CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
Khuyen Hoc - Fukuzawa Yukichi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:36' 07-03-2024
Dung lượng: 918.4 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:36' 07-03-2024
Dung lượng: 918.4 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
KHUYẾN HỌC
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà xuất bản Iwanami Bunko
Tri thức và phát triển
Nhà xuất bản Trẻ
Nhóm nghiên cứu Nhật Bản
Người dịch: Phạm Hữu Lợi
“Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì
lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm.”
Tạo ebook lần đầu: sun1911
Tạo lại lần hai (11/05/2015): QuocSan
Soát chính tả lần 2 (10/2017): bun_chec
Mục lục
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
PHẦN MỘT: TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước
Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
PHẦN HAI: NGƯỜI CHỊU THIỆT THÒI NHẤT LÀ NHỮNG KẺ VÔ HỌC
Không thể có miếng ăn ngon nếu chỉ là cái “tủ kiến thức”
Tại sao không triệt để vận dụng “bình đẳng”?
Mọi “ham muốn” không làm ảnh hưởng tới người khác đều là thiện
Học để hiểu “thế nào là làm tròn công việc của mình”
Không có gì đáng sợ hơn là ngu dốt
PHẦN BA: HUN ĐÚC, NUÔI DƯỠNG CHÍ KHÍ ĐỘC LẬP RA SAO?
Nỗ lực có thể thay đổi được thiên mệnh
Thường xuyên “tôi luyện chí khí tinh thần” là rất quan trọng
Làm thế nào để hun đúc và gìn giữ được chí khí độc lập và tự do
“Dân” của Imagawa Yoshimoto và “dân” của Napoleon đệ tam
Nỗi hổ nhục của bản thân cũng là nỗi hổ nhục của quốc gia
PHẦN BỐN: TRÁCH NHIỆM CỦA “NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI”
Làm sao để Nhật Bản có được nền độc lập thực sự?
Văn minh không tiến bộ nếu chỉ dùng quyền lực
Cái gì đẻ ra “khí chất nhu nhược” của người Nhật Bản?
Đáng buồn là nước ta chỉ có người Nhật mà không có quốc dân Nhật
Những thứ không có ích chắc chắn sẽ có hại
Chưa làm thử mà cứ ngồi phán đúng sai
PHẦN NĂM: LÒNG QUẢ CẢM CỦA CON NGƯỜI SINH RA TỪ ĐÂU?
Đang hạnh phúc thì chớ quên sẽ có lúc phải đối mặt với tủi nhục
Tinh thần, chí khí độc lập là điểm xuất phát của mọi vấn đề
Vận hội sẽ hé mở ở những nơi phát huy được chí khí của mình
Khai phá văn minh là nhiệm vụ của tầng lớp trí thức trung lưu
PHẦN SÁU: LUẬT PHÁP QUÝ GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
Quốc dân phải làm tròn bổn phận “một thân hai vai”
“Trung thần nghĩa sĩ” dưới góc độ pháp luật
“Tenchyu” – thay trời trừng phạt[12]
Luật cần rõ ràng, đơn giản nhưng phải nghiêm minh
Bộ máy hành chính với những quan chức “đầu gỗ”
PHẦN BẢY: TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC DÂN
Nghĩa vụ của quốc dân
Quyền lợi của quốc dân
Phải đóng thuế
Đánh mất khí tiết, làm hại đến con cái, cháu chắt
Như thế nào là “tử vì đạo”?
Phải biết hi sinh thân mình như thế nào
PHẦN TÁM: ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC BẰNG SUY XÉT CHỦ QUAN CỦA MÌNH
“Năm thứ tự do” sẵn có trong con người
Tự do sinh sống miễn là không vượt quá bổn phận tự thân
Luận thuyết vô lý: Phật Bà Quan Âm giết người
Những lời dạy không thể chấp nhận tại trường “nữ học”
Đừng tin những lời nói bậy của Chu Tử[17]
Không phải mọi điều trong “luận ngữ” đều đúng
PHẦN CHÍN: MỤC ĐÍCH CỦA HỌC VẤN LÀ GÌ?
Có những người cảm thấy thỏa mãn chẳng khác gì loài sâu kiến
Học tập, làm việc vì xã hội
Được thừa hưởng “di sản vĩ đại” mà không biết tạ ơn ai
Đừng để lại một tài năng
PHẦN MƯỜI: HÃY SỐNG VÀ HY VỌNG Ở TƯƠNG LAI
Còn trẻ mà lại muốn lựa chọn những công việc an nhàn
Học tập phương Tây nhưng không được quá sùng bái
Hy vọng vào tương lai xán lạn là liều thuốc an ủi nỗi bất hạnh hiện thời
Hãy can đảm lên, hỡi các bạn hữu Nakatsu
PHẦN MƯỜI MỘT: ĐẲNG CẤP ĐỊA VỊ ĐẺ RA CÁC CHÍ SĨ RỞM
Quan điểm thường thấy ở những người đứng trên
Vì sao cứ muốn quan hệ ngoài xã hội phải như quan hệ cha con trong gia đình?
“Biển thủ, tư túi”, trách nhiệm của ai?
Tại sao lũ chí sĩ rởm lại cứ hoành hành mãi vậy?
Không thể trông cậy vào thiểu số “nghĩa sĩ”
Địa vị đẳng cấp và chức vụ là hai việc hoàn toàn khác nhau
PHẦN MƯỜI HAI: HÃY HỌC CÁCH DIỄN THUYẾT CÓ HIỆU QUẢ
Diễn thuyết và tranh luận nhằm nâng cao kiến thức
Học quản trị kinh doanh mà không tính toán được niêu cơm ở nhà
Bí quyết duy nhất để nâng cao kiến thức: Không được tự mãn
Tiêu chuẩn để đánh giá trường học
PHẦN MƯỜI BA: TỆ HẠI NHẤT LÀ THAM LAM
Dục vọng là điều tốt hay xấu tùy theo cách biểu hiện
“Tham lam” đối với người khác chính là nguồn gốc của mọi thói xấu
Nghèo khổ không phải là nguyên nhân
Lời than của Khổng Tử
Thực trạng hậu cung, nơi thói tham lam hoành hành
Nhật Bản hiện nay vẫn chưa thoát khỏi tính chất “hậu cung”
Mặt đối mặt mới vỡ lẽ…
PHẦN MƯỜI BỐN: PHẢI LUÔN XEM LẠI TINH THẦN CỦA BẢN THÂN
Con người luôn gặp những thất bại không ngờ tới
Đây là điều quan trọng nhất trong làm ăn
Cách tính toán “cái được, cái mất” trong cuộc đời
“Chăm sóc” có hai vế
Không thể bảo hộ nếu thiếu chỉ dẫn
Cần thiết phải có cả hai loại “chăm sóc” trong chính trị
PHẦN MƯỜI LĂM: TIẾP THU CÓ CHỌN LỌC VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
Việc tìm kiếm chân lý thường bắt đầu từ sự hoài nghi
Tin cái gì và nghi ngờ cái gì?
Nếu Nhật Bản là phương Tây…
Chỉ có học vấn mới nuôi dưỡng năng lực phán đoán
PHẦN MƯỜI SÁU: CHẠY THEO ĐỘC LẬP VẬT CHẤT SẼ ĐÁNH MẤT ĐỘC LẬP TINH
THẦN
Độc lập có hai dạng
Để gìn giữ độc lập về tinh thần, phải biết cách tiêu đồng tiền
Cách thức chuyển từ lý thuyết sang thực hành
Chỉ tin khi thấy kết quả
Để có năng lực phán đoán và hành động cần có động cơ và bánh lái
Phê phán người khác thì dễ
PHẦN MƯỜI BẢY: BÀN VỀ SỰ TÍN NHIỆM
Nói tới tín nhiệm tức là nói tới độ tin cậy
Thật và giả khác nhau ra sao?
Cần nói về bản thân mình
Coi trọng tiếng mẹ đẻ
Khi giao tiếp nét mặt cần tươi tắn, đừng để người ta ghét
Vất bỏ hình thức, hãy thật lòng, thành thực
Tìm kiếm bạn mới, không quên bạn cũ
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
Nói tới Fukuzawa Yukichi (福澤諭吉 Phúc Trạch Dụ Cát; 18341901), không người Nhật nào lại không biết. Họ nói về ông như một
trong những bậc “khai quốc công thần” của nước Nhật hiện đại, hình
ảnh của ông được in trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật, tờ
10.000 yên.
Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối
với xã hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là
“Voltaire của Nhật Bản”, không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vượt
trội trong tư tưởng của ông, mà còn vì cũng như danh nhân người
Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những người đồng chí của mình là
những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại linh
hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy Tân của
chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn một thế
kỷ trước, nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng ngưỡng
mộ.
Fukuzawa Yukichi sinh năm 1834 trong một gia đình võ sĩ cấp thấp
ở Nakatsu, nay thuộc tỉnh Oita, Kyushu, Nhật Bản. Cha ông – một
viên chức tài chính của tỉnh – mất sớm, khiến gia đình lâm vào cảnh
khốn quẫn. Năm 4 tuổi, ông được gửi sang nhà chú ruột làm con nuôi.
Ngay từ thuở niên thiếu, ông đã cảm nhận sâu sắc nỗi tủi nhục do chế
độ đẳng cấp và nỗi khổ do tình cảnh khốn quẫn của gia đình.
