VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    Khuyen Hoc - Fukuzawa Yukichi

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 13h:36' 07-03-2024
    Dung lượng: 918.4 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    KHUYẾN HỌC
    Tác giả: Fukuzawa Yukichi
    Nhà xuất bản Iwanami Bunko
    Tri thức và phát triển
    Nhà xuất bản Trẻ
    Nhóm nghiên cứu Nhật Bản
    Người dịch: Phạm Hữu Lợi
    “Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì
    lòng yêu nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm.”
    Tạo ebook lần đầu: sun1911
    Tạo lại lần hai (11/05/2015): QuocSan
    Soát chính tả lần 2 (10/2017): bun_chec

    Mục lục
    Vài nét về thân thế và sự nghiệp
    PHẦN MỘT: TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI
    Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn
    Học những môn thiết thực cho cuộc sống
    Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
    Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước
    Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
    PHẦN HAI: NGƯỜI CHỊU THIỆT THÒI NHẤT LÀ NHỮNG KẺ VÔ HỌC
    Không thể có miếng ăn ngon nếu chỉ là cái “tủ kiến thức”
    Tại sao không triệt để vận dụng “bình đẳng”?
    Mọi “ham muốn” không làm ảnh hưởng tới người khác đều là thiện
    Học để hiểu “thế nào là làm tròn công việc của mình”
    Không có gì đáng sợ hơn là ngu dốt
    PHẦN BA: HUN ĐÚC, NUÔI DƯỠNG CHÍ KHÍ ĐỘC LẬP RA SAO?
    Nỗ lực có thể thay đổi được thiên mệnh
    Thường xuyên “tôi luyện chí khí tinh thần” là rất quan trọng
    Làm thế nào để hun đúc và gìn giữ được chí khí độc lập và tự do
    “Dân” của Imagawa Yoshimoto và “dân” của Napoleon đệ tam
    Nỗi hổ nhục của bản thân cũng là nỗi hổ nhục của quốc gia
    PHẦN BỐN: TRÁCH NHIỆM CỦA “NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI”
    Làm sao để Nhật Bản có được nền độc lập thực sự?
    Văn minh không tiến bộ nếu chỉ dùng quyền lực
    Cái gì đẻ ra “khí chất nhu nhược” của người Nhật Bản?
    Đáng buồn là nước ta chỉ có người Nhật mà không có quốc dân Nhật
    Những thứ không có ích chắc chắn sẽ có hại
    Chưa làm thử mà cứ ngồi phán đúng sai
    PHẦN NĂM: LÒNG QUẢ CẢM CỦA CON NGƯỜI SINH RA TỪ ĐÂU?
    Đang hạnh phúc thì chớ quên sẽ có lúc phải đối mặt với tủi nhục
    Tinh thần, chí khí độc lập là điểm xuất phát của mọi vấn đề
    Vận hội sẽ hé mở ở những nơi phát huy được chí khí của mình
    Khai phá văn minh là nhiệm vụ của tầng lớp trí thức trung lưu
    PHẦN SÁU: LUẬT PHÁP QUÝ GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
    Quốc dân phải làm tròn bổn phận “một thân hai vai”

    “Trung thần nghĩa sĩ” dưới góc độ pháp luật
    “Tenchyu” – thay trời trừng phạt[12]
    Luật cần rõ ràng, đơn giản nhưng phải nghiêm minh
    Bộ máy hành chính với những quan chức “đầu gỗ”
    PHẦN BẢY: TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC DÂN
    Nghĩa vụ của quốc dân
    Quyền lợi của quốc dân
    Phải đóng thuế
    Đánh mất khí tiết, làm hại đến con cái, cháu chắt
    Như thế nào là “tử vì đạo”?
    Phải biết hi sinh thân mình như thế nào
    PHẦN TÁM: ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC BẰNG SUY XÉT CHỦ QUAN CỦA MÌNH
    “Năm thứ tự do” sẵn có trong con người
    Tự do sinh sống miễn là không vượt quá bổn phận tự thân
    Luận thuyết vô lý: Phật Bà Quan Âm giết người
    Những lời dạy không thể chấp nhận tại trường “nữ học”
    Đừng tin những lời nói bậy của Chu Tử[17]
    Không phải mọi điều trong “luận ngữ” đều đúng
    PHẦN CHÍN: MỤC ĐÍCH CỦA HỌC VẤN LÀ GÌ?
    Có những người cảm thấy thỏa mãn chẳng khác gì loài sâu kiến
    Học tập, làm việc vì xã hội
    Được thừa hưởng “di sản vĩ đại” mà không biết tạ ơn ai
    Đừng để lại một tài năng
    PHẦN MƯỜI: HÃY SỐNG VÀ HY VỌNG Ở TƯƠNG LAI
    Còn trẻ mà lại muốn lựa chọn những công việc an nhàn
    Học tập phương Tây nhưng không được quá sùng bái
    Hy vọng vào tương lai xán lạn là liều thuốc an ủi nỗi bất hạnh hiện thời
    Hãy can đảm lên, hỡi các bạn hữu Nakatsu
    PHẦN MƯỜI MỘT: ĐẲNG CẤP ĐỊA VỊ ĐẺ RA CÁC CHÍ SĨ RỞM
    Quan điểm thường thấy ở những người đứng trên
    Vì sao cứ muốn quan hệ ngoài xã hội phải như quan hệ cha con trong gia đình?
    “Biển thủ, tư túi”, trách nhiệm của ai?
    Tại sao lũ chí sĩ rởm lại cứ hoành hành mãi vậy?
    Không thể trông cậy vào thiểu số “nghĩa sĩ”
    Địa vị đẳng cấp và chức vụ là hai việc hoàn toàn khác nhau
    PHẦN MƯỜI HAI: HÃY HỌC CÁCH DIỄN THUYẾT CÓ HIỆU QUẢ
    Diễn thuyết và tranh luận nhằm nâng cao kiến thức

