CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
muoi-nguoi-da-den-nho-1543907090

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:11' 07-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:11' 07-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Đoạn kết
Mười tên lính nhỏ đi ăn;
Một tên chết nghẹn,
giờ còn chín tên.
Chín tên thức muộn trong đêm;
Một quên không dậy,
tám tên ngậm ngùi.
Devon du thuyền chúng chơi;
Một tên nằm lại,
bảy thời ra đi.
Bảy tên bổ củi làm chi;
Bổ đôi một đứa,
sáu tên muộn phiền.
Sáu đem tổ ong ra nghiền;
Một ong đốt chết,
còn năm sững sờ.
Đến tòa năm đứa kia chờ;
Một vào Thượng thẩm,
bốn ra biển ngồi
Bốn tên cùng ra biển trời;
Trích đỏ nuốt một,
giờ còn lại ba
Vườn thú ba đứa la cà;
Gấu to vồ một,
còn hai vẹn toàn.
Hai tên đi dưới nắng vàng;
Một khô cong chết,
một tên bơ phờ.
Còn tên lính nhỏ thẫn thờ
Hắn đi treo cổ
mình lên trần nhà.
Và rồi chẳng còn một ai.
FRANK GREEN, 1869.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Chương 1
Ở góc toa hút thuốc hạng nhất là ngài thẩm phán Wargrave,
người gần đây đã rời chức về hưu. Ông vừa bập một hơi xì gà
vừa đảo qua mục tin chính trị của thời báo Times với ánh mắt
lộ rõ vẻ thích thú.
Để tờ báo xuống, ông đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Lúc này tàu
đã qua Somerset. Ông nhìn chiếc đồng hồ đeo tay - vẫn còn
hai tiếng nữa.
Ông điểm lại trong đầu tất cả những gì liên quan tới Đảo
Chiến Binh được đăng trên báo chí. Đầu tiên là tin một tay
triệu phú người Mỹ say mê du thuyền đã mua đảo, rồi đến một
bài viết miêu tả căn biệt thự xa xỉ tân thời mà hắn xây trên đó,
ngoài khơi vịnh Devon. Chẳng may cô vợ ba mới cưới của tay
triệu phú nọ lại sợ đi thuyền, thế nên mới dẫn tới việc cả cơ
ngơi lẫn hòn đảo nọ bị rao bán. Một loạt quảng cáo rùm beng
về hòn đảo liền xuất hiện trên báo. Rồi sau đó có một lời xác
nhận khô khan rằng cả chỗ đó đã được một quý ngài tên Owen
mua lại. Tiếp đến là một loạt tin đồn được những tay ký giả
báo lá cải truyền đi. Đảo Chiến Binh thực ra được mua lại bởi
một quý cô tên là Gabrielle Turl, một ngôi sao Hollywood! Cô
ta muốn lui về đó vài tháng để thoát khỏi sự săm soi của công
chúng. Tờ báo Con ong bận bịu thì lại khéo léo ám chỉ rằng
chỗ đó dành cho giới Hoàng gia cư trú??! Tờ báo Quý ông
Merryweather thì được rỉ tai là chỗ đó được mua lại cho tuần
trăng mật - ngài Bá tước trẻ tên L - cuối cùng cũng phải chịu
đầu hàng Thần tình yêu! Còn tờ Jonas thì biết chắc rằng nơi
đó đã được Hải quân Anh mua lại nhằm thực hiện những thí
nghiệm vô cùng bí mật.
Chuyện Đảo Chiến Binh chiếm lĩnh mục tin tức đã rõ như
ban ngày!
Ngài thẩm phán Wargrave rút từ túi áo ra một lá thư. Nét
chữ gần như không ai đọc nổi, chỉ trừ vài cụm từ ở chỗ này
chỗ nọ là nổi bật rõ ràng đến bất ngờ. Lawrence thân mến… đã
quá lâu rồi tôi không nhận được tin tức từ ông… phải đến Đảo
Chiến Binh bằng được… một nơi đầy mê hoặc… nhiều điều để
nói… những ngày xưa cũ… hòa mình vào thiên nhiên… tắm
mình trong ánh mặt trời… 12:40 từ Paddington… gặp ông ở
Oakbridge… và người gửi thư đã kết lại với một chữ ký bắt
mắt: Mãi mãi thương mến, Constance Culmington.