“Ở Nakatsu quê tôi, chế độ quyền thế gia truyền giữa các sĩ tộc
được quy định nghiêm ngặt. Không chỉ trong chốn công đường mà
nguyên tắc đó còn thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả trong
quan hệ giữa đám trẻ con trong làng. Con cái của các Võ sĩ cấp thấp
như tôi phải thưa gửi, lễ phép khi nói chuyện với con cái của các Võ sĩ
cấp cao. Ngược lại, con cái của các Võ sĩ cấp cao luôn cao giọng,
khiếm nhã đối với tôi. Sự phân biệt, chia rẽ trên dưới, sang hèn còn
thể hiện trong cả lúc chơi đùa chạy nhảy. Con cái nhà quyền thế chỉ
chơi với con cái nhà quyền thế. Trong lớp học, tôi học giỏi hơn. Vật
tay, tôi cũng không bao giờ thua. Vậy mà lúc nào chúng cũng tỏ thái
độ kiêu căng, ngạo mạn với tôi. Tôi bất bình đến mức không sao chịu
nổi.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Mãi tới năm 14, 15 tuổi ông mới được đi học ở trường làng và ông
thấy “học vấn ở đâu cũng chỉ toàn là Hán học”. Mặc dù học Nho học,
nhưng Fukuzawa Yukichi không lấy đó làm “khuôn vàng, thước
ngọc”. Ngược lại, ông càng nhận thấy sự bất công trong xã hội phong
kiến: “Nakatsu quê tôi, chế độ phong kiến đã áp đặt trật tự xã hội từ
hàng trăm năm trước thế nào thì nay vẫn thế nấy. Mọi thứ cứ như bị
nhồi chặt cứng trong hộp. Kẻ sinh ra trong nhà quản gia thì sau này
cũng trở thành quản gia. Người sinh ra trong gia đình thấp cổ bé họng
thì sau này cũng vẫn thấp cổ bé họng. Tổ tiên là quyền quý thì đời đời
là quyền quý. Tổ tiên nghèo hèn thì từ đời này sang đời khác vẫn cứ
nghèo hèn.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Năm 19 tuổi, ông theo ngành Hà Lan học (ngành học ngôn ngữ Hà
Lan, ngành nghiên cứu y học và các môn khoa học phương Tây như
toán, vật lý, hóa học, sinh học… qua các sách viết bằng tiếng Hà Lan)
tại Nagasaki và Osaka.
Năm 25 tuổi, Fukuzawa Yukichi lên Tokyo, ông đến thăm cảng
Yokohama – được chính quyền Mạc phủ mở cho tàu bè phương Tây
ra vào buôn bán. Tại đây, “chỗ nào cũng gặp người phương Tây. Nhà
cửa, quán xá mọc lên khắp nơi. Họ vào đó và buôn bán. Tôi dùng
tiếng Hà Lan để trao đổi. Họ không hiểu. Nghe họ nói, tôi cũng không
hiểu. Nhìn vào hàng chữ quảng cáo, các tờ cáo thị, tôi không đọc
được. Không biết đó là tiếng gì, tiếng Anh hay tiếng Pháp?”
(Fukuzawa – Tự truyện).
Nhận thấy “Hà Lan học” đã trở nên lạc hậu với thời đại, ông quyết
chí bắt tay vào học tiếng Anh. Không có người dạy và nơi học, ông đã
dựa vào tự điển để tự học.
Năm 1860, tình cờ ông được cử làm thông dịch viên, theo phái
đoàn của chính quyền Mạc phủ sang Hoa Kỳ, và ông đã đặt chân lên
San Francisco và Hawaii. Hai năm sau, năm 1862, ông lại được tháp
tùng phái đoàn Mạc phủ sang châu Âu. Và năm 1867, ông đặt chân tới
các thành phố phía đông Hoa Kỳ trong chuyến tháp tùng phái đoàn
của chính quyền Mạc phủ đi mua tàu.
Qua ba chuyến đi trên, Fukuzawa Yukichi đã tiếp cận với thế giới
văn vật của các quốc gia phát triển phương Tây, đồng thời mở ra
những hướng mới trong nhận thức về thế giới và làm ông ý thức rõ
hơn vị trí Nhật Bản trên trường quốc tế. Có thể nói chuyến đi sang các
nước phương Tây là bước ngoặc mang tính quyết định vai trò của
Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử Nhật Bản trong thời kỳ chuyển
mình từ cuối thời Mạc phủ sang thời kỳ Minh Trị.
Trong suốt cuộc đời, Fukuzawa Yukichi dịch sách, viết sách và xuất
bản nhiều tác phẩm có ảnh hưởng to lớn trong việc khai sáng xã hội
Nhật Bản. Bằng trực quan sắc bén, ông nắm bắt được nỗi bức xúc của
dân chúng, nên các tác phẩm của ông với cách viết giản dị, dễ hiểu, lời
văn thống thiết, đã được mọi tầng lớp độc giả Nhật Bản đón nhận như
“đang khát gặp nước”.
Tác phẩm Sự tình phương Tây 10 tập, viết từ năm 1866-1870 trên cơ
sở những điều “mắt thấy tai nghe” trong thời gian ở phương Tây, số
lượng phát hành lên tới 25 vạn bản. Tác phẩm giới thiệu thế giới văn
vật, quan niệm về quyền lợi và nghĩa vụ, chế độ chính trị, cơ cấu xã
hội, nền giáo dục, học thuật, luật pháp, lịch sử, nền công nghiệp, quân
sự… của các quốc gia Âu – Mĩ. Tác phẩm này được người Nhật Bản
coi là “cẩm nang” của chính phủ Minh Trị trong việc xây dựng xã hội
Nhật Bản theo mô hình phương Tây.
Trong tác phẩm Khái lược về văn minh xuất bản năm 1875 và Đổi mới
lòng dân xuất bản năm 1879, Fukuzawa Yukichi khảo sát về lịch sử và
nguyên nhân phát triển của các nền văn minh cổ kim đông tây. Ông
đã bàn về con đường hưng thịnh, suy vong của Nhật Bản, về cuộc
sống của nhân dân Nhật Bản khi tiến lên văn minh trong tương lai. Tư
tưởng, triết học, quan điểm lịch sử, quan điểm quốc gia của Fukuzawa
Yukichi được biểu lộ qua hai tác phẩm này.
Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi còn viết một loạt các tác phẩm hướng
đến công chúng đông đảo, mà đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Các tác
phẩm này nhằm truyền bá những tư tưởng canh tân vào xã hội Nhật
Bản, một đất nước đang thực hiện công cuộc Duy tân do chính phủ
Minh Trị tiến hành “từ trên xuống”, nhưng xã hội bên dưới vẫn còn
trong vòng kiềm tỏa của những quan hệ, những tập quán, tập tục lỗi
thời đã trải qua hàng nghìn năm của chế độ phong kiến Mạc phủ.
Những tác phẩm tiêu biểu trong số đó là:
• Khuyến học, năm 1872-1876.
• Bàn về dân quyền; Bàn về tiền tệ, năm 1878.
• Bàn về quốc quyền; Bàn về quốc hội, năm 1879.
• Bàn về kinh tế tư nhân, năm 1880.
• Bàn về thời sự thế giới; Bàn về quân sự, năm 1882.
• Bàn về nghĩa vụ quân sự; Bàn về ngoại giao, năm 1884.
• Bàn về phụ nữ Nhật Bản; Bàn về phẩm hạnh, năm 1885.
• Bàn về cách nhân sĩ xử thế; Bàn về giao tiếp nam nữ, năm 1886.
• Bàn về nam giới Nhật Bản; Bàn về hoàng gia Nhật Bản, năm 1888.
• Bàn về thuế đất; Bàn về tiền đồ và an trị quốc hội, năm 1892.
• Bàn về thực nghiệm, năm 1893.
• Fukuzawa Yukichi tuyển tập, năm 1897-1899.
• Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới, năm 1899.
• Fukuzawa Yukichi – Tự truyện, năm 1899.
Năm 1868, để nâng cao dân trí, đào tạo thanh niên sinh viên – thế
hệ gánh vác trọng trách xây dựng một nước Nhật Bản văn minh –
Fukuzawa Yukichi đã thành lập trường Keio Gijuku (Keio Nghĩa
thục) – tiền thân của trường đại học Keio nổi tiếng hiện nay tại Tokyo.
(Phan Bội Châu có đến thăm trường Keio Gijuku trong thời gian ở
Nhật Bản. Trường Đông kinh Nghĩa thục lập tại Hà Nội năm 1907
chính là dựa trên hình mẫu của trường này).
Năm 1873, Fukuzawa Yukichi cùng với một số trí thức Tây học lập
ra hội Meirokusha. Hội viên có 10 người và đều là các học giả thuộc
nhiều ngành như Mori Arinori (1847-1889), Nakamura Masâno (18321891), Kato Hiroyuki (1838-1916), Nishi Amane (1829-1897), Taguchi
Ukichi (1828-1903)… Họ tổ chức viết sách, dịch thuật, tổ chức các buổi
diễn thuyết, xuất bản tập san Meroku làm diễn đàn để phổ biến và
tranh luận đủ mọi vấn đề: chính trị, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, pháp
luật, vai trò phụ nữ, phong tục, Nhật ngữ…
Các thành viên trong hội Meirokusha đã dịch và giới thiệu nhiều
tác phẩm về tư tưởng, chính trị, kinh tế, luật pháp, giáo dục phương
Tây ra tiếng Nhật. Các tác phẩm được dịch và giới thiệu trong thời kì
này là các cuốn Tự giúp mình (Self-help) của Samuel Smiles (1812-1904),
Tự do luận (On liberty), Chính trị Kinh tế học (Political Economy), Chủ
nghĩa công lợi (Utilitarianism) của JS. Mill (1806-1873), Nam nữ bình
quyền luận (Social Statics), Giáo dục (Education) của Herbert Spencer
(1820-1903), Tinh thần pháp luật của Montesquieu (1689-1755), Khế ước
xã hội của Rousseau (1712-1778), Tự do mậu dịch của Adam Smith.
