biểu diễn chèo
là phường, còn gọi là “phường chèo”, hay gọi là “gánh
chèo”. Gọi là “gánh” vì mọi phường chèo đi biểu diễn
thường mang một gánh đồ. Một phường chèo thường đi
từ 10 đến 12 người. Người đứng đầu thường được gọi là
ông trùm, bà trùm hay là “trưởng trò”. Chủ yếu là nông
dân, chỉ khi nông nhàn thì họ mới gồng gánh hòm đồ
lên đường đi “xin đám” – xin biểu diễn vào các dịp.
b. Sân khấu biểu diễn: Đơn giản, thô sơ, được lập ở
trước bàn thờ hoặc ngoài sân đình, có thể ở bất cứ chỗ
nào, miễn là rộng rãi, bằng phẳng, thuận lợi cho người
diễn, người xem
c. Lối kể chuyện:
- Chèo thường được đưa lên sân khấu cả một chuyện có
đầu có cuối. Chèo thường dựa vào sự tích truyện cổ dân
gian có sẵn
- Thời gian trong chèo tiến triển tuần tự như các tình
tiết trong truyện cổ, không thể đảo lộn trật tự thời gian
như trong kịch hiện đại
- Lối kể chuyện sân khấu giống lối kể chuyện trong cổ
tích, chèo chú trọng nhiều vào diễn biến tình tiết câu
chuyện mà ít đi vào phân tích tâm lí nhân vật như ở
kịch hiện đại.
- Chèo phản ánh cuộc sống bằng phương pháp tự sự tạo
nên sự rung cảm sâu sắc cho người xem
d. Nhân vật chèo: Nhân vật chèo không xa lạ với đời
sống thường ngày của người dân lao động xưa, gồm
nhiều hạng người trong xã hội, có địa vị, nghề nghiệp,
giới tính, tuổi tác khác nhau. Xét theo tính cách, nhân
vật chèo được phân thành hai loại chính: vai chín (tích
cực) và vai lệch (tiêu cực). Mỗi loại nhân vật thường tự
biểu hiện mình bằng một số điệu hát và động tác múa
đặc trưng.
Bước 4. Kết luận, nhận e. Nội dung tư tưởng:
định
- Chèo nêu những mâu thuẫn trong xã hội phong kiến,
GV chốt lại các ý cơ bản
phê phán những thói xấu, những hạng người xấu, phê
phán những gì trái với đạo đức, tâm lý xã hội
- Chèo thể hiện lòng yêu mến, quý trọng con người đặc
biệt là đề cao người phụ nữ - lớp người mà giai cấp
phong kiến cho là thấp hèn nhất. Vấn đề trọng tâm
trong chèo là vấn đề đạo đức. Chèo phê phán những
người phụ nữ kém đạo đức.
- Khao khát hạnh phúc là thứ tình cảm chính đáng của
con người nhưng luôn bị kiềm chế bởi những quan
niệm hôn nhân phong kiến vô lý và nghiệt ngã
I.
TÁC PHẨM CHÈO KIM NHAM
1. Bố cục
Có thể chia đoạn trích thành
3 phần:
+ Phần 1: Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến “ai biết là
ai?”).
+ Phần 2: Xuý Vân xưng danh (từ “bước chân vào” đến
“Ờ”).
+ Phần 3: Xuý Vân giãi bày (đoạn còn lại).
2. Lối nói, làn điệu, vũ điệu, chỉ dẫn sân khấu kể lại
việc Xúy Vân giả dại
Tác giả dân gian đã sử dụng:
- Lối nói: như nói lệch, vỉa, nói điệu sử rầu, nói.
(Nói lệch: Một lối nói có giọng điệu riêng trong chèo,
thường được dùng để tạo không khí sôi nổi hoặc gấp
gáp
Lời hát vỉa: Là lời hát nối vào để bắt vào nhịp lời hát
chính
Điệu sử rầu: Một lối nói có giọng điệu ngâm nga,
chậm rãi, thường được dùng ở những lớp chèo giàu tính
trữ tình, khi nhân vật giãi bày tâm sự)
- Làn điệu: Quá giang, con gà rừng, sắp, sa lệch, hát
ngược.