    Học quản trị kinh doanh mà không tính toán được niêu cơm ở nhà
    Bí quyết duy nhất để nâng cao kiến thức: Không được tự mãn
    Tiêu chuẩn để đánh giá trường học
    PHẦN MƯỜI BA: TỆ HẠI NHẤT LÀ THAM LAM
    Dục vọng là điều tốt hay xấu tùy theo cách biểu hiện
    “Tham lam” đối với người khác chính là nguồn gốc của mọi thói xấu
    Nghèo khổ không phải là nguyên nhân
    Lời than của Khổng Tử
    Thực trạng hậu cung, nơi thói tham lam hoành hành
    Nhật Bản hiện nay vẫn chưa thoát khỏi tính chất “hậu cung”
    Mặt đối mặt mới vỡ lẽ…
    PHẦN MƯỜI BỐN: PHẢI LUÔN XEM LẠI TINH THẦN CỦA BẢN THÂN
    Con người luôn gặp những thất bại không ngờ tới
    Đây là điều quan trọng nhất trong làm ăn
    Cách tính toán “cái được, cái mất” trong cuộc đời
    “Chăm sóc” có hai vế
    Không thể bảo hộ nếu thiếu chỉ dẫn
    Cần thiết phải có cả hai loại “chăm sóc” trong chính trị
    PHẦN MƯỜI LĂM: TIẾP THU CÓ CHỌN LỌC VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
    Việc tìm kiếm chân lý thường bắt đầu từ sự hoài nghi
    Tin cái gì và nghi ngờ cái gì?
    Nếu Nhật Bản là phương Tây…
    Chỉ có học vấn mới nuôi dưỡng năng lực phán đoán
    PHẦN MƯỜI SÁU: CHẠY THEO ĐỘC LẬP VẬT CHẤT SẼ ĐÁNH MẤT ĐỘC LẬP TINH
    THẦN
    Độc lập có hai dạng
    Để gìn giữ độc lập về tinh thần, phải biết cách tiêu đồng tiền
    Cách thức chuyển từ lý thuyết sang thực hành
    Chỉ tin khi thấy kết quả
    Để có năng lực phán đoán và hành động cần có động cơ và bánh lái
    Phê phán người khác thì dễ
    PHẦN MƯỜI BẢY: BÀN VỀ SỰ TÍN NHIỆM
    Nói tới tín nhiệm tức là nói tới độ tin cậy
    Thật và giả khác nhau ra sao?
    Cần nói về bản thân mình
    Coi trọng tiếng mẹ đẻ
    Khi giao tiếp nét mặt cần tươi tắn, đừng để người ta ghét

    Vất bỏ hình thức, hãy thật lòng, thành thực
    Tìm kiếm bạn mới, không quên bạn cũ

    Vài nét về thân thế và sự nghiệp

    Nói tới Fukuzawa Yukichi (福澤諭吉 Phúc Trạch Dụ Cát; 18341901), không người Nhật nào lại không biết. Họ nói về ông như một
    trong những bậc “khai quốc công thần” của nước Nhật hiện đại, hình
    ảnh của ông được in trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật, tờ
    10.000 yên.

    Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối
    với xã hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là
    “Voltaire của Nhật Bản”, không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vượt
    trội trong tư tưởng của ông, mà còn vì cũng như danh nhân người
    Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những người đồng chí của mình là
    những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại linh
    hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy Tân của

    chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn một thế
    kỷ trước, nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng ngưỡng
    mộ.
    Fukuzawa Yukichi sinh năm 1834 trong một gia đình võ sĩ cấp thấp
    ở Nakatsu, nay thuộc tỉnh Oita, Kyushu, Nhật Bản. Cha ông – một
    viên chức tài chính của tỉnh – mất sớm, khiến gia đình lâm vào cảnh
    khốn quẫn. Năm 4 tuổi, ông được gửi sang nhà chú ruột làm con nuôi.
    Ngay từ thuở niên thiếu, ông đã cảm nhận sâu sắc nỗi tủi nhục do chế
    độ đẳng cấp và nỗi khổ do tình cảnh khốn quẫn của gia đình.
    “Ở Nakatsu quê tôi, chế độ quyền thế gia truyền giữa các sĩ tộc
    được quy định nghiêm ngặt. Không chỉ trong chốn công đường mà
    nguyên tắc đó còn thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả trong
    quan hệ giữa đám trẻ con trong làng. Con cái của các Võ sĩ cấp thấp
    như tôi phải thưa gửi, lễ phép khi nói chuyện với con cái của các Võ sĩ
    cấp cao. Ngược lại, con cái của các Võ sĩ cấp cao luôn cao giọng,
    khiếm nhã đối với tôi. Sự phân biệt, chia rẽ trên dưới, sang hèn còn
    thể hiện trong cả lúc chơi đùa chạy nhảy. Con cái nhà quyền thế chỉ
    chơi với con cái nhà quyền thế. Trong lớp học, tôi học giỏi hơn. Vật
    tay, tôi cũng không bao giờ thua. Vậy mà lúc nào chúng cũng tỏ thái
    độ kiêu căng, ngạo mạn với tôi. Tôi bất bình đến mức không sao chịu
    nổi.” (Fukuzawa – Tự truyện).
    Mãi tới năm 14, 15 tuổi ông mới được đi học ở trường làng và ông
    thấy “học vấn ở đâu cũng chỉ toàn là Hán học”. Mặc dù học Nho học,
    nhưng Fukuzawa Yukichi không lấy đó làm “khuôn vàng, thước
    ngọc”. Ngược lại, ông càng nhận thấy sự bất công trong xã hội phong
    kiến: “Nakatsu quê tôi, chế độ phong kiến đã áp đặt trật tự xã hội từ
    hàng trăm năm trước thế nào thì nay vẫn thế nấy. Mọi thứ cứ như bị
    nhồi chặt cứng trong hộp. Kẻ sinh ra trong nhà quản gia thì sau này
    cũng trở thành quản gia. Người sinh ra trong gia đình thấp cổ bé họng
    thì sau này cũng vẫn thấp cổ bé họng. Tổ tiên là quyền quý thì đời đời
    là quyền quý. Tổ tiên nghèo hèn thì từ đời này sang đời khác vẫn cứ

    nghèo hèn.” (Fukuzawa – Tự truyện).
    Năm 19 tuổi, ông theo ngành Hà Lan học (ngành học ngôn ngữ Hà
    Lan, ngành nghiên cứu y học và các môn khoa học phương Tây như
    toán, vật lý, hóa học, sinh học… qua các sách viết bằng tiếng Hà Lan)
    tại Nagasaki và Osaka.
    Năm 25 tuổi, Fukuzawa Yukichi lên Tokyo, ông đến thăm cảng
    Yokohama – được chính quyền Mạc phủ mở cho tàu bè phương Tây
    ra vào buôn bán. Tại đây, “chỗ nào cũng gặp người phương Tây. Nhà
    cửa, quán xá mọc lên khắp nơi. Họ vào đó và buôn bán. Tôi dùng
    tiếng Hà Lan để trao đổi. Họ không hiểu. Nghe họ nói, tôi cũng không
    hiểu. Nhìn vào hàng chữ quảng cáo, các tờ cáo thị, tôi không đọc
    được. Không biết đó là tiếng gì, tiếng Anh hay tiếng Pháp?”
    (Fukuzawa – Tự truyện).
    Nhận thấy “Hà Lan học” đã trở nên lạc hậu với thời đại, ông quyết
    chí bắt tay vào học tiếng Anh. Không có người dạy và nơi học, ông đã
    dựa vào tự điển để tự học.
    Năm 1860, tình cờ ông được cử làm thông dịch viên, theo phái
    đoàn của chính quyền Mạc phủ sang Hoa Kỳ, và ông đã đặt chân lên
    San Francisco và Hawaii. Hai năm sau, năm 1862, ông lại được tháp
    tùng phái đoàn Mạc phủ sang châu Âu. Và năm 1867, ông đặt chân tới
    các thành phố phía đông Hoa Kỳ trong chuyến tháp tùng phái đoàn
    của chính quyền Mạc phủ đi mua tàu.
    Qua ba chuyến đi trên, Fukuzawa Yukichi đã tiếp cận với thế giới
    văn vật của các quốc gia phát triển phương Tây, đồng thời mở ra
    những hướng mới trong nhận thức về thế giới và làm ông ý thức rõ
    hơn vị trí Nhật Bản trên trường quốc tế. Có thể nói chuyến đi sang các
    nước phương Tây là bước ngoặc mang tính quyết định vai trò của
    Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử Nhật Bản trong thời kỳ chuyển
    mình từ cuối thời Mạc phủ sang thời kỳ Minh Trị.
    Trong suốt cuộc đời, Fukuzawa Yukichi dịch sách, viết sách và xuất