Ngoài ra, Thuyết tiến hóa của Darwin và tác phẩm Allgemeines
Staatsrecht của JC. Bluntschli người Đức cũng được dịch và giới thiệu.
Năm 1879, Viện Học sĩ Tokyo – tiền thân của Viện Hàn lâm Nhật
Bản ngày nay – ra đời. Fukuzawa Yukichi được chọn làm viện trưởng.
Năm 1882, ông sáng lập và làm chủ bút tờ Thời sự tân báo để trao
đổi quan điểm về các vấn đề trong xã hội Nhật Bản thời ấy.
Để đóng góp hữu hiệu trong việc khai hóa văn minh, nâng cao dân
trí, phát triển xã hội, Fukuzawa Yukichi chủ trương các học giả phải
có lập trường độc lập với chính phủ. Do đó, suốt cả cuộc đời, ông nhất
quyết từ chối mọi lời mời tham dự chính quyền, mặc dù nhiều học giả
cùng hội cũng như các môn đệ của ông giữ những trọng trách quan
trọng trong chính phủ Minh Trị.
Năm 1900, ông được nhận giải thưởng từ Hoàng gia Nhật Bản do
công lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Giải thưởng trị giá 50.000
yên. Ông tặng lại số tiền cho trường Keio.
Năm 1901, ông mất do xuất huyết não, thọ 68 tuổi.
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được
ông viết trong thời gian 1872-1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ
và sâu sắc nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng
nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách
này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số
Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35 triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho
thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của mọi người dân
Nhật trong thời kì Duy tân. Và kể từ đó đến nay, cuốn sách này đã
được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà
xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến 76 lần.
Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập đến tinh thần cơ
bản của con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương
viết về sự bình đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới,
trách nhiệm của nhân dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị…
cuốn Khuyến học đã làm lay chuyển tâm lý người dân Nhật Bản dưới
thời Minh Trị. Với tuyên ngôn “Trời không tạo ra người đứng trên
người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”, Fukuzawa
Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như “không tin vào tai
mình” – cho đa số người dân Nhật Bản vốn bị trói buộc bởi đẳng cấp,
thân phận, quen phục tùng, phó mặc và e sợ quan quyền suốt hàng
trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi
người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học
vấn. Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và
nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”.
Nền học vấn thực học phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải
dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc
tiếp thu văn minh phương Tây phải có chọn lọc. Và quan điểm xuyên
suốt cuốn sách là “Làm thế nào để bảo vệ nền độc lập Nhật Bản”
trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang muốn biến toàn bộ
châu Á thành thuộc địa.
Với độc giả Việt Nam hiện nay, nhiều tư tưởng của Fukuzawa
trong “Khuyến học” có lẽ không còn là điều mới mẻ gây chấn động
lòng người như đối với người dân Nhật Bản ở thời Minh Trị. Tuy
nhiên, cách đặt vấn đề của ông thì vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối
với những quốc gia đang trên con đường hiện đại hóa. Ngoài ra cuốn
“cẩm nang” của người Nhật này cũng sẽ giúp cho độc giả Việt Nam
hiểu rõ hơn những đặc điểm về tính cách và tinh thần của người Nhật
Bản hiện đại, những người từ thân phận nông nô “ăn nhờ ở đậu”, nhờ
có sự khai sáng của những con người như Fukuzawa Yukichi mà đã
trở thành “quốc dân” của một đất nước Nhật Bản hiện đại và văn
minh như ngày nay.
PHẦN MỘT:
TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN
NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do
học vấn
Người ta thường nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người và
cũng không tạo ra người đứng dưới người.” Kể từ khi tạo hóa làm ra
con người thì tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách,
có địa vị như nhau, không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.
Loài người – chúa tể của muôn loài – bằng hoạt động trí óc và hoạt
động chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho
bản thân mình. Nhờ thế mà thỏa mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống
tự do theo ý muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của
đồng loại. Con người có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý
Trời, là niềm hi vọng của Trời đối với con người.
Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có
những khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người
thông minh và kẻ đần độn; giữa người giàu và người nghèo; giữa tầng
lớp quý tộc và tầng lớp hạ đẳng.
Như thế là tại làm sao? Nguyên nhân thực ra rất rõ ràng.
Cuốn sách dạy tu thân Thực ngữ giáo có câu: “Kẻ vô học là người
không có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt.” Câu nói trên cũng
có thể hiểu: Sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở
chỗ có học hay vô học mà thôi.
Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được
coi là người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị
coi thường. Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc
khó, còn lao động chân tay là việc dễ. Vì thế, học giả, quan chức chính
phủ, giám đốc các công ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân
công… là những người có địa vị cao, quan trọng. Và một khi đã là
những người có địa vị, quan trọng thì đương nhiên gia đình họ cũng
giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng nằm mơ cũng không
được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn đề thì chỉ có một
nguyên nhân. Đó chẳng qua là do có chịu khó học hay không mà thôi,
chứ có người nào được trời phú cho đâu. Ngạn ngữ có câu: “Trời
không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang
phú quý.” Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của
con người để ban thưởng.
Như tôi đã đề cập: Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang
hèn, giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết
nhiều sẽ trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ
trở thành con người thấp hèn, nghèo khổ.
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Học vấn là gì? Đó không phải là học chỉ cốt để hiểu câu khó, chữ
khó; càng không phải là việc học chỉ để giải nghĩa văn cổ, đọc thơ,
vịnh thơ. Học như vậy không có ích gì cho cuộc sống cả.
Đọc các tác phẩm văn học cũng là để động viên an ủi lòng người,
như thế chẳng phải là môn học có ích cho cuộc sống đó sao? Nhưng
tôi không nghĩ rằng văn học là môn học quan trọng đến mức “phải
thờ phụng nó” như các thầy dạy Hán văn, Cổ văn thường nhấn mạnh.
Trong cuộc sống, tôi hầu như không thấy thầy dạy Hán văn nào có
được tài sản đáng kể, cũng như các thương gia vừa giỏi thơ phú vừa
thành công trong kinh doanh lại càng hiếm.
Với lối học như hiện nay, chỉ tăng thêm sự lo lắng trong các bậc
phụ huynh, nhà nông… những người hết lòng chăm lo việc học tập
của con cái: “Chúng nó cứ học theo kiểu này, chắc có ngày tán gia bại
sản mất.” Điều đó đúng. Vì lối học này không thực tế, không thể áp
dụng kết quả học tập vào thực tiễn cuộc sống.
Vậy thì giờ đây chúng ta phải học cái gì và học như thế nào?
Trước hết phải học những môn học thực dụng cần thiết cho cuộc
sống hằng ngày. Ví dụ: phải thuộc lòng bảng 47 chữ cái Kana. Học
cách soạn thảo thư từ, ghi chép trương mục kế toán. Sử dụng thành
thạo bàn tính. Nhớ cách cân đong, đo, đếm. Tiếp đến là phải học các
môn như Địa lý để biết được phong thổ Nhật Bản và các nước trên địa
cầu. Vật lý là môn học giúp ta phân biệt được tính chất của mọi vật
thể trong thiên nhiên, qua đó tìm ra tác dụng của nó. Học Sử vì đây là
môn học giúp ta hiểu biết cặn kẽ mọi sự kiện ghi trên niên biểu lịch
sử, qua đó chúng ta có thể nghiên cứu quá khứ, hiện tại của mọi quốc
gia. Học Kinh tế là môn giải đáp cho chúng ta mọi vấn đề liên quan
đến việc chi tiêu trong mỗi gia đình cũng như nền tài chính của cả
quốc gia. Học môn Đạo đức, môn này giúp ta hiểu về hành vi, hành
động của bản thân, hiểu cách cư xử, cách giao tiếp, cách sinh hoạt
giữa người với người.
Để học các môn này, cần thiết phải đọc tất cả các quyển sách của
châu Âu đã được dịch ra tiếng Nhật. Đối với các bạn trẻ có khả năng
thì tôi khuyên nên đọc trực tiếp các nguyên bản bằng tiếng Anh,
Pháp, Đức. Khi học phải nắm được nội dung chủ yếu của môn học,
trên cơ sở đó phải hiểu được bản chất cơ bản của mọi sự vật. Học như
vậy mới có ích cho cuộc sống. Đó là “thực học” mà ai cũng phải học,
là học vấn mà hết thảy mọi người đều phải tự trang bị, không phân
biệt đẳng cấp, khoảng cách giàu nghèo. Chính việc tự trang bị kiến
thức này, từng cá nhân trên cơ sở làm trọn trọng trách của mình, sẽ
điều hành quản lý tốt gia nghiệp được giao.
Cá nhân có độc lập thì gia đình mới độc lập. Và như thế quốc gia
cũng độc lập.
Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
Biết đúng vị trí, chỗ đứng của mình là rất quan trọng. Kể từ khi
sinh ra, con người không phải chịu sự can thiệp của bất cứ một ai.
Nam cũng như nữ đều có quyền tự do sinh sống. Và đúng là con
người có quyền tự do, nhưng lúc nào cũng khăng khăng đòi phải
được làm theo ý muốn của riêng mình mà không biết rõ vị trí của
mình thì sẽ trở nên chỉ biết có mình, cho riêng mình. Như thế là tự
mình làm hỏng mình.