Thẩm phán Wargrave mò lại trong trí nhớ của mình lần
cuối cùng ông gặp quý cô Constance Culmington. Chắc là đã
bảy - không, tám năm về trước. Lúc ấy cô đang ở Ý để hưởng
ánh nắng mặt trời và giao hòa với thiên nhiên cùng những
người nông dân Ý. Về sau, ông nghe nói cô đã tới Syria, nơi
mà cô được tắm trong cái nắng còn gay gắt hơn, và sống với
thiên nhiên cùng những người du mục.
Ông ngẫm nghĩ, Constance Culmington đích thị là loại phụ
nữ có thể đi mua một hòn đảo rồi thêu dệt nên những điều kỳ
bí xung quanh mình! Gật đầu nhè nhẹ tán thưởng với lối suy
luận logic của mình, ông thẩm phán Wargrave mặc cho đầu
mình gục xuống…
Và ông ngủ thiếp đi…
Trong một toa khách hạng ba cùng năm hành khách khác là
Vera Claythorne, lúc này cô đang ngả đầu ra sau với đôi mắt
nhắm nghiền. Đi tàu hỏa vào một ngày như thế này mới nóng
nực làm sao! Cũng thật tuyệt khi được đi ra biển! Mà cũng
may mắn lắm cô mới có được công việc này. Cứ khi nào cô
muốn có một kỳ nghỉ thì hầu như luôn đồng nghĩa với việc
phải đi trông nom một bầy trẻ con - mà kỳ nghỉ của một thư ký
còn khó kiếm hơn nữa. Thậm chí cả cơ quan môi giới cũng
chẳng đem lại nhiều hy vọng.
Và rồi lá thư đó tới.
Tôi đã nhận được lời giới thiệu về cô thông qua hãng môi
giới Phụ nữ tài giỏi. Tôi cũng hiểu rằng họ có biết cô từ
trước. Và tôi cũng rất thoải mái về mức lương cô yêu
cầu. Rất mong cô tới bắt đầu công việc này vào ngày 8
tháng Tám. Chuyến tàu sẽ khởi hành lúc 12:40 từ ga
Paddington và cô sẽ được đón tại ga Oakbridge. Tôi
cũng kèm theo đây năm tờ một bảng cho khoản chi phí.
Thân ái,
Una Nancy Owen
Và ở góc trên cùng là địa chỉ đính kèm tem thư, Đảo Chiến
Binh, Sticklehaven, Devon…
Đảo Chiến Binh! Chà, mấy ngày nay chẳng có gì ngoài tin
đó trên báo! Đủ các thể loại manh mối và những lời đồn hấp
dẫn. Mặc dù có khi phần lớn số đó là bịa đặt. Nhưng chắc chắn
là căn nhà đã được một tay triệu phú xây nên và được ví như
là tận cùng của sự xa xỉ.
Mệt mỏi vì một học kỳ đầy căng thẳng vừa qua ở trường,
Vera Claythorne tự nhủ: “Làm một cô chủ trò ở một trường
học hạng ba thật chẳng lợi lộc gì… Giá mình có được việc làm
ở một trường học tử tế nào đó.”
Và rồi, một cảm giác lãnh lẽo phủ lấy tim cô, cô nghĩ:
“Nhưng cũng may lắm mình mới có được việc này. Nói cho
cùng, cũng chẳng ai thích cái tiếng bị điều tra, kể cả viên điều
tra có cho mình trắng án đi nữa!”
Cô nhớ là ông ta thậm chí còn khen ngợi cô vì sự bình tĩnh
và lòng dũng cảm. Với một cuộc điều tra thì như vậy là tốt lắm
rồi. Và bà Hamilton cũng đối xử rất tốt với cô - chỉ có Hugo nhưng cô sẽ không nhớ tới Hugo nữa!
Bỗng nhiên, người cô run lên bất chấp cái nóng bức trong
toa tàu và cô ước gì mình không phải đi ra biển. Hình ảnh ấy
lại hiện rõ trong tâm trí cô. Đầu của Cyril, nhấp nhô lên
xuống, cố bơi ra chỗ tảng đá… Lên xuống - lên xuống… Và cô
nữa, bơi những sải dễ dàng điêu luyện ở phía sau - rẽ mình qua
làn nước trong lúc cô biết, quá đỗi chắc chắn, rằng cô sẽ
không tới kịp…
Biển - với màu xanh sâu thẳm ấm áp của nó - những buổi
sáng nằm dài trên bãi biển - Hugo - Hugo, người từng nói yêu
cô…
Cô không được nghĩ tới Hugo nữa…
Cô mở mắt và cau mày xem xét người đàn ông ngồi đối
diện. Đó là một người đàn ông cao lớn với khuôn mặt ngăm
nâu, đôi mắt sáng màu hơi gần nhau và một vẻ ngạo mạn, gần
như độc ác nơi khóe miệng.