    bản nhiều tác phẩm có ảnh hưởng to lớn trong việc khai sáng xã hội
    Nhật Bản. Bằng trực quan sắc bén, ông nắm bắt được nỗi bức xúc của
    dân chúng, nên các tác phẩm của ông với cách viết giản dị, dễ hiểu, lời
    văn thống thiết, đã được mọi tầng lớp độc giả Nhật Bản đón nhận như
    “đang khát gặp nước”.
    Tác phẩm Sự tình phương Tây 10 tập, viết từ năm 1866-1870 trên cơ
    sở những điều “mắt thấy tai nghe” trong thời gian ở phương Tây, số
    lượng phát hành lên tới 25 vạn bản. Tác phẩm giới thiệu thế giới văn
    vật, quan niệm về quyền lợi và nghĩa vụ, chế độ chính trị, cơ cấu xã
    hội, nền giáo dục, học thuật, luật pháp, lịch sử, nền công nghiệp, quân
    sự… của các quốc gia Âu – Mĩ. Tác phẩm này được người Nhật Bản
    coi là “cẩm nang” của chính phủ Minh Trị trong việc xây dựng xã hội
    Nhật Bản theo mô hình phương Tây.
    Trong tác phẩm Khái lược về văn minh xuất bản năm 1875 và Đổi mới
    lòng dân xuất bản năm 1879, Fukuzawa Yukichi khảo sát về lịch sử và
    nguyên nhân phát triển của các nền văn minh cổ kim đông tây. Ông
    đã bàn về con đường hưng thịnh, suy vong của Nhật Bản, về cuộc
    sống của nhân dân Nhật Bản khi tiến lên văn minh trong tương lai. Tư
    tưởng, triết học, quan điểm lịch sử, quan điểm quốc gia của Fukuzawa
    Yukichi được biểu lộ qua hai tác phẩm này.
    Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi còn viết một loạt các tác phẩm hướng
    đến công chúng đông đảo, mà đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Các tác
    phẩm này nhằm truyền bá những tư tưởng canh tân vào xã hội Nhật
    Bản, một đất nước đang thực hiện công cuộc Duy tân do chính phủ
    Minh Trị tiến hành “từ trên xuống”, nhưng xã hội bên dưới vẫn còn
    trong vòng kiềm tỏa của những quan hệ, những tập quán, tập tục lỗi
    thời đã trải qua hàng nghìn năm của chế độ phong kiến Mạc phủ.
    Những tác phẩm tiêu biểu trong số đó là:
    • Khuyến học, năm 1872-1876.
    • Bàn về dân quyền; Bàn về tiền tệ, năm 1878.

    • Bàn về quốc quyền; Bàn về quốc hội, năm 1879.
    • Bàn về kinh tế tư nhân, năm 1880.
    • Bàn về thời sự thế giới; Bàn về quân sự, năm 1882.
    • Bàn về nghĩa vụ quân sự; Bàn về ngoại giao, năm 1884.
    • Bàn về phụ nữ Nhật Bản; Bàn về phẩm hạnh, năm 1885.
    • Bàn về cách nhân sĩ xử thế; Bàn về giao tiếp nam nữ, năm 1886.
    • Bàn về nam giới Nhật Bản; Bàn về hoàng gia Nhật Bản, năm 1888.
    • Bàn về thuế đất; Bàn về tiền đồ và an trị quốc hội, năm 1892.
    • Bàn về thực nghiệm, năm 1893.
    • Fukuzawa Yukichi tuyển tập, năm 1897-1899.
    • Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới, năm 1899.
    • Fukuzawa Yukichi – Tự truyện, năm 1899.
    Năm 1868, để nâng cao dân trí, đào tạo thanh niên sinh viên – thế
    hệ gánh vác trọng trách xây dựng một nước Nhật Bản văn minh –
    Fukuzawa Yukichi đã thành lập trường Keio Gijuku (Keio Nghĩa
    thục) – tiền thân của trường đại học Keio nổi tiếng hiện nay tại Tokyo.
    (Phan Bội Châu có đến thăm trường Keio Gijuku trong thời gian ở
    Nhật Bản. Trường Đông kinh Nghĩa thục lập tại Hà Nội năm 1907
    chính là dựa trên hình mẫu của trường này).
    Năm 1873, Fukuzawa Yukichi cùng với một số trí thức Tây học lập
    ra hội Meirokusha. Hội viên có 10 người và đều là các học giả thuộc
    nhiều ngành như Mori Arinori (1847-1889), Nakamura Masâno (18321891), Kato Hiroyuki (1838-1916), Nishi Amane (1829-1897), Taguchi
    Ukichi (1828-1903)… Họ tổ chức viết sách, dịch thuật, tổ chức các buổi
    diễn thuyết, xuất bản tập san Meroku làm diễn đàn để phổ biến và
    tranh luận đủ mọi vấn đề: chính trị, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, pháp
    luật, vai trò phụ nữ, phong tục, Nhật ngữ…
    Các thành viên trong hội Meirokusha đã dịch và giới thiệu nhiều