Dựa trên đạo lý mà Trời đã định, vị trí của mỗi người là ở chỗ: biết
trọng tình người, không làm phiền hay cản trở người khác, biết bảo vệ
quyền tự do bản thân.
Tự do bản thân không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, không có
nghĩa là làm phiền hoặc cản trở người khác. Ví dụ như có người nói:
“Tiền tôi, thích uống rượu tôi uống, thích mua 'hoa' tôi mua. Đó là
quyền tự do của tôi, chứ động chạm gì tới ai.” Suy nghĩ như vậy là sai.
Ham mê tửu sắc làm ảnh hưởng tới người khác, lại lôi kéo bạn bè, làm
hại nền giáo dục xã hội. Cứ cho là tiền tôi tôi chi tiêu, nhưng không vì
thế mà có thể bỏ qua nhưng hành vi tội lỗi gây ra cho xã hội.
Tự do và độc lập không chỉ liên quan tới từng cá nhân mà còn là
vấn đề của quốc gia nữa.
Nhật Bản chúng ta là một quốc đảo nhỏ nằm ở phía Đông châu Á,
cách xa đại lục, lâu nay không giao thương với ngoại quốc, bế quan
tỏa cảng, tự cung tự cấp. Mãi tới thời Gia Vĩnh (1848-1854), khi hạm
đội Mỹ kéo đến gây áp lực, Nhật Bản mới bắt đầu mở của giao
thương với nước ngoài. Thế mà ngay cả khi đã mở cửa, trong nước
vẫn chưa hết tranh cãi ồn ào xung quanh việc tiếp tục mở cửa hay
đóng cửa, tiếp tục lên án người ngoại quốc là lũ man di mọi rợ…
Những cuộc tranh cãi như vậy thật là vô bổ, có khác nào “ếch ngồi
đáy giếng coi trời bằng vung”.
Thử nghĩ xem, chẳng phải là người Nhật chúng ta cũng như người
dân các nước phương Tây cùng ở trên một quả đất, hưởng chung ánh
mặt trời, ánh trăng, thở cùng một không khí, hưởng cùng một đại
dương, và đều là con người cả đó sao. Chúng ta thừa sản vật thì chia
bớt cho người ta; người ta thừa sản vật thì chia lại cho mình, cùng học
hỏi lẫn nhau, không ai tự cao tự đại, không làm nhau hổ thẹn. Dân
Nhật ta cũng như dân họ đều cùng mong phát triển, cùng mong hạnh
phúc đó sao?
Chúng ta phải tận tâm làm hết sức mình trong quan hệ quốc tế sao
cho đúng ý trời, hợp lòng người. Nếu đúng đạo lý thì cần chuộc lỗi
với người Phi châu cũng phải làm. Còn để bảo vệ lập trường chính
nghĩa thì dù là pháo hạm Anh hay Mĩ, chúng ta cũng không sợ. Khi
quốc gia chịu nỗi nhục mất nước thì mọi người dân Nhật, không trừ
một ai, đều sẵn sàng xả thân để bảo vệ thanh danh của Tổ quốc. Như
vậy, đất nước mới tự do, quốc gia mới độc lập.
Thế nhưng trên thế gian này, vẫn có quốc gia tự phong cho mình là
trung tâm của vũ trụ. Họ nghĩ là ngoài đất nước họ ra không có quốc
gia nào tồn tại cả. Hễ cứ nhìn thấy người ngoại quốc thì miệt thị như
loài thú hoang, gọi họ là man di mọi rợ. Kết cục là quốc gia đó tự
chuốc lấy sự căm ghét của các nước khác. Đó là một kiểu “chỉ biết cái
tôi” ở tầm quốc gia, đó là cách ngoại giao không biết mình biết người,
không nắm rõ ý nghĩa của từ Tự do.
Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn
phận với đất nước
Kể từ khi thiết lập chế độ quân chủ[1], nền chính trị Nhật Bản đã có
những thay đổi mạnh mẽ. Về mặt đối ngoại, chính phủ đã bang giao
với ngoại quốc trên cơ sở công pháp quốc tế. Về đối nội, chính phủ đã
mang lại tinh thần “tự do, độc lập” cho dân chúng. Người dân chúng
ta đã được phép mang đầy đủ họ và tên; được phép cưỡi ngựa… Đó
là sự thay đổi to lớn kể từ thuở lập quốc, tạo cơ sở bình đẳng về địa vị
giữa các thành phần Võ sĩ (samurai), Nông, Công, Thương trong xã
hội.[2]
Chế độ đẳng cấp – địa vị của một người được quy định trước cả khi
người đó ra đời – đã hoàn toàn bị xóa bỏ.[3]
Từ nay trở đi địa vị xã hội của cá nhân sẽ được quyết định tùy theo
tài năng, phẩm cách và vai trò của mỗi người. Quan chức chính quyền
được bổ nhiệm theo tài năng và nhân cách, và là người thực thi luật
pháp cho chúng ta. Chúng ta kính trọng họ theo lẽ đó, chứ không phải
chúng ta kính trọng chức vụ và thành phần xuất thân của họ. Chúng
ta không tuân theo con người họ. Chúng ta chỉ tuân thủ Luật pháp
(Quốc pháp) mà họ đang thừa nhận.
Dưới thời chính quyền phong kiến Mạc phủ, người dân chúng ta
luôn phải khiếp sợ, né tránh, cúi rạp mình trước các Tướng quân[4].
Ngay cả lũ ngựa của các Tướng quân cũng làm chúng ta hoảng sợ
không dám đi chung đường với chúng; bầy chim cắt dùng nhử mồi
khi các Tướng quân đi săn bắn, cũng làm chúng ta khiếp đảm, phải
cúi lạy phải phủ phục cho đến khi lũ chim bay khuất mới dám ngẩng
đầu đứng lên đi tiếp. Người ta đã buộc chúng ta phải quen, phải sợ
những thứ được coi là “luật lệ”, “tập quán” hà khắc ấy. Giờ đây nghĩ
lại ai ai cũng cảm thấy kinh tởm.
Nhưng thứ “luật lệ”, “tập quán” đặt ra một cách vô cớ đó, không
phải là luật pháp hay quốc pháp để chúng ta phải tuân thủ. Chúng là
những thứ đã cướp đoạt mọi quyền tự do của chúng ta. Chúng là
những thứ được đặt ra để gieo rắc nỗi sợ hãi trong chúng ta trước uy
quyền của chế độ phong kiến Mạc phủ và nhằm để che đậy bản chất
lộng hành, không minh bạch của chính chế độ đó.
Giờ đây, toàn bộ cái chế độ và luật lệ ngu xuẩn ấy đã bị xóa sổ. Vì
thế, không lẽ gì chúng ta cứ phải sợ bóng sợ vía các cấp chính quyền
đó mãi.
Nếu có gì bất mãn với chính quyền hiện tại, chúng ta phải kháng
nghị, tranh luận một cách đường đường chính chính. Tại sao chúng ta
chỉ dám nói xấu, kêu ca sau lưng họ mà không dám chỉ mặt vạch tên?
Những kháng nghị hợp lòng dân, đúng đạo Trời, dù có phải đổ cả
tính mạng chúng ta cũng phải tranh đấu. Đây là bổn phận mà mỗi
người dân chúng ta phải thực hiện đối với đất nước.
Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
Như tôi đã nói ở trên kia, “độc lập và tự do” dựa trên đạo lý của
Trời đã trở thành nguyên tắc trong từng người cũng như của cả quốc
gia chúng ta. Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc này thì
dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng không sợ,
huống hồ chúng ta lại phải sợ một số quan chức chính phủ lộng
quyền?
Giờ đây, chúng ta đã xác lập được tinh thần cơ bản: mọi người dân
đều bình đẳng, vì thế chúng ta hãy yên tâm phát huy mọi khả năng
sức lực và trí tuệ của mình.
Mỗi người đều có mỗi bổn phận, do đó phải tự vun đắp tài năng,
rèn luyện nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận đó. Để làm
được điều này, ai ai cũng phải học chữ, học ngôn ngữ. Có chữ, biết
ngôn ngữ sẽ lý giải được mọi đạo lý của sự vật.
Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu giúp tôi rằng: Học vấn là vấn đề
cấp bách biết nhường nào.
Hiện nay, tầng lớp thường dân cũng đã sánh vai ngang hàng với
tầng lớp Võ sĩ (samurai), cho nên con đường được lựa chọn vào các
chức vụ trong chính quyền cũng mở ra cho chúng ta nếu chúng ta có
tài.
Chúng ta phải tự giác trước bổn phận của bản thân, không chạy
theo những hành động rồ dại, phải cẩn trọng.
Tôi chắc rằng không ai đáng thương hại hơn là những người vô tri
thức, những người không hiểu lẽ phải, và cũng không ai khó giao tiếp
hơn những người ấy. Vì không có tri thức, không có năng lực tự thức
tỉnh nên họ căm ghét oán giận những người giàu có chính đáng, đôi
khi họ tập hợp thành bầu đoàn đi đánh cướp.
Bản thân họ được pháp luật bảo vệ, nhưng hễ cứ cảm thấy bất lợi
cho mình thì họ lại thản nhiên vi phạm, ngang nhiên phá luật.
Lại không có ít người, có được chút ít tài sản, tiền bạc thì chỉ lo tích
trữ, cất giấu, không bao giờ suy nghĩ đầu tư cho con cháu học hành.