(Quá giang: Sang sông, hát gọi đò, thường diễn tả tâm
trạng hụt hẫng của nhân vật
Con gà rừng: Thường diễn tả tâm trạng bất bình, uất
ức của nhân vật
Hát sắp: Một điệu hát tươi vui, rộn rã, trái ngược với
tâm trạng nhân vật trong lời hát
Hát sa lệch: Điệu hát chèo thiết tha, ý nhị
Hát ngược: Thường được dùng để diễn tả tâm trạng
điên loạn của nhân vật, lời hát được khai thác từ loại ca
dao nói ngược)
- Vũ điệu: Múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi.
- Chỉ dẫn sân khấu: Đế (Chên xem giao tiếp với khán
giả)
3. Nhân vật Xúy Vân
a. Nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy
Vân
+ Nguyên nhân trực tiếp: Lời xúi dục và hứa hẹn ngon
ngọt của Trần Phương – gã người tình trăng hoa và đểu
cáng (nguyên nhân này có thể được nhận biết một phần
qua những chi tiết ngoài văn bản, ở đoạn tóm tắt tác
phẩm và một phần qua chính đoạn xưng danh của Xuý
Vân trong văn bản).
+ Nguyên nhân sâu xa: nỗi buồn chán, cô đơn khi phải
sống xa chồng và niềm khát khao cảnh sống êm đềm,
hạnh phúc của Xuý Vân
b. Sự nhập vai điên dại của Xúy Vân
- “Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười
Tôi không trăng gió gặp người gió trăng
Gió trăng thời mặc gió trăng
Ai ơi giữ lấy đạo hằng đừng quên”
- “Chẳng giấu gì Xúy Vân là tôi
Tuy dại dột, tài cao vô giá
Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ
Ai cũng gọi cô à Xúy Vân
Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương
Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”
=> Tâm trạng khao khát vượt thoát nhưng lại lo âu, dằn
vặt. Lời hát thể hiện hai nét tâm trạng vừa sợ sự lên án
của người đời, vừa mong cầu sự đồng cảm cho ước
vọng hạnh phúc nhỏ nhoi của nhân vật.
c. Ước mơ về cuộc sống gia đình
- Chờ cho bông lúa chín vàng
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm
- Rủ nhau lên núi Thiên Thai
Thấy hai con quạ đang ăn xoài trên cây
Ba cô bán mắm trong làng
Mắm không bán hết, còn quang với thùng
=> Cuộc sống vợ chồng trong tưởng tượng của Xúy
Vân đầm ấm, ríu rít, hạnh phúc bình dị và tươi sáng.
=> Hình ảnh đôi lứa quấn quýt, thể hiện rõ khát khao
hạnh phúc của nhân vật.
d. Thực tế cuộc sống của Xúy Vân ở nhà chồng
- Con gà rừng ăn lẫn với công
Đắng cay chẳng có chịu được, ức!
- Bông bông dắt, bông bông díu
Xa xa lắc, xa xa líu
Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên
=> Bộc lộ nỗi uất ức, bất bình trước thực tại.
e. Tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng gọi chờ đò,
trong lời hát điệu con gà rừng, trong lời than, lời hát
ngược
* Qua điệu “hát ngược”
+ Điều dễ thấy trước hết ở đây là rất nhiều đối tượng,
sự vật được nhắc đến nhưng giữa chúng không có mối
liên hệ gì với nhau. Có cảm tưởng Xuý Vân đã tiện đâu
nói đó, nhớ gì nói nấy, mỗi câu nói như một mảnh rời,
được gán ghép với nhau một cách lộn xộn.
+ Điều thứ hai là mọi sự đã được nhân vật nhìn theo
một logic ngược, phải đảo lại hoàn toàn thì mới đúng
với ghi nhận của tri giác thông thường:
“Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,
Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,
Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây” ...