    tác phẩm về tư tưởng, chính trị, kinh tế, luật pháp, giáo dục phương
    Tây ra tiếng Nhật. Các tác phẩm được dịch và giới thiệu trong thời kì
    này là các cuốn Tự giúp mình (Self-help) của Samuel Smiles (1812-1904),
    Tự do luận (On liberty), Chính trị Kinh tế học (Political Economy), Chủ
    nghĩa công lợi (Utilitarianism) của JS. Mill (1806-1873), Nam nữ bình
    quyền luận (Social Statics), Giáo dục (Education) của Herbert Spencer
    (1820-1903), Tinh thần pháp luật của Montesquieu (1689-1755), Khế ước
    xã hội của Rousseau (1712-1778), Tự do mậu dịch của Adam Smith.
    Ngoài ra, Thuyết tiến hóa của Darwin và tác phẩm Allgemeines
    Staatsrecht của JC. Bluntschli người Đức cũng được dịch và giới thiệu.
    Năm 1879, Viện Học sĩ Tokyo – tiền thân của Viện Hàn lâm Nhật
    Bản ngày nay – ra đời. Fukuzawa Yukichi được chọn làm viện trưởng.
    Năm 1882, ông sáng lập và làm chủ bút tờ Thời sự tân báo để trao
    đổi quan điểm về các vấn đề trong xã hội Nhật Bản thời ấy.
    Để đóng góp hữu hiệu trong việc khai hóa văn minh, nâng cao dân
    trí, phát triển xã hội, Fukuzawa Yukichi chủ trương các học giả phải
    có lập trường độc lập với chính phủ. Do đó, suốt cả cuộc đời, ông nhất
    quyết từ chối mọi lời mời tham dự chính quyền, mặc dù nhiều học giả
    cùng hội cũng như các môn đệ của ông giữ những trọng trách quan
    trọng trong chính phủ Minh Trị.
    Năm 1900, ông được nhận giải thưởng từ Hoàng gia Nhật Bản do
    công lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Giải thưởng trị giá 50.000
    yên. Ông tặng lại số tiền cho trường Keio.
    Năm 1901, ông mất do xuất huyết não, thọ 68 tuổi.
    Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được
    ông viết trong thời gian 1872-1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ
    và sâu sắc nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng
    nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách
    này có một số lượng ấn bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số
    Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35 triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho

    thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu giường của mọi người dân
    Nhật trong thời kì Duy tân. Và kể từ đó đến nay, cuốn sách này đã
    được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000, riêng nhà
    xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến 76 lần.
    Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập đến tinh thần cơ
    bản của con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương
    viết về sự bình đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới,
    trách nhiệm của nhân dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị…
    cuốn Khuyến học đã làm lay chuyển tâm lý người dân Nhật Bản dưới
    thời Minh Trị. Với tuyên ngôn “Trời không tạo ra người đứng trên
    người và cũng không tạo ra người đứng dưới người”, Fukuzawa
    Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như “không tin vào tai
    mình” – cho đa số người dân Nhật Bản vốn bị trói buộc bởi đẳng cấp,
    thân phận, quen phục tùng, phó mặc và e sợ quan quyền suốt hàng
    trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi
    người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học
    vấn. Về học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và
    nhấn mạnh Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”.
    Nền học vấn thực học phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải
    dựa trên tinh thần khoa học, tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc
    tiếp thu văn minh phương Tây phải có chọn lọc. Và quan điểm xuyên
    suốt cuốn sách là “Làm thế nào để bảo vệ nền độc lập Nhật Bản”
    trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang muốn biến toàn bộ
    châu Á thành thuộc địa.
    Với độc giả Việt Nam hiện nay, nhiều tư tưởng của Fukuzawa
    trong “Khuyến học” có lẽ không còn là điều mới mẻ gây chấn động
    lòng người như đối với người dân Nhật Bản ở thời Minh Trị. Tuy
    nhiên, cách đặt vấn đề của ông thì vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối
    với những quốc gia đang trên con đường hiện đại hóa. Ngoài ra cuốn
    “cẩm nang” của người Nhật này cũng sẽ giúp cho độc giả Việt Nam
    hiểu rõ hơn những đặc điểm về tính cách và tinh thần của người Nhật

    Bản hiện đại, những người từ thân phận nông nô “ăn nhờ ở đậu”, nhờ
    có sự khai sáng của những con người như Fukuzawa Yukichi mà đã
    trở thành “quốc dân” của một đất nước Nhật Bản hiện đại và văn
    minh như ngày nay.

    PHẦN MỘT:
    TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN
    NGƯỜI
    Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do
    học vấn
    Người ta thường nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người và
    cũng không tạo ra người đứng dưới người.” Kể từ khi tạo hóa làm ra
    con người thì tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách,
    có địa vị như nhau, không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.
    Loài người – chúa tể của muôn loài – bằng hoạt động trí óc và hoạt
    động chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho
    bản thân mình. Nhờ thế mà thỏa mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống
    tự do theo ý muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của
    đồng loại. Con người có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý
    Trời, là niềm hi vọng của Trời đối với con người.
    Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có
    những khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người
    thông minh và kẻ đần độn; giữa người giàu và người nghèo; giữa tầng
    lớp quý tộc và tầng lớp hạ đẳng.
    Như thế là tại làm sao? Nguyên nhân thực ra rất rõ ràng.
    Cuốn sách dạy tu thân Thực ngữ giáo có câu: “Kẻ vô học là người
    không có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt.” Câu nói trên cũng
    có thể hiểu: Sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở
    chỗ có học hay vô học mà thôi.
    Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được