Vì thế con cháu họ chỉ biết ăn chơi, lêu lổng, dốt nát v...
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà xuất bản Iwanami Bunko
Tri thức và phát triển
Nhà xuất bản Trẻ
Nhóm nghiên cứu Nhật Bản
Người dịch: Phạm Hữu Lợi
“Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì
lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm.”
Tạo ebook lần đầu: sun1911
Tạo lại lần hai (11/05/2015): QuocSan
Soát chính tả lần 2 (10/2017): bun_chec
Mục lục
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
PHẦN MỘT: TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước
Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
PHẦN HAI: NGƯỜI CHỊU THIỆT THÒI NHẤT LÀ NHỮNG KẺ VÔ HỌC
Không thể có miếng ăn ngon nếu chỉ là cái “tủ kiến thức”
Tại sao không triệt để vận dụng “bình đẳng”?
Mọi “ham muốn” không làm ảnh hưởng tới người khác đều là thiện
Học để hiểu “thế nào là làm tròn công việc của mình”
Không có gì đáng sợ hơn là ngu dốt
PHẦN BA: HUN ĐÚC, NUÔI DƯỠNG CHÍ KHÍ ĐỘC LẬP RA SAO?
Nỗ lực có thể thay đổi được thiên mệnh
Thường xuyên “tôi luyện chí khí tinh thần” là rất quan trọng
Làm thế nào để hun đúc và gìn giữ được chí khí độc lập và tự do
“Dân” của Imagawa Yoshimoto và “dân” của Napoleon đệ tam
Nỗi hổ nhục của bản thân cũng là nỗi hổ nhục của quốc gia
PHẦN BỐN: TRÁCH NHIỆM CỦA “NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI”
Làm sao để Nhật Bản có được nền độc lập thực sự?
Văn minh không tiến bộ nếu chỉ dùng quyền lực
Cái gì đẻ ra “khí chất nhu nhược” của người Nhật Bản?
Đáng buồn là nước ta chỉ có người Nhật mà không có quốc dân Nhật
Những thứ không có ích chắc chắn sẽ có hại
Chưa làm thử mà cứ ngồi phán đúng sai
PHẦN NĂM: LÒNG QUẢ CẢM CỦA CON NGƯỜI SINH RA TỪ ĐÂU?
Đang hạnh phúc thì chớ quên sẽ có lúc phải đối mặt với tủi nhục
Tinh thần, chí khí độc lập là điểm xuất phát của mọi vấn đề
Vận hội sẽ hé mở ở những nơi phát huy được chí khí của mình
Khai phá văn minh là nhiệm vụ của tầng lớp trí thức trung lưu
PHẦN SÁU: LUẬT PHÁP QUÝ GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
Quốc dân phải làm tròn bổn phận “một thân hai vai”
“Trung thần nghĩa sĩ” dưới góc độ pháp luật
“Tenchyu” – thay trời trừng phạt[12]
Luật cần rõ ràng, đơn giản nhưng phải nghiêm minh
Bộ máy hành chính với những quan chức “đầu gỗ”
PHẦN BẢY: TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC DÂN
Nghĩa vụ của quốc dân
Quyền lợi của quốc dân
Phải đóng thuế
Đánh mất khí tiết, làm hại đến con cái, cháu chắt
Như thế nào là “tử vì đạo”?
Phải biết hi sinh thân mình như thế nào
PHẦN TÁM: ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC BẰNG SUY XÉT CHỦ QUAN CỦA MÌNH
“Năm thứ tự do” sẵn có trong con người
Tự do sinh sống miễn là không vượt quá bổn phận tự thân
Luận thuyết vô lý: Phật Bà Quan Âm giết người
Những lời dạy không thể chấp nhận tại trường “nữ học”
Đừng tin những lời nói bậy của Chu Tử[17]
Không phải mọi điều trong “luận ngữ” đều đúng
PHẦN CHÍN: MỤC ĐÍCH CỦA HỌC VẤN LÀ GÌ?
Có những người cảm thấy thỏa mãn chẳng khác gì loài sâu kiến
Học tập, làm việc vì xã hội
Được thừa hưởng “di sản vĩ đại” mà không biết tạ ơn ai
Đừng để lại một tài năng
PHẦN MƯỜI: HÃY SỐNG VÀ HY VỌNG Ở TƯƠNG LAI
Còn trẻ mà lại muốn lựa chọn những công việc an nhàn
Học tập phương Tây nhưng không được quá sùng bái
Hy vọng vào tương lai xán lạn là liều thuốc an ủi nỗi bất hạnh hiện thời
Hãy can đảm lên, hỡi các bạn hữu Nakatsu
PHẦN MƯỜI MỘT: ĐẲNG CẤP ĐỊA VỊ ĐẺ RA CÁC CHÍ SĨ RỞM
Quan điểm thường thấy ở những người đứng trên
Vì sao cứ muốn quan hệ ngoài xã hội phải như quan hệ cha con trong gia đình?
“Biển thủ, tư túi”, trách nhiệm của ai?
Tại sao lũ chí sĩ rởm lại cứ hoành hành mãi vậy?
Không thể trông cậy vào thiểu số “nghĩa sĩ”
Địa vị đẳng cấp và chức vụ là hai việc hoàn toàn khác nhau
PHẦN MƯỜI HAI: HÃY HỌC CÁCH DIỄN THUYẾT CÓ HIỆU QUẢ
Diễn thuyết và tranh luận nhằm nâng cao kiến thức
Học quản trị kinh doanh mà không tính toán được niêu cơm ở nhà
Bí quyết duy nhất để nâng cao kiến thức: Không được tự mãn
Tiêu chuẩn để đánh giá trường học
PHẦN MƯỜI BA: TỆ HẠI NHẤT LÀ THAM LAM
Dục vọng là điều tốt hay xấu tùy theo cách biểu hiện
“Tham lam” đối với người khác chính là nguồn gốc của mọi thói xấu
Nghèo khổ không phải là nguyên nhân
Lời than của Khổng Tử
Thực trạng hậu cung, nơi thói tham lam hoành hành
Nhật Bản hiện nay vẫn chưa thoát khỏi tính chất “hậu cung”
Mặt đối mặt mới vỡ lẽ…
PHẦN MƯỜI BỐN: PHẢI LUÔN XEM LẠI TINH THẦN CỦA BẢN THÂN
Con người luôn gặp những thất bại không ngờ tới
Đây là điều quan trọng nhất trong làm ăn
Cách tính toán “cái được, cái mất” trong cuộc đời
“Chăm sóc” có hai vế
Không thể bảo hộ nếu thiếu chỉ dẫn
Cần thiết phải có cả hai loại “chăm sóc” trong chính trị
PHẦN MƯỜI LĂM: TIẾP THU CÓ CHỌN LỌC VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
Việc tìm kiếm chân lý thường bắt đầu từ sự hoài nghi
Tin cái gì và nghi ngờ cái gì?
Nếu Nhật Bản là phương Tây…
Chỉ có học vấn mới nuôi dưỡng năng lực phán đoán
PHẦN MƯỜI SÁU: CHẠY THEO ĐỘC LẬP VẬT CHẤT SẼ ĐÁNH MẤT ĐỘC LẬP TINH
THẦN
Độc lập có hai dạng
Để gìn giữ độc lập về tinh thần, phải biết cách tiêu đồng tiền
Cách thức chuyển từ lý thuyết sang thực hành
Chỉ tin khi thấy kết quả
Để có năng lực phán đoán và hành động cần có động cơ và bánh lái
Phê phán người khác thì dễ
PHẦN MƯỜI BẢY: BÀN VỀ SỰ TÍN NHIỆM
Nói tới tín nhiệm tức là nói tới độ tin cậy
Thật và giả khác nhau ra sao?
Cần nói về bản thân mình
Coi trọng tiếng mẹ đẻ
Khi giao tiếp nét mặt cần tươi tắn, đừng để người ta ghét
Vất bỏ hình thức, hãy thật lòng, thành thực
Tìm kiếm bạn mới, không quên bạn cũ
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
Nói tới Fukuzawa Yukichi (福澤諭吉 Phúc Trạch Dụ Cát; 18341901), không người Nhật nào lại không biết. Họ nói về ông như một
trong những bậc “khai quốc công thần” của nước Nhật hiện đại, hình
ảnh của ông được in trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật, tờ
10.000 yên.
Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối
với xã hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là
“Voltaire của Nhật Bản”, không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vượt
trội trong tư tưởng của ông, mà còn vì cũng như danh nhân người
Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những người đồng chí của mình là
những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại linh
hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy Tân của
chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn một thế
kỷ trước, nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng ngưỡng
mộ.
Fukuzawa Yukichi sinh năm 1834 trong một gia đình võ sĩ cấp thấp
ở Nakatsu, nay thuộc tỉnh Oita, Kyushu, Nhật Bản. Cha ông – một
viên chức tài chính của tỉnh – mất sớm, khiến gia đình lâm vào cảnh
khốn quẫn. Năm 4 tuổi, ông được gửi sang nhà chú ruột làm con nuôi.
Ngay từ thuở niên thiếu, ông đã cảm nhận sâu sắc nỗi tủi nhục do chế
độ đẳng cấp và nỗi khổ do tình cảnh khốn quẫn của gia đình.