Cô thầm nghĩ: 'Hẳn là anh ta đã từng đến những nơi hay ho
trên thế giới và đã chứng kiến nhiều thứ thú vị…'
Chỉ với một lần liếc mắt nhanh như chớp, Philip Lombard đã
có thể đưa ra kết luận về cô gái ngồi đối diện và tự nhủ: 'Khá
hấp dẫn - có vẻ một cô giáo dạy học đây.'
Một khách hàng điềm tĩnh, anh tiếp tục đoán - và là một
người luôn làm chủ tình thế - dù trong tình trường hay chiến
trường. Anh thà khiêu chiến với cô ta còn hơn…
Anh cau mày. Không, phải dừng ngay mấy thứ đó. Đây là
chuyện làm ăn. Anh phải tập trung vào công việc của mình.
Mà chính xác thì là việc gì cơ chứ, anh thắc mắc? Cái tên
Do Thái nhỏ thó đó tỏ vẻ rõ là bí hiểm.
“Anh cầm lấy mà không thì thôi, đại úy Lombard.”
Anh trầm ngâm nói: “Một trăm đồng gui-nê, hử?”
Anh nói với cái giọng bình thường như thể một trăm gui-nê
chẳng hề quan trọng mấy với mình. Một trăm gui-nê trong lúc
anh chỉ còn đủ tiền cho đúng một bữa tử tế cuối cùng! Dù vậy,
anh chắc mẩm rằng tên Do Thái nhỏ thó nọ chẳng hề bị anh
qua mặt - đó chính là thứ đáng ghét nhất về dân Do Thái,
chẳng ai lừa được chúng trong chuyện tiền nong bao giờ chúng biết hết cả!
Giữ giọng bình thường, anh tiếp: “Và ông không thể cho tôi
biết thêm gì hết sao?”
Isaac Morris lắc cái đầu nhẵn nhụi của lão một cách tự tin.
“Không, thưa đại úy Lombard, mọi thứ chỉ có vậy. Ông chủ tôi
biết rõ rằng ngài có tiếng giỏi xoay xở trong tình thế khó khăn.
Tôi được giao việc gửi lại cho ngài một trăm đồng gui-nê và
bù lại ngài sẽ đến Sticklehaven, ở Devon. Ga gần đây nhất là
Oakbridge, sẽ có người đợi ở đó để đưa ngài đến Sticklehaven
và ngài sẽ tới Đảo Chiến Binh bằng thuyền máy. Chủ nhân của
tôi sẽ tiếp đón ngài tại đó.”
Lombard đột ngột ngắt lời: “Tôi phải ở đó trong bao lâu?”
“Khoảng một tuần là cùng.”
Vân vê hàng ria của mình, đại úy Lombard nói: “Ông hiểu
là tôi sẽ không làm điều gì - bất hợp pháp chứ?” Vừa nói anh
vừa ném một ánh nhìn sắc lẻm về phía đối diện. Một thoáng
cười mỉm lướt qua khóe miệng đặc trưng Do Thái của lão
Morris khi lão nghiêm trang trả lời: “Nếu có bất cứ điều gì bất
hợp pháp, tất nhiên ngài hoàn toàn có quyền từ chối.”
Lão già nhỏ thó khốn kiếp, cười với lại cợt! Cứ như thể lão
đã biết tỏng Lombard trước đây vốn chẳng coi pháp luật ra gì.
Miệng Lombard khẽ mở ra một cái nhếch mép.
Ờ đấy, anh cũng đã có một đôi lần phạm pháp! Nhưng mọi
việc rồi đều êm xuôi cả! Chẳng việc gì mà anh phải giới hạn
bản thân hết…
Không, anh chẳng cần biết đến giới hạn nào sất. Anh bắt
đầu hình dung đến cái cảnh tận hưởng vui thú trên Đảo Chiến
Binh ra sao…
Trong một toa dành cho người không hút thuốc, cụ bà Emily
Brent đang ngồi thẳng thớm như thường lệ. Cụ đã sáu mươi
lăm tuổi và cụ không hề chấp thuận tác phong uể oải. Cha của
cụ, một Đại tá thuộc lớp người đi trước, từng rất chú trọng về
phong thái nói chung.