    coi là người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị
    coi thường. Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc
    khó, còn lao động chân tay là việc dễ. Vì thế, học giả, quan chức chính
    phủ, giám đốc các công ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân
    công… là những người có địa vị cao, quan trọng. Và một khi đã là
    những người có địa vị, quan trọng thì đương nhiên gia đình họ cũng
    giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng nằm mơ cũng không
    được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn đề thì chỉ có một
    nguyên nhân. Đó chẳng qua là do có chịu khó học hay không mà thôi,
    chứ có người nào được trời phú cho đâu. Ngạn ngữ có câu: “Trời
    không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang
    phú quý.” Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của
    con người để ban thưởng.
    Như tôi đã đề cập: Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang
    hèn, giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết
    nhiều sẽ trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ
    trở thành con người thấp hèn, nghèo khổ.

    Học những môn thiết thực cho cuộc sống
    Học vấn là gì? Đó không phải là học chỉ cốt để hiểu câu khó, chữ
    khó; càng không phải là việc học chỉ để giải nghĩa văn cổ, đọc thơ,
    vịnh thơ. Học như vậy không có ích gì cho cuộc sống cả.
    Đọc các tác phẩm văn học cũng là để động viên an ủi lòng người,
    như thế chẳng phải là môn học có ích cho cuộc sống đó sao? Nhưng
    tôi không nghĩ rằng văn học là môn học quan trọng đến mức “phải
    thờ phụng nó” như các thầy dạy Hán văn, Cổ văn thường nhấn mạnh.
    Trong cuộc sống, tôi hầu như không thấy thầy dạy Hán văn nào có
    được tài sản đáng kể, cũng như các thương gia vừa giỏi thơ phú vừa
    thành công trong kinh doanh lại càng hiếm.

    Với lối học như hiện nay, chỉ tăng thêm sự lo lắng trong các bậc
    phụ huynh, nhà nông… những người hết lòng chăm lo việc học tập
    của con cái: “Chúng nó cứ học theo kiểu này, chắc có ngày tán gia bại
    sản mất.” Điều đó đúng. Vì lối học này không thực tế, không thể áp
    dụng kết quả học tập vào thực tiễn cuộc sống.
    Vậy thì giờ đây chúng ta phải học cái gì và học như thế nào?
    Trước hết phải học những môn học thực dụng cần thiết cho cuộc
    sống hằng ngày. Ví dụ: phải thuộc lòng bảng 47 chữ cái Kana. Học
    cách soạn thảo thư từ, ghi chép trương mục kế toán. Sử dụng thành
    thạo bàn tính. Nhớ cách cân đong, đo, đếm. Tiếp đến là phải học các
    môn như Địa lý để biết được phong thổ Nhật Bản và các nước trên địa
    cầu. Vật lý là môn học giúp ta phân biệt được tính chất của mọi vật
    thể trong thiên nhiên, qua đó tìm ra tác dụng của nó. Học Sử vì đây là
    môn học giúp ta hiểu biết cặn kẽ mọi sự kiện ghi trên niên biểu lịch
    sử, qua đó chúng ta có thể nghiên cứu quá khứ, hiện tại của mọi quốc
    gia. Học Kinh tế là môn giải đáp cho chúng ta mọi vấn đề liên quan
    đến việc chi tiêu trong mỗi gia đình cũng như nền tài chính của cả
    quốc gia. Học môn Đạo đức, môn này giúp ta hiểu về hành vi, hành
    động của bản thân, hiểu cách cư xử, cách giao tiếp, cách sinh hoạt
    giữa người với người.
    Để học các môn này, cần thiết phải đọc tất cả các quyển sách của
    châu Âu đã được dịch ra tiếng Nhật. Đối với các bạn trẻ có khả năng
    thì tôi khuyên nên đọc trực tiếp các nguyên bản bằng tiếng Anh,
    Pháp, Đức. Khi học phải nắm được nội dung chủ yếu của môn học,
    trên cơ sở đó phải hiểu được bản chất cơ bản của mọi sự vật. Học như
    vậy mới có ích cho cuộc sống. Đó là “thực học” mà ai cũng phải học,
    là học vấn mà hết thảy mọi người đều phải tự trang bị, không phân
    biệt đẳng cấp, khoảng cách giàu nghèo. Chính việc tự trang bị kiến
    thức này, từng cá nhân trên cơ sở làm trọn trọng trách của mình, sẽ
    điều hành quản lý tốt gia nghiệp được giao.
    Cá nhân có độc lập thì gia đình mới độc lập. Và như thế quốc gia

    cũng độc lập.

    Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
    Biết đúng vị trí, chỗ đứng của mình là rất quan trọng. Kể từ khi
    sinh ra, con người không phải chịu sự can thiệp của bất cứ một ai.
    Nam cũng như nữ đều có quyền tự do sinh sống. Và đúng là con
    người có quyền tự do, nhưng lúc nào cũng khăng khăng đòi phải
    được làm theo ý muốn của riêng mình mà không biết rõ vị trí của
    mình thì sẽ trở nên chỉ biết có mình, cho riêng mình. Như thế là tự
    mình làm hỏng mình.
    Dựa trên đạo lý mà Trời đã định, vị trí của mỗi người là ở chỗ: biết
    trọng tình người, không làm phiền hay cản trở người khác, biết bảo vệ
    quyền tự do bản thân.
    Tự do bản thân không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, không có
    nghĩa là làm phiền hoặc cản trở người khác. Ví dụ như có người nói:
    “Tiền tôi, thích uống rượu tôi uống, thích mua 'hoa' tôi mua. Đó là
    quyền tự do của tôi, chứ động chạm gì tới ai.” Suy nghĩ như vậy là sai.
    Ham mê tửu sắc làm ảnh hưởng tới người khác, lại lôi kéo bạn bè, làm
    hại nền giáo dục xã hội. Cứ cho là tiền tôi tôi chi tiêu, nhưng không vì
    thế mà có thể bỏ qua nhưng hành vi tội lỗi gây ra cho xã hội.
    Tự do và độc lập không chỉ liên quan tới từng cá nhân mà còn là
    vấn đề của quốc gia nữa.
    Nhật Bản chúng ta là một quốc đảo nhỏ nằm ở phía Đông châu Á,
    cách xa đại lục, lâu nay không giao thương với ngoại quốc, bế quan
    tỏa cảng, tự cung tự cấp. Mãi tới thời Gia Vĩnh (1848-1854), khi hạm
    đội Mỹ kéo đến gây áp lực, Nhật Bản mới bắt đầu mở của giao
    thương với nước ngoài. Thế mà ngay cả khi đã mở cửa, trong nước
    vẫn chưa hết tranh cãi ồn ào xung quanh việc tiếp tục mở cửa hay
    đóng cửa, tiếp tục lên án người ngoại quốc là lũ man di mọi rợ…

    Những cuộc tranh cãi như vậy thật là vô bổ, có khác nào “ếch ngồi
    đáy giếng coi trời bằng vung”.
    Thử nghĩ xem, chẳng phải là người Nhật chúng ta cũng như người
    dân các nước phương Tây cùng ở trên một quả đất, hưởng chung ánh
    mặt trời, ánh trăng, thở cùng một không khí, hưởng cùng một đại
    dương, và đều là con người cả đó sao. Chúng ta thừa sản vật thì chia
    bớt cho người ta; người ta thừa sản vật thì chia lại cho mình, cùng học
    hỏi lẫn nhau, không ai tự cao tự đại, không làm nhau hổ thẹn. Dân
    Nhật ta cũng như dân họ đều cùng mong phát triển, cùng mong hạnh
    phúc đó sao?
    Chúng ta phải tận tâm làm hết sức mình trong quan hệ quốc tế sao
    cho đúng ý trời, hợp lòng người. Nếu đúng đạo lý thì cần chuộc lỗi
    với người Phi châu cũng phải làm. Còn để bảo vệ lập trường chính
    nghĩa thì dù là pháo hạm Anh hay Mĩ, chúng ta cũng không sợ. Khi
    quốc gia chịu nỗi nhục mất nước thì mọi người dân Nhật, không trừ
    một ai, đều sẵn sàng xả thân để bảo vệ thanh danh của Tổ quốc. Như
    vậy, đất nước mới tự do, quốc gia mới độc lập.
    Thế nhưng trên thế gian này, vẫn có quốc gia tự phong cho mình là
    trung tâm của vũ trụ. Họ nghĩ là ngoài đất nước họ ra không có quốc
    gia nào tồn tại cả. Hễ cứ nhìn thấy người ngoại quốc thì miệt thị như
    loài thú hoang, gọi họ là man di mọi rợ. Kết cục là quốc gia đó tự
    chuốc lấy sự căm ghét của các nước khác. Đó là một kiểu “chỉ biết cái
    tôi” ở tầm quốc gia, đó là cách ngoại giao không biết mình biết người,
    không nắm rõ ý nghĩa của từ Tự do.

    Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn
    phận với đất nước
    Kể từ khi thiết lập chế độ quân chủ[1], nền chính trị Nhật Bản đã có