“Ở Nakatsu quê tôi, chế độ quyền thế gia truyền giữa các sĩ tộc
được quy định nghiêm ngặt. Không chỉ trong chốn công đường mà
nguyên tắc đó còn thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả trong
quan hệ giữa đám trẻ con trong làng. Con cái của các Võ sĩ cấp thấp
như tôi phải thưa gửi, lễ phép khi nói chuyện với con cái của các Võ sĩ
cấp cao. Ngược lại, con cái của các Võ sĩ cấp cao luôn cao giọng,
khiếm nhã đối với tôi. Sự phân biệt, chia rẽ trên dưới, sang hèn còn
thể hiện trong cả lúc chơi đùa chạy nhảy. Con cái nhà quyền thế chỉ
chơi với con cái nhà quyền thế. Trong lớp học, tôi học giỏi hơn. Vật
tay, tôi cũng không bao giờ thua. Vậy mà lúc nào chúng cũng tỏ thái
độ kiêu căng, ngạo mạn với tôi. Tôi bất bình đến mức không sao chịu
nổi.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Mãi tới năm 14, 15 tuổi ông mới được đi học ở trường làng và ông
thấy “học vấn ở đâu cũng chỉ toàn là Hán học”. Mặc dù học Nho học,
nhưng Fukuzawa Yukichi không lấy đó làm “khuôn vàng, thước
ngọc”. Ngược lại, ông càng nhận thấy sự bất công trong xã hội phong
kiến: “Nakatsu quê tôi, chế độ phong kiến đã áp đặt trật tự xã hội từ
hàng trăm năm trước thế nào thì nay vẫn thế nấy. Mọi thứ cứ như bị
nhồi chặt cứng trong hộp. Kẻ sinh ra trong nhà quản gia thì sau này
cũng trở thành quản gia. Người sinh ra trong gia đình thấp cổ bé họng
thì sau này cũng vẫn thấp cổ bé họng. Tổ tiên là quyền quý thì đời đời
là quyền quý. Tổ tiên nghèo hèn thì từ đời này sang đời khác vẫn cứ
nghèo hèn.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Năm 19 tuổi, ông theo ngành Hà Lan học (ngành học ngôn ngữ Hà
Lan, ngành nghiên cứu y học và các môn khoa học phương Tây như
toán, vật lý, hóa học, sinh học… qua các sách viết bằng tiếng Hà Lan)
tại Nagasaki và Osaka.
Năm 25 tuổi, Fukuzawa Yukichi lên Tokyo, ông đến thăm cảng
Yokohama – được chính quyền Mạc phủ mở cho tàu bè phương Tây
ra vào buôn bán. Tại đây, “chỗ nào cũng gặp người phương Tây. Nhà
cửa, quán xá mọc lên khắp nơi. Họ vào đó và buôn bán. Tôi dùng
tiếng Hà Lan để trao đổi. Họ không hiểu. Nghe họ nói, tôi cũng không
hiểu. Nhìn vào hàng chữ quảng cáo, các tờ cáo thị, tôi không đọc
được. Không biết đó là tiếng gì, tiếng Anh hay tiếng Pháp?”
(Fukuzawa – Tự truyện).
Nhận thấy “Hà Lan học” đã trở nên lạc hậu với thời đại, ông quyết
chí bắt tay vào học tiếng Anh. Không có người dạy và nơi học, ông đã
dựa vào tự điển để tự học.
Năm 1860, tình cờ ông được cử làm thông dịch viên, theo phái
đoàn của chính quyền Mạc phủ sang Hoa Kỳ, và ông đã đặt chân lên
San Francisco và Hawaii. Hai năm sau, năm 1862, ông lại được tháp
tùng phái đoàn Mạc phủ sang châu Âu. Và năm 1867, ông đặt chân tới
các thành phố phía đông Hoa Kỳ trong chuyến tháp tùng phái đoàn
của chính quyền Mạc phủ đi mua tàu.
Qua ba chuyến đi trên, Fukuzawa Yukichi đã tiếp cận với thế giới
văn vật của các quốc gia phát triển phương Tây, đồng thời mở ra
những hướng mới trong nhận thức về thế giới và làm ông ý thức rõ
hơn vị trí Nhật Bản trên trường quốc tế. Có thể nói chuyến đi sang các
nước phương Tây là bước ngoặc mang tính quyết định vai trò của
Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử Nhật Bản trong thời kỳ chuyển
mình từ cuối thời Mạc phủ sang thời kỳ Minh Trị.
Trong suốt cuộc đời, Fukuzawa Yukichi dịch sách, viết sách và xuất
bản nhiều tác phẩm có ảnh hưởng to lớn trong việc khai sáng xã hội
Nhật Bản. Bằng trực quan sắc bén, ông nắm bắt được nỗi bức xúc của
dân chúng, nên các tác phẩm của ông với cách viết giản dị, dễ hiểu, lời
văn thống thiết, đã được mọi tầng lớp độc giả Nhật Bản đón nhận như
“đang khát gặp nước”.
Tác phẩm Sự tình phương Tây 10 tập, viết từ năm 1866-1870 trên cơ
sở những điều “mắt thấy tai nghe” trong thời gian ở phương Tây, số
lượng phát hành lên tới 25 vạn bản. Tác phẩm giới thiệu thế giới văn
vật, quan niệm về quyền lợi và nghĩa vụ, chế độ chính trị, cơ cấu xã
hội, nền giáo dục, học thuật, luật pháp, lịch sử, nền công nghiệp, quân
sự… của các quốc gia Âu – Mĩ. Tác phẩm này được người Nhật Bản
coi là “cẩm nang” của chính phủ Minh Trị trong việc xây dựng xã hội
Nhật Bản theo mô hình phương Tây.
Trong tác phẩm Khái lược về văn minh xuất bản năm 1875 và Đổi mới
lòng dân xuất bản năm 1879, Fukuzawa Yukichi khảo sát về lịch sử và
nguyên nhân phát triển của các nền văn minh cổ kim đông tây. Ông
đã bàn về con đường hưng thịnh, suy vong của Nhật Bản, về cuộc
sống của nhân dân Nhật Bản khi tiến lên văn minh trong tương lai. Tư
tưởng, triết học, quan điểm lịch sử, quan điểm quốc gia của Fukuzawa
Yukichi được biểu lộ qua hai tác phẩm này.
Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi còn viết một loạt các tác phẩm hướng
đến công chúng đông đảo, mà đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Các tác
phẩm này nhằm truyền bá những tư tưởng canh tân vào xã hội Nhật
Bản, một đất nước đang thực hiện công cuộc Duy tân do chính phủ
Minh Trị tiến hành “từ trên xuống”, nhưng xã hội bên dưới vẫn còn
trong vòng kiềm tỏa của những quan hệ, những tập quán, tập tục lỗi
thời đã trải qua hàng nghìn năm của chế độ phong kiến Mạc phủ.
Những tác phẩm tiêu biểu trong số đó là:
• Khuyến học, năm 1872-1876.
• Bàn về dân quyền; Bàn về tiền tệ, năm 1878.
• Bàn về quốc quyền; Bàn về quốc hội, năm 1879.
• Bàn về kinh tế tư nhân, năm 1880.
• Bàn về thời sự thế giới; Bàn về quân sự, năm 1882.
• Bàn về nghĩa vụ quân sự; Bàn về ngoại giao, năm 1884.
• Bàn về phụ nữ Nhật Bản; Bàn về phẩm hạnh, năm 1885.
• Bàn về cách nhân sĩ xử thế; Bàn về giao tiếp nam nữ, năm 1886.
• Bàn về nam giới Nhật Bản; Bàn về hoàng gia Nhật Bản, năm 1888.
• Bàn về thuế đất; Bàn về tiền đồ và an trị quốc hội, năm 1892.
• Bàn về thực nghiệm, năm 1893.
• Fukuzawa Yukichi tuyển tập, năm 1897-1899.
• Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới, năm 1899.
• Fukuzawa Yukichi – Tự truyện, năm 1899.
Năm 1868, để nâng cao dân trí, đào tạo thanh niên sinh viên – thế
hệ gánh vác trọng trách xây dựng một nước Nhật Bản văn minh –
Fukuzawa Yukichi đã thành lập trường Keio Gijuku (Keio Nghĩa
thục) – tiền thân của trường đại học Keio nổi tiếng hiện nay tại Tokyo.
(Phan Bội Châu có đến thăm trường Keio Gijuku trong thời gian ở
Nhật Bản. Trường Đông kinh Nghĩa thục lập tại Hà Nội năm 1907
chính là dựa trên hình mẫu của trường này).
Năm 1873, Fukuzawa Yukichi cùng với một số trí thức Tây học lập
ra hội Meirokusha. Hội viên có 10 người và đều là các học giả thuộc
nhiều ngành như Mori Arinori (1847-1889), Nakamura Masâno (18321891), Kato Hiroyuki (1838-1916), Nishi Amane (1829-1897), Taguchi
Ukichi (1828-1903)… Họ tổ chức viết sách, dịch thuật, tổ chức các buổi
diễn thuyết, xuất bản tập san Meroku làm diễn đàn để phổ biến và
tranh luận đủ mọi vấn đề: chính trị, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, pháp
luật, vai trò phụ nữ, phong tục, Nhật ngữ…
Các thành viên trong hội Meirokusha đã dịch và giới thiệu nhiều
tác phẩm về tư tưởng, chính trị, kinh tế, luật pháp, giáo dục phương
Tây ra tiếng Nhật. Các tác phẩm được dịch và giới thiệu trong thời kì
này là các cuốn Tự giúp mình (Self-help) của Samuel Smiles (1812-1904),
Tự do luận (On liberty), Chính trị Kinh tế học (Political Economy), Chủ
nghĩa công lợi (Utilitarianism) của JS. Mill (1806-1873), Nam nữ bình
quyền luận (Social Statics), Giáo dục (Education) của Herbert Spencer
(1820-1903), Tinh thần pháp luật của Montesquieu (1689-1755), Khế ước
xã hội của Rousseau (1712-1778), Tự do mậu dịch của Adam Smith.