Lớp trẻ ngày nay thì lại dễ dãi một cách đáng xấu hổ - từ
điệu bộ cho đến tất tần tật mọi việc khác…
Được bao bọc trong vầng hào quang của sự chỉn chu và
những nguyên tắc bất di bất dịch, cụ Brent ngồi trong toa
khách hạng ba chật chội và đánh bại cái nóng nực cũng như sự
bất tiện mà nó mang lại. Thiên hạ ngày nay thì rối rít loạn xị
lên vì toàn những chuyện không đâu! Nào là muốn tiêm thuốc
tê trước khi nhổ răng - nào là uống thuốc ngủ nếu chẳng may
mất ngủ - họ muốn những chiếc ghế bành thoải mái với gối
đệm và lũ con gái thì xõa xượi nằm thượt ra đến hở cả nửa
người ở những bãi biển hè.
Cụ Brent mím chặt môi. Cụ như muốn nhớ lại một vài cá
nhân tiêu biểu làm ví dụ.
Cụ nhớ lại kỳ nghỉ hè năm ngoái. Dù thế, năm nay sẽ khác
hoàn toàn. Đảo Chiến Binh…
Cụ rà lại bức thư mà cụ đã đọc đi đọc lại nhiều lần trong
đầu.
Kính gửi bà Brent,
Mong là bà vẫn chưa quên tôi chứ? Chúng ta đã gặp
nhau ở nhà nghỉ Belhaven một ngày tháng Tám mấy năm
về trước, và thật có duyên khi chúng ta có nhiều điểm
chung.
Tôi cũng đang mở một nhà khách của riêng mình tại
đây, trên một hòn đảo ngoài khơi vịnh Devon. Thiết nghĩ
sẽ thật là dễ chịu khi có một nơi như thế này, với thức ăn
ngon lành và một người đáng kính ghé thăm. Sẽ không có
cảnh khỏa thân hay cái loa nhạc nào vào nửa đêm nữa.
Tôi rất lấy làm hân hạnh nếu bà có thể thu xếp được và
đến đây vào kỳ nghỉ hè, tại Đảo Chiến Binh - hoàn toàn
miễn phí - như một vị khách của tôi. Liệu đầu tháng Tám
có thích hợp với bà không? Có lẽ là ngày mùng 8 chăng?
Thân mến,
U.N.O
Tên gì kia nhỉ? Chữ ký hơi khó nhìn. Cụ Emily Brent nôn
nóng nghĩ: “Nhiều người có chữ ký không thể nhìn nổi.”
Cụ cố tua lại những người cụ đã gặp ở Belhaven trong óc.
Cụ từng ở đó trong hai mùa hè liên tiếp. Có một người phụ nữ
trung niên nào đó rất tốt - bà - bà - ôi bà ta tên gì vậy nhỉ? Cha
của bà ấy từng là một vị linh mục. Và còn một bà Olton Ormen - không, chắc chắn là Oliver! Đúng rồi - là Oliver.
Đảo Chiến Binh! Có biết bao nhiêu là tin báo đưa về Đảo
Chiến Binh rồi - tin gì đó về một ngôi sao điện ảnh - hay là
một tay triệu phú người Mỹ vậy nhỉ?
Tất nhiên là những nơi như vậy thường bị bán giá rẻ những hòn đảo đâu có hợp gu tất cả mọi người. Thiên hạ nghĩ
rằng nó lãng mạn nhưng đến khi ở đó thì họ lại nhận ra chỉ có
mỗi sự bất tiện và rồi lại sẵn lòng rao bán.
Cụ Emily Brent thầm nhủ: “Gì thì gì mình vẫn sẽ có được
một kỳ nghỉ miễn phí ở đó.”
Với số tiền lương ngày càng giảm và bao nhiêu cổ tức chưa
được trả hết, thì dịp này rất đáng để suy xét. Chỉ ước gì cụ có
thể nhớ thêm đôi chút về bà - hay cô - Oliver kia?
Tướng Macarthur nhìn ra ngoài cửa sổ toa xe lửa. Tàu vừa tới
địa phận hạt Exeter, nơi ông cần đổi chuyến. Thật đáng
nguyền rủa, mấy cái xe lửa chậm lề mề này! Cái Đảo Chiến
Binh đó, tính theo đường chim bay thì lấy gì làm xa cơ chứ.
Ông còn đang lờ mờ về cái tên Owen nọ. Hình như là một
người bạn của Spoof Leggard - và của Johnnie Dyer.
“- Một, hai người bạn nối khố của ông cũng đang trên
đường tới - để ôn lại kỷ niệm xưa.”