⇨ Tất cả những điều trên dễ dàng đưa đến cho người
nghe, người đọc cảm giác rằng người nói quả thực
là một kẻ điên hoặc không bình thường.
=> NT: tác giả dân gian đã khéo vận dụng những bài ca
dao nói ngược đầy tính hài hước vốn khá phổ biến trong
kho tàng ca dao, chẳng hạn: “Bước sang tháng Sáu giá
chân/ Tháng Chạp nằm trần bức đổ mồ hôi/ Con chuột
kéo cày lồi lồi/ Con trâu bốc gạo vào ngồi trong
cong” ... Hoặc: “Trời mưa cho mối bắt gà/ Thòng đong
cân cấn đuổi cò lao xao/ Lươn nằm cho trúm bò vào/
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô”, ...
* Qua lời hát quá giang:
- Ở đây, ta vừa thấy một Xuý Vân buông xuôi, thuận
theo sự chi phối của hoàn cảnh
“Cách con sông nên tôi phải lụy đò”
- Vừa thấy một Xuý Vân muốn phản kháng “Chả nên
gia thất thì về,/ Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn
cười.”.
- Đặc biệt, bên cạnh một Xuý Vân buông thả theo
chuyện “gió trăng” là một Xuý Vân luôn có nỗi hổ thẹn
ngấm ngầm, muốn thanh minh, phân bua và cũng biết
tự dặn lòng cần giữ tiết “Tôi chắp tay lạy bạn đừng
cười,/ Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng./Gió
trăng thời mặc gió trăng,/ Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ
quên.”.
- Đoạn lời thoại thể hiện mâu thuẫn giằng xé trong nội
tâm của nhân vật Xúy Vân nhất là từ “Bước chân vào
tôi thưa rằng vậy” đến “Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”.
Trong văn bản, Xúy Vân nói với mọi người mà nàng
gọi là “chị em”, cũng như đang tự vấn chính mình.
Nàng tự xưng tên họ, nói bản thân có “tài cao vô giá”,
“hát hay đã lạ”, được gọi là “cô ả Xúy Vân”, cho thấy ở
nàng một cô gái xinh đẹp, hát hay, đáng trân trọng. Thế
nhưng lại rơi vào nỗi đau khổ khi trót bỏ chồng để đi
theo một người đàn ông phụ bạc, “phụ Kim Nham, say
đắm Trần Phương”. Một bên là người con gái đang tuổi
xuân thi, với một bên là nỗi đau đớn tủi nhục vì bị
ruồng bỏ, sự đối lập này đã cho thấy rõ tâm trạng ân
hận của Xúy Vân, chính bi kịch ấy đã đẩy nàng “đến
nỗi điên cuồng, rồ dại”. Nỗi ân hận của Xúy Vân tuy
muộn màng nhưng cũng cho thấy sự thức tỉnh của nhân
vật, điều đó thể hiện nàng đã nhận ra lỗi lầm của mình,
đang đấu tranh đau khổ với nỗi ân hận và đau đớn khi
đã phụ bạc Kim Nham.
* Qua điệu “con gà rừng”
- Nỗi đắng cay, tấm tức của Xuý Vân khi bị đặt vào một
hoàn cảnh không được như ý, có cái gì như là sự cọc
cạch, bất tương xứng, chẳng khác tình trạng “Con gà
rừng ăn lẫn với công”.
- Sâu trong lòng, nàng chỉ ao ước được sống trong cảnh
vợ chồng sum họp, hoà thuận:
“Chờ cho bông lúa chín vàng,
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm”.
- Việc lặp lại hai dòng “Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu” nhằm diễn tả cảm giác vui vầy,
ríu rít của đôi vợ chồng được cùng làm lụng bên nhau,
giúp đỡ nhau (theo tưởng tượng, ước mong hơn là
theo thực tế), thì việc lặp lại dòng “Láng giềng ai hay,
ức bởi xuân huyên” (cách quãng, dòng đặt giữa đoạn,
dòng đặt cuối đoạn) lại nhằm biểu đạt nỗi ấm ức, bất
bình trước thực tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên
bấy nhiêu.