Ngoài ra, Thuyết tiến hóa của Darwin và tác phẩm Allgemeines
Staatsrecht của JC. Bluntschli người Đức cũng được dịch và giới thiệu.
Năm 1879, Viện Học sĩ Tokyo – tiền thân của Viện Hàn lâm Nhật
Bản ngày nay – ra đời. Fukuzawa Yukichi được chọn làm viện trưởng.
Năm 1882, ông sáng lập và làm chủ bút tờ Thời sự tân báo để trao
đổi quan điểm về các vấn đề trong xã hội Nhật Bản thời ấy.
Để đóng góp hữu hiệu trong việc khai hóa văn minh, nâng cao dân
trí, phát triển xã hội, Fukuzawa Yukichi chủ trương các học giả phải
có lập trường độc lập với chính phủ. Do đó, suốt cả cuộc đời, ông nhất
quyết từ chối mọi lời mời tham dự chính quyền, mặc dù nhiều học giả
cùng hội cũng như các môn đệ của ông giữ những trọng trách quan
trọng trong chính phủ Minh Trị.
Năm 1900, ông được nhận giải thưởng từ Hoàng gia Nhật Bản do
công lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Giải thưởng trị giá 50.000
yên. Ông tặng lại số tiền cho trường Keio.
Năm 1901, ông mất do xuất huyết não, thọ 68 tuổi.
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được
ông viết trong thời gian 1872-1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ
và sâu sắc nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng
nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách
này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số
Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35 triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho
thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của mọi người dân
Nhật trong thời kì Duy tân. Và kể từ đó đến nay, cuốn sách này đã
được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà
xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến 76 lần.
Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập đến tinh thần cơ
bản của con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương
viết về sự bình đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới,
trách nhiệm của nhân dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị…
cuốn Khuyến học đã làm lay chuyển tâm lý người dân Nhật Bản dưới
thời Minh Trị. Với tuyên ngôn “Trời không tạo ra người đứng trên
người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”, Fukuzawa
Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như “không tin vào tai
mình” – cho đa số người dân Nhật Bản vốn bị trói buộc bởi đẳng cấp,
thân phận, quen phục tùng, phó mặc và e sợ quan quyền suốt hàng
trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi
người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học
vấn. Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và
nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”.
Nền học vấn thực học phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải
dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc
tiếp thu văn minh phương Tây phải có chọn lọc. Và quan điểm xuyên
suốt cuốn sách là “Làm thế nào để bảo vệ nền độc lập Nhật Bản”
trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang muốn biến toàn bộ
châu Á thành thuộc địa.
Với độc giả Việt Nam hiện nay, nhiều tư tưởng của Fukuzawa
trong “Khuyến học” có lẽ không còn là điều mới mẻ gây chấn động
lòng người như đối với người dân Nhật Bản ở thời Minh Trị. Tuy
nhiên, cách đặt vấn đề của ông thì vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối
với những quốc gia đang trên con đường hiện đại hóa. Ngoài ra cuốn
“cẩm nang” của người Nhật này cũng sẽ giúp cho độc giả Việt Nam
hiểu rõ hơn những đặc điểm về tính cách và tinh thần của người Nhật
Bản hiện đại, những người từ thân phận nông nô “ăn nhờ ở đậu”, nhờ
có sự khai sáng của những con người như Fukuzawa Yukichi mà đã
trở thành “quốc dân” của một đất nước Nhật Bản hiện đại và văn
minh như ngày nay.
PHẦN MỘT:
TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN
NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do
học vấn
Người ta thường nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người và
cũng không tạo ra người đứng dưới người.” Kể từ khi tạo hóa làm ra
con người thì tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách,
có địa vị như nhau, không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.
Loài người – chúa tể của muôn loài – bằng hoạt động trí óc và hoạt
động chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho
bản thân mình. Nhờ thế mà thỏa mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống
tự do theo ý muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của
đồng loại. Con người có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý
Trời, là niềm hi vọng của Trời đối với con người.
Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có
những khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người
thông minh và kẻ đần độn; giữa người giàu và người nghèo; giữa tầng
lớp quý tộc và tầng lớp hạ đẳng.
Như thế là tại làm sao? Nguyên nhân thực ra rất rõ ràng.
Cuốn sách dạy tu thân Thực ngữ giáo có câu: “Kẻ vô học là người
không có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt.” Câu nói trên cũng
có thể hiểu: Sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở
chỗ có học hay vô học mà thôi.
Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được
coi là người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị
coi thường. Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc
khó, còn lao động chân tay là việc dễ. Vì thế, học giả, quan chức chính
phủ, giám đốc các công ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân
công… là những người có địa vị cao, quan trọng. Và một khi đã là
những người có địa vị, quan trọng thì đương nhiên gia đình họ cũng
giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng nằm mơ cũng không
được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn đề thì chỉ có một
nguyên nhân. Đó chẳng qua là do có chịu khó học hay không mà thôi,
chứ có người nào được trời phú cho đâu. Ngạn ngữ có câu: “Trời
không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang
phú quý.” Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của
con người để ban thưởng.
Như tôi đã đề cập: Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang
hèn, giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết
nhiều sẽ trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ
trở thành con người thấp hèn, nghèo khổ.
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Học vấn là gì? Đó không phải là học chỉ cốt để hiểu câu khó, chữ
khó; càng không phải là việc học chỉ để giải nghĩa văn cổ, đọc thơ,
vịnh thơ. Học như vậy không có ích gì cho cuộc sống cả.
Đọc các tác phẩm văn học cũng là để động viên an ủi lòng người,
như thế chẳng phải là môn học có ích cho cuộc sống đó sao? Nhưng
tôi không nghĩ rằng văn học là môn học quan trọng đến mức “phải
thờ phụng nó” như các thầy dạy Hán văn, Cổ văn thường nhấn mạnh.
Trong cuộc sống, tôi hầu như không thấy thầy dạy Hán văn nào có
được tài sản đáng kể, cũng như các thương gia vừa giỏi thơ phú vừa
thành công trong kinh doanh lại càng hiếm.
Với lối học như hiện nay, chỉ tăng thêm sự lo lắng trong các bậc
phụ huynh, nhà nông… những người hết lòng chăm lo việc học tập
của con cái: “Chúng nó cứ học theo kiểu này, chắc có ngày tán gia bại
sản mất.” Điều đó đúng. Vì lối học này không thực tế, không thể áp
dụng kết quả học tập vào thực tiễn cuộc sống.
Vậy thì giờ đây chúng ta phải học cái gì và học như thế nào?
Trước hết phải học những môn học thực dụng cần thiết cho cuộc
sống hằng ngày. Ví dụ: phải thuộc lòng bảng 47 chữ cái Kana. Học
cách soạn thảo thư từ, ghi chép trương mục kế toán. Sử dụng thành
thạo bàn tính. Nhớ cách cân đong, đo, đếm. Tiếp đến là phải học các
môn như Địa lý để biết được phong thổ Nhật Bản và các nước trên địa
cầu. Vật lý là môn học giúp ta phân biệt được tính chất của mọi vật
thể trong thiên nhiên, qua đó tìm ra tác dụng của nó. Học Sử vì đây là
môn học giúp ta hiểu biết cặn kẽ mọi sự kiện ghi trên niên biểu lịch
sử, qua đó chúng ta có thể nghiên cứu quá khứ, hiện tại của mọi quốc
gia. Học Kinh tế là môn giải đáp cho chúng ta mọi vấn đề liên quan
đến việc chi tiêu trong mỗi gia đình cũng như nền tài chính của cả
quốc gia. Học môn Đạo đức, môn này giúp ta hiểu về hành vi, hành
động của bản thân, hiểu cách cư xử, cách giao tiếp, cách sinh hoạt
giữa người với người.
Để học các môn này, cần thiết phải đọc tất cả các quyển sách của
châu Âu đã được dịch ra tiếng Nhật. Đối với các bạn trẻ có khả năng
thì tôi khuyên nên đọc trực tiếp các nguyên bản bằng tiếng Anh,
Pháp, Đức. Khi học phải nắm được nội dung chủ yếu của môn học,
trên cơ sở đó phải hiểu được bản chất cơ bản của mọi sự vật. Học như
vậy mới có ích cho cuộc sống. Đó là “thực học” mà ai cũng phải học,
là học vấn mà hết thảy mọi người đều phải tự trang bị, không phân
biệt đẳng cấp, khoảng cách giàu nghèo. Chính việc tự trang bị kiến
thức này, từng cá nhân trên cơ sở làm trọn trọng trách của mình, sẽ
điều hành quản lý tốt gia nghiệp được giao.
Cá nhân có độc lập thì gia đình mới độc lập. Và như thế quốc gia
cũng độc lập.
Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
Biết đúng vị trí, chỗ đứng của mình là rất quan trọng. Kể từ khi
sinh ra, con người không phải chịu sự can thiệp của bất cứ một ai.
Nam cũng như nữ đều có quyền tự do sinh sống. Và đúng là con
người có quyền tự do, nhưng lúc nào cũng khăng khăng đòi phải
được làm theo ý muốn của riêng mình mà không biết rõ vị trí của
mình thì sẽ trở nên chỉ biết có mình, cho riêng mình. Như thế là tự
mình làm hỏng mình.