    những thay đổi mạnh mẽ. Về mặt đối ngoại, chính phủ đã bang giao
    với ngoại quốc trên cơ sở công pháp quốc tế. Về đối nội, chính phủ đã
    mang lại tinh thần “tự do, độc lập” cho dân chúng. Người dân chúng
    ta đã được phép mang đầy đủ họ và tên; được phép cưỡi ngựa… Đó
    là sự thay đổi to lớn kể từ thuở lập quốc, tạo cơ sở bình đẳng về địa vị
    giữa các thành phần Võ sĩ (samurai), Nông, Công, Thương trong xã
    hội.[2]
    Chế độ đẳng cấp – địa vị của một người được quy định trước cả khi
    người đó ra đời – đã hoàn toàn bị xóa bỏ.[3]
    Từ nay trở đi địa vị xã hội của cá nhân sẽ được quyết định tùy theo
    tài năng, phẩm cách và vai trò của mỗi người. Quan chức chính quyền
    được bổ nhiệm theo tài năng và nhân cách, và là người thực thi luật
    pháp cho chúng ta. Chúng ta kính trọng họ theo lẽ đó, chứ không phải
    chúng ta kính trọng chức vụ và thành phần xuất thân của họ. Chúng
    ta không tuân theo con người họ. Chúng ta chỉ tuân thủ Luật pháp
    (Quốc pháp) mà họ đang thừa nhận.
    Dưới thời chính quyền phong kiến Mạc phủ, người dân chúng ta
    luôn phải khiếp sợ, né tránh, cúi rạp mình trước các Tướng quân[4].
    Ngay cả lũ ngựa của các Tướng quân cũng làm chúng ta hoảng sợ
    không dám đi chung đường với chúng; bầy chim cắt dùng nhử mồi
    khi các Tướng quân đi săn bắn, cũng làm chúng ta khiếp đảm, phải
    cúi lạy phải phủ phục cho đến khi lũ chim bay khuất mới dám ngẩng
    đầu đứng lên đi tiếp. Người ta đã buộc chúng ta phải quen, phải sợ
    những thứ được coi là “luật lệ”, “tập quán” hà khắc ấy. Giờ đây nghĩ
    lại ai ai cũng cảm thấy kinh tởm.
    Nhưng thứ “luật lệ”, “tập quán” đặt ra một cách vô cớ đó, không
    phải là luật pháp hay quốc pháp để chúng ta phải tuân thủ. Chúng là
    những thứ đã cướp đoạt mọi quyền tự do của chúng ta. Chúng là
    những thứ được đặt ra để gieo rắc nỗi sợ hãi trong chúng ta trước uy
    quyền của chế độ phong kiến Mạc phủ và nhằm để che đậy bản chất

    lộng hành, không minh bạch của chính chế độ đó.
    Giờ đây, toàn bộ cái chế độ và luật lệ ngu xuẩn ấy đã bị xóa sổ. Vì
    thế, không lẽ gì chúng ta cứ phải sợ bóng sợ vía các cấp chính quyền
    đó mãi.
    Nếu có gì bất mãn với chính quyền hiện tại, chúng ta phải kháng
    nghị, tranh luận một cách đường đường chính chính. Tại sao chúng ta
    chỉ dám nói xấu, kêu ca sau lưng họ mà không dám chỉ mặt vạch tên?
    Những kháng nghị hợp lòng dân, đúng đạo Trời, dù có phải đổ cả
    tính mạng chúng ta cũng phải tranh đấu. Đây là bổn phận mà mỗi
    người dân chúng ta phải thực hiện đối với đất nước.

    Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
    Như tôi đã nói ở trên kia, “độc lập và tự do” dựa trên đạo lý của
    Trời đã trở thành nguyên tắc trong từng người cũng như của cả quốc
    gia chúng ta. Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc này thì
    dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng không sợ,
    huống hồ chúng ta lại phải sợ một số quan chức chính phủ lộng
    quyền?
    Giờ đây, chúng ta đã xác lập được tinh thần cơ bản: mọi người dân
    đều bình đẳng, vì thế chúng ta hãy yên tâm phát huy mọi khả năng
    sức lực và trí tuệ của mình.
    Mỗi người đều có mỗi bổn phận, do đó phải tự vun đắp tài năng,
    rèn luyện nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận đó. Để làm
    được điều này, ai ai cũng phải học chữ, học ngôn ngữ. Có chữ, biết
    ngôn ngữ sẽ lý giải được mọi đạo lý của sự vật.
    Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu giúp tôi rằng: Học vấn là vấn đề
    cấp bách biết nhường nào.
    Hiện nay, tầng lớp thường dân cũng đã sánh vai ngang hàng với

    tầng lớp Võ sĩ (samurai), cho nên con đường được lựa chọn vào các
    chức vụ trong chính quyền cũng mở ra cho chúng ta nếu chúng ta có
    tài.
    Chúng ta phải tự giác trước bổn phận của bản thân, không chạy
    theo những hành động rồ dại, phải cẩn trọng.
    Tôi chắc rằng không ai đáng thương hại hơn là những người vô tri
    thức, những người không hiểu lẽ phải, và cũng không ai khó giao tiếp
    hơn những người ấy. Vì không có tri thức, không có năng lực tự thức
    tỉnh nên họ căm ghét oán giận những người giàu có chính đáng, đôi
    khi họ tập hợp thành bầu đoàn đi đánh cướp.
    Bản thân họ được pháp luật bảo vệ, nhưng hễ cứ cảm thấy bất lợi
    cho mình thì họ lại thản nhiên vi phạm, ngang nhiên phá luật.
    Lại không có ít người, có được chút ít tài sản, tiền bạc thì chỉ lo tích
    trữ, cất giấu, không bao giờ suy nghĩ đầu tư cho con cháu học hành.
    Vì thế con cháu họ chỉ biết ăn chơi, lêu lổng, dốt nát v...
     
    Gửi ý kiến