- Từ “ức” là tiếng đệm trong câu hát, vừa mô phỏng
tiếng kêu của con gà nghẹn thóc, vừa mang nghĩa bất
bình, uất ức. Nói chung, sự xen kẽ giữa niềm vui và
nỗi buồn trong tâm trạng Xuý Vân đã thể hiện rất rõ
khát khao hạnh phúc của nhân vật. Đó là điều cần
được cảm thông.
NHẬN XÉT
- Trong xã hội Việt Nam xưa, con người cá nhân chưa
được tôn trọng. Điều đó dẫn tới việc những đòi hỏi về
quyền tự quyết lối sống hay quyền lựa chọn người mình
yêu thường bị phán xét một cách nghiêm khắc. Với
người phụ nữ, những khát vọng mang tính chất “vượt
rào” lại càng bị ngăn trở, cấm đoán ngặt nghèo. Đây là
nguyên nhân chính khiến Xuý Vân phải che giấu động
cơ và mong muốn thật của mình dưới một hình thức
tiêu cực là giả dại.
* Qua điệu hát xưng danh
- Xưng danh là hình thức giới thiệu, thể hiện nhân vật
rất riêng biệt của sân khấu dân gian Việt Nam, không
chỉ có trong chèo mà còn có cả trong tuồng nữa. Hình
thức xưng danh này đáp ứng yêu cầu của khán giả bình
dân muốn nắm bắt nhanh chóng về loại, đặc điểm và
vai trò của nhân vật, ngay từ lúc nhân vật vừa xuất hiện
trên sân khấu (nhân vật thuộc vai chín (tích cực) hay vai
lệch (tiêu cực), tính cách ra sao, có vị trí thế nào trong
tích trò). Khi đã được nghe những lời xưng danh, khán
giả không còn phải bỏ nhiều công để suy đoán về tính
cách của nhân vật nữ để có thể tập trung theo dõi nghệ
thuật trình diễn (múa, hát) của diễn viên (sự thực, sau
màn xưng danh, diễn viên chỉ cố sức thể hiện như thế
nào cho nổi bật điều đã được báo trước qua những câu
chào hỏi).
- Nội dung xưng danh thường cho biết một cách rất khái
quát về danh tính, quê quán, thân phận, gia cảnh, tính
cách... của nhân vật, trong đó, ngay cả nét xấu của nhân
vật cũng được nói ra rất tự nhiên (ví dụ, Xuý Vân đã
nói về mình: “Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,
Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại.”). Từ góc nhìn của một
khán giả, độc giả hiện đại, cách tự giới thiệu này có vẻ
không logic, nhưng đối với người xưa, nó đã được chấp
nhận như một quy ước nghệ thuật. Qua lời chào hỏi
kiểu như: “Chị em ơi/ Ra đây có phải xưng danh không
nhỉ?” và tiếng đế: “Không xưng danh, ai biết là ai?”,
có thể nhận ra giữa khán giả và sân khấu không có
khoảng cách nào đáng kể. Nói cách khác, sân khấu là
một không gian được hình thành tự nhiên giữa vòng
vây của khán giả, gây cảm tưởng diễn viên là người vừa
bước tách ra khỏi đám đông để lên sàn diễn. Trong khi
đó, những khán giả còn lại không hề giữ vai trò thụ
động vì họ vẫn có thể tham gia vở diễn ở một số hoạt
động nhất định (chẳng hạn tạo tiếng đế sau lời hỏi của
nhân vật – diễn viên).
4. Đặc điểm của ngôn ngữ chèo được thể hiện qua
đoạn trích
- Trong chèo, lời thoại của nhân vật có thể được thể
hiện bằng hình thức của lời nói thường hoặc hình thức
Hoạt động 3: Tổng kết
Bước 1: Chuyển giao
nhiệm vụ: Hoạt động cá
nhân
- GV sử dụng kĩ thuật viết
01 phút để yêu cầu HS tóm
tắt những đặc sắc về nội
dung và nghệ thuật của văn
bản “Xúy Vân giả dại”.