Dựa trên đạo lý mà Trời đã định, vị trí của mỗi người là ở chỗ: biết
trọng tình người, không làm phiền hay cản trở người khác, biết bảo vệ
quyền tự do bản thân.
Tự do bản thân không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, không có
nghĩa là làm phiền hoặc cản trở người khác. Ví dụ như có người nói:
“Tiền tôi, thích uống rượu tôi uống, thích mua 'hoa' tôi mua. Đó là
quyền tự do của tôi, chứ động chạm gì tới ai.” Suy nghĩ như vậy là sai.
Ham mê tửu sắc làm ảnh hưởng tới người khác, lại lôi kéo bạn bè, làm
hại nền giáo dục xã hội. Cứ cho là tiền tôi tôi chi tiêu, nhưng không vì
thế mà có thể bỏ qua nhưng hành vi tội lỗi gây ra cho xã hội.
Tự do và độc lập không chỉ liên quan tới từng cá nhân mà còn là
vấn đề của quốc gia nữa.
Nhật Bản chúng ta là một quốc đảo nhỏ nằm ở phía Đông châu Á,
cách xa đại lục, lâu nay không giao thương với ngoại quốc, bế quan
tỏa cảng, tự cung tự cấp. Mãi tới thời Gia Vĩnh (1848-1854), khi hạm
đội Mỹ kéo đến gây áp lực, Nhật Bản mới bắt đầu mở của giao
thương với nước ngoài. Thế mà ngay cả khi đã mở cửa, trong nước
vẫn chưa hết tranh cãi ồn ào xung quanh việc tiếp tục mở cửa hay
đóng cửa, tiếp tục lên án người ngoại quốc là lũ man di mọi rợ…
Những cuộc tranh cãi như vậy thật là vô bổ, có khác nào “ếch ngồi
đáy giếng coi trời bằng vung”.
Thử nghĩ xem, chẳng phải là người Nhật chúng ta cũng như người
dân các nước phương Tây cùng ở trên một quả đất, hưởng chung ánh
mặt trời, ánh trăng, thở cùng một không khí, hưởng cùng một đại
dương, và đều là con người cả đó sao. Chúng ta thừa sản vật thì chia
bớt cho người ta; người ta thừa sản vật thì chia lại cho mình, cùng học
hỏi lẫn nhau, không ai tự cao tự đại, không làm nhau hổ thẹn. Dân
Nhật ta cũng như dân họ đều cùng mong phát triển, cùng mong hạnh
phúc đó sao?
Chúng ta phải tận tâm làm hết sức mình trong quan hệ quốc tế sao
cho đúng ý trời, hợp lòng người. Nếu đúng đạo lý thì cần chuộc lỗi
với người Phi châu cũng phải làm. Còn để bảo vệ lập trường chính
nghĩa thì dù là pháo hạm Anh hay Mĩ, chúng ta cũng không sợ. Khi
quốc gia chịu nỗi nhục mất nước thì mọi người dân Nhật, không trừ
một ai, đều sẵn sàng xả thân để bảo vệ thanh danh của Tổ quốc. Như
vậy, đất nước mới tự do, quốc gia mới độc lập.
Thế nhưng trên thế gian này, vẫn có quốc gia tự phong cho mình là
trung tâm của vũ trụ. Họ nghĩ là ngoài đất nước họ ra không có quốc
gia nào tồn tại cả. Hễ cứ nhìn thấy người ngoại quốc thì miệt thị như
loài thú hoang, gọi họ là man di mọi rợ. Kết cục là quốc gia đó tự
chuốc lấy sự căm ghét của các nước khác. Đó là một kiểu “chỉ biết cái
tôi” ở tầm quốc gia, đó là cách ngoại giao không biết mình biết người,
không nắm rõ ý nghĩa của từ Tự do.
Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn
phận với đất nước
Kể từ khi thiết lập chế độ quân chủ[1], nền chính trị Nhật Bản đã có
những thay đổi mạnh mẽ. Về mặt đối ngoại, chính phủ đã bang giao
với ngoại quốc trên cơ sở công pháp quốc tế. Về đối nội, chính phủ đã
mang lại tinh thần “tự do, độc lập” cho dân chúng. Người dân chúng
ta đã được phép mang đầy đủ họ và tên; được phép cưỡi ngựa… Đó
là sự thay đổi to lớn kể từ thuở lập quốc, tạo cơ sở bình đẳng về địa vị
giữa các thành phần Võ sĩ (samurai), Nông, Công, Thương trong xã
hội.[2]
Chế độ đẳng cấp – địa vị của một người được quy định trước cả khi
người đó ra đời – đã hoàn toàn bị xóa bỏ.[3]
Từ nay trở đi địa vị xã hội của cá nhân sẽ được quyết định tùy theo
tài năng, phẩm cách và vai trò của mỗi người. Quan chức chính quyền
được bổ nhiệm theo tài năng và nhân cách, và là người thực thi luật
pháp cho chúng ta. Chúng ta kính trọng họ theo lẽ đó, chứ không phải
chúng ta kính trọng chức vụ và thành phần xuất thân của họ. Chúng
ta không tuân theo con người họ. Chúng ta chỉ tuân thủ Luật pháp
(Quốc pháp) mà họ đang thừa nhận.
Dưới thời chính quyền phong kiến Mạc phủ, người dân chúng ta
luôn phải khiếp sợ, né tránh, cúi rạp mình trước các Tướng quân[4].
Ngay cả lũ ngựa của các Tướng quân cũng làm chúng ta hoảng sợ
không dám đi chung đường với chúng; bầy chim cắt dùng nhử mồi
khi các Tướng quân đi săn bắn, cũng làm chúng ta khiếp đảm, phải
cúi lạy phải phủ phục cho đến khi lũ chim bay khuất mới dám ngẩng
đầu đứng lên đi tiếp. Người ta đã buộc chúng ta phải quen, phải sợ
những thứ được coi là “luật lệ”, “tập quán” hà khắc ấy. Giờ đây nghĩ
lại ai ai cũng cảm thấy kinh tởm.
Nhưng thứ “luật lệ”, “tập quán” đặt ra một cách vô cớ đó, không
phải là luật pháp hay quốc pháp để chúng ta phải tuân thủ. Chúng là
những thứ đã cướp đoạt mọi quyền tự do của chúng ta. Chúng là
những thứ được đặt ra để gieo rắc nỗi sợ hãi trong chúng ta trước uy
quyền của chế độ phong kiến Mạc phủ và nhằm để che đậy bản chất
lộng hành, không minh bạch của chính chế độ đó.
Giờ đây, toàn bộ cái chế độ và luật lệ ngu xuẩn ấy đã bị xóa sổ. Vì
thế, không lẽ gì chúng ta cứ phải sợ bóng sợ vía các cấp chính quyền
đó mãi.
Nếu có gì bất mãn với chính quyền hiện tại, chúng ta phải kháng
nghị, tranh luận một cách đường đường chính chính. Tại sao chúng ta
chỉ dám nói xấu, kêu ca sau lưng họ mà không dám chỉ mặt vạch tên?
Những kháng nghị hợp lòng dân, đúng đạo Trời, dù có phải đổ cả
tính mạng chúng ta cũng phải tranh đấu. Đây là bổn phận mà mỗi
người dân chúng ta phải thực hiện đối với đất nước.
Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
Như tôi đã nói ở trên kia, “độc lập và tự do” dựa trên đạo lý của
Trời đã trở thành nguyên tắc trong từng người cũng như của cả quốc
gia chúng ta. Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc này thì
dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng không sợ,
huống hồ chúng ta lại phải sợ một số quan chức chính phủ lộng
quyền?
Giờ đây, chúng ta đã xác lập được tinh thần cơ bản: mọi người dân
đều bình đẳng, vì thế chúng ta hãy yên tâm phát huy mọi khả năng
sức lực và trí tuệ của mình.
Mỗi người đều có mỗi bổn phận, do đó phải tự vun đắp tài năng,
rèn luyện nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận đó. Để làm
được điều này, ai ai cũng phải học chữ, học ngôn ngữ. Có chữ, biết
ngôn ngữ sẽ lý giải được mọi đạo lý của sự vật.
Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu giúp tôi rằng: Học vấn là vấn đề
cấp bách biết nhường nào.
Hiện nay, tầng lớp thường dân cũng đã sánh vai ngang hàng với
tầng lớp Võ sĩ (samurai), cho nên con đường được lựa chọn vào các
chức vụ trong chính quyền cũng mở ra cho chúng ta nếu chúng ta có
tài.
Chúng ta phải tự giác trước bổn phận của bản thân, không chạy
theo những hành động rồ dại, phải cẩn trọng.
Tôi chắc rằng không ai đáng thương hại hơn là những người vô tri
thức, những người không hiểu lẽ phải, và cũng không ai khó giao tiếp
hơn những người ấy. Vì không có tri thức, không có năng lực tự thức
tỉnh nên họ căm ghét oán giận những người giàu có chính đáng, đôi
khi họ tập hợp thành bầu đoàn đi đánh cướp.
Bản thân họ được pháp luật bảo vệ, nhưng hễ cứ cảm thấy bất lợi
cho mình thì họ lại thản nhiên vi phạm, ngang nhiên phá luật.
Lại không có ít người, có được chút ít tài sản, tiền bạc thì chỉ lo tích
trữ, cất giấu, không bao giờ suy nghĩ đầu tư cho con cháu học hành.
Vì thế con cháu họ chỉ biết ăn chơi, lêu lổng, dốt nát v...
 