- Từ đó em rút ra để đọc
hiểu một văn bản chèo,
chúng ta cần lưu ý điều gì?
của thơ.
- Ở phần lớn trường hợp, giữa hai hình thức này có sự
kết hợp linh hoạt. Những lời thoại có hình thức thơ mà
người đọc nhận thấy trên văn bản sẽ được hát lên theo
các làn điệu khác nhau khi diễn viên thể hiện trên sân
khấu. Bóng dáng của thơ bốn chữ hay thơ lục bát
thường hiện diện trong lời thoại của nhân vật với nhiều
biến đổi ở cách ngắt nhịp và số tiếng, một phần có thể
do sự chi phối của điệu hát hay ngữ điệu của lời nói
thường. Có khi, ta gặp ở đây những cặp lục bát theo
đúng mô hình chuẩn như: “Gió trăng thời mặc gió
trăng, Ai ơi giữ lấy đạo hằng chớ quên” hay: “Chờ cho
bông lúa chín vàng/ Để anh đi gặt, để nàng mang cơm”.
Nhưng cũng nhiều khi ta gặp những cặp hoặc đoạn lục
bát biến thể: “Chiếc trống cơm, ai khéo vỗ nên bông,
Một đàn các cô con gái lội sông té bèo”...
- Ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa: “Bông bông dắt, bông
bông díu/ Xa xa lắc, xa xa líu”
- Cách nói ví von giàu tính tự sự trữ tình: “Tôi không
trăng gió lại gặp người gió trăng”, “chờ cho bông lúa
chín vàng”, “con cá rô nằm vũng chân trâu/ để cho năm
bảy cần câu châu vào” …
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
- Ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, sinh động với lời
nói, lời hát…
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ, hành
động, đặc biệt là qua diễn biến tâm trạng.
- Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế.
- Sử dụng các chỉ dẫn sân khấu.
2. Nội dung
- Dựng lên chân dung nhân vật Xúy Vân đầy bi kịch,
qua đó phản ánh số phận đau khổ của người phụ nữ
trong xã hội phong kiến.
- Lên án xã hội phong kiến xưa, đồng thời đòi quyền
(Nêu được ít nhất 03 điều
được hưởng hạnh phúc cho người phụ nữ.
trong đọc hiểu văn bản
3. Cách đọc hiểu văn bản chèo
chèo).
- Cốt truyện: văn bản kể lại sự việc gì và diễn biến của
Bước 2: Thực hiện nhiệm sự việc đó như thế nào?
vụ.
- Nhân vật: Nhân vật chính là ai? Nhân vật được thể
- HS suy nghĩ cá nhân và hiện qua các chi tiết ngôn ngữ, hành động, tâm trạng…
ghi ra giấy câu trả lời trong như thế nào?
01 phút.
- Xác định được những chỉ dẫn sân khấu, các hình ảnh,
GV hướng theo dõi, từ ngữ, biện pháp tu từ… được sử dụng để tái hiện bối
hỗ trợ (nếu HS gặp khó cảnh, hành động, tâm trạng… của nhân vật.
khăn).
- Rút ra nội dung tư tưởng của vở chèo: Vở chèo phản
Bước 3: Báo cáo, thảo
ánh nội dung gì? Thể hiện tình cảm nhân đạo gì của tác
luận
giả dân gian?
Tổ chức trao đổi, trình bày - Rút ra được thông điệp, bài học cho bản thân.
nội dung đã thảo luận.
Bước 4: Đánh giá, kết
luận
GV chuẩn kiến thức.
3. HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
a. Mục tiêu hoạt động: Dựa vào nội dung tìm hiểu về đoạn trích, học sinh vận dụng
để rèn luyện kĩ năng viết.
b. Nội dung thực hiện
Học sinh thực hành kết nối đọc – viết
Bước 1. Giao nhiệm vụ Bài làm tham khảo
học tập
Tâm trạng của Xúy Vân qua tiếng chờ đò, trong điệu
- Giáo viên giao nhiệm vụ: hát con gà, trong lời than, lời hát ngược. Nàng day dứt
Viết đoạn văn khoảng 150 về những việc mình làm, nhưng có khi tự thấy mình đã
chữ, trình bày suy nghĩ của lỡ làng, dở dang, bẽ bàng, tự thấy mình lạc lõng, cô
bạn về nỗi niềm của nhân đơn, vô nghĩa trong gia đình chồng, những nỗi thất
vật Xúy Vân được thể hiện vọng trước mâu thuẫn giữa ước mơ hạnh phúc gia đình
qua lớp chèo Xúy Vân giả đầm ấm với thực tế bị chồng xao nhãng, bỏ bê vì mải
dại
mê đèn sách. Nàng còn trách duyên trách phận, duyên
- Thời gian: 20 phút.
phận dắt díu, ràng buộc họ với nhau, nhưng khát vọng
Bước 2. Thực hiện nhiệm của họ không gặp nhau. Chính vì thế nàng có cảm thấy
vụ
ấm ức, cô đơn, quẫn bách, nỗi tủi phận vì những áp lực
Học sinh thực hiện bài làm
viết kết nối đọc
Bước 3. Báo cáo, thảo
luận
Học sinh trình bày phần bài
làm của mình
Bước 4. Kết luận, nhận
định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa
chọn các chia sẻ tốt để cả
lớp tham khảo
tứ phía, khó khăn đè lên đôi vai nàng trong khi ấy Xúy
Vân không có một người người sẻ chia những điều đó.
Những câu nói ngược, đầy những phi lí, nghịch dị khơi
gợi về một thực trạng nội tâm xáo trộn, bất ổn, đầy trớ
trêu. Xúy Vân dường như rơi vào trạng thái hỗn loạn,
điên dại, rối bời, mất phương hướng.
4. HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG, LIÊN HỆ
a. Mục tiêu hoạt động: Học sinh tìm hiểu thêm số phận người phụ nữ trong xã hội
xưa và nay
b. Nội dung thực hiện: HS trình bày quan điểm
Bước 1. Giao nhiệm vụ Nếu nhân vật Xúy Vân trong vở chèo Kim Nham sống
học tập
ở thời điểm hiện đại có thể giải thoát bi kịch của bản
Giáo viên đặt câu hỏi thảo thân như: Đầu tiên sẽ phải xin lỗi Kim Nham, cùng
luận
nhau ngồi nói chuyện để cả hai hiểu nhau, nói lí do tại
Nếu nhân vật Xúy Vân sao mình lại làm như vậy chứ không nhất thiết phải giả
trong vở chèo Kim Nham điên để kết thúc cuộc hôn nhân này. Trước khi muốn
sống ở thời hiện đại, theo kết thúc mối quan hệ vợ chồng với Kim Nham để chạy
em, nàng có thể chọn cách theo tình yêu của Trần Phương thì nàng phải tìm hiểu kĩ
giải thoát bi kịch của bản con người kia là như thế nào chứ không vì cảm xúc
thân như thế nào?
nhất thời mà buông bỏ mái ấm đang có.
Bước 2. Thực hiện nhiệm
vụ
Học sinh suy nghĩ và trả lời
Bước 3. Báo cáo, thảo
luận
Học sinh trình bày
Bước 4. Kết luận, nhận
định
GV chốt lại các chia sẻ, lựa
chọn các chia sẻ tốt để cả
lớp tham khảo
NHIỆM VỤ VỀ NHÀ
- Vẽ sơ đồ tư duy về các đơn vị kiến thức của bài học hoặc vẽ tranh hình ảnh ấn
tượng về bài học.
- Tìm đọc thêm các trích đoạn khác trong kịch bản chèo Kim Nham.
- Xem trọn vẹn vở chèo cổ Kim Nham trên Youtube.
- Chuẩn bị soạn bài: đọc, tìm hiểu về văn bản “Mắc mưu Thị Hến” (Trích tuồng
Nghêu, Sò, ỐC, Hến).
RÚT KINH NGHIỆM
.....................................................................................................................................
.............................................................................................................................
 