Chà, ông lấy làm thích thú khi trò chuyện về quá khứ. Gần
đây ông còn có cảm giác như thể đám bạn cũ đang cố tình lánh
mặt mình vậy. Tất cả là vì cái tin đồn nhố nhăng ấy! Thề có
đấng tối cao, mọi chuyện đã quá nặng nề - đã gần ba mươi
năm rồi! Chắc là cái thằng Armitage đã phun ra. Thằng ranh
khốn kiếp! Thằng nhãi đó biết cái gì cơ chứ? Ờ thì cũng chẳng
mấy tốt lành gì khi cứ nghĩ đi nghĩ lại mấy cái chuyện này!
Người ta cũng thi thoảng tưởng tượng ra các thứ - như việc có
một tên đang nhìn mình chằm chằm chẳng hạn.
Hòn Đảo Chiến Binh này, chà, ông rất muốn được thấy nó.
Đã có quá nhiều tin đồn thổi rồi. Hình như còn có cái lời đồn
gì đó về việc Hải quân Anh hay Bộ Quốc phòng hay Không
quân đã nắm quyền sở hữu hòn đảo.
Tay triệu phú trẻ người Mỹ nọ, Elmer Robson, mới thực là
người xây ngôi nhà. Cả hàng ngàn đô-la, thiên hạ đồn vậy.
Toàn xa xỉ trần tục…
Exeter! Còn những một tiếng nữa! Mà ông thì không muốn
phải chờ đợi. Ông muốn đi tiếp luôn…
Bác sĩ Armstrong còn đang lái chiếc xe hiệu Morris qua vùng
đồng bằng Salisbury. Ông đang rất mệt mỏi… Thành công
cũng có giá của nó. Còn nhớ cái thời ông phải ngồi trong văn
phòng tư vấn trên phố Harley, ăn mặc chỉnh tề, vây quanh toàn
là những thứ máy móc hiện đại nhất với đồ nội thất đắt tiền
nhất và ông chờ đợi - ông chờ cho qua những ngày tháng trống
rỗng để đến cái ngày mạo hiểm đổi lấy thành công hoặc thất
bại…
Cuối cùng thì cũng thành công! Ông đã gặp may! Tất nhiên
là may mắn cộng thêm cái tài của ông nữa. Ông là một người
lành nghề - nhưng thế chưa đủ để thành đạt. Người ta cần có
cả vận may nữa. Và ông đã có nó! Một chẩn đoán chính xác,
một vài bà bệnh nhân cũ mang ơn mình - loại phụ nữ có tiền
có thế - và thế là tin tức bay xa. “Bà thử gặp ông Armstrong
xem - một người đàn ông khá trẻ - nhưng rất thông minh những năm qua Pam đã gặp đủ mọi loại người và ông sẽ giải
quyết mọi vấn đề ngay tức khắc!” Mọi chuyện đã diễn ra như
thế.
Và giờ thì bác sĩ Armstrong chắc chắn đã đến đích. Ngày
làm việc bận kín lịch, ông ít khi có thì giờ rảnh rang. Và thế là,
vào buổi sáng tháng Tám ấy, ông cảm thấy vui mừng vì được
rời khỏi London để tận hưởng vài ngày nghỉ trên hòn đảo
ngoài khơi Devon kia. Mà cũng chẳng phải là kỳ nghỉ gì cho
cam. Bức thư mà ông nhận được khá tối nghĩa về khoản nội
dung, nhưng chẳng có gì là không rõ ràng về tờ séc kèm theo
hết. Một khoản tiền khổng lồ. Nhà Owen nọ chắc phải bơi
trong tiền. Nhưng cũng có vẻ hơi khó nhằn, một ông chồng lo
lắng cho sức khỏe của bà vợ và muốn có một bản báo cáo tình
trạng sức khỏe của bà ta miễn sao bà ấy không hay biết. Rốt
cuộc bà vợ kia sẽ không hề biết là có một bác sĩ tới khám.
Thần kinh của bà ta…
Lại thần kinh nữa! Đôi mày của ông bác sĩ nhướn lên.
Đúng là đàn bà và thần kinh của họ! Thì, nó cũng chỉ tốt cho
chuyện làm ăn thôi. Đến nửa số phụ nữ đến gặp ông để tư vấn
chẳng bị làm sao ngoài chứng chán chường, nhưng họ cũng
chẳng mấy cảm kích khi nghe nói vậy đâu! Và thế là lại phải
tìm ra một cái gì đó khác.
“Một tình trạng hơi bất thường của (một từ dài ngoằng nào
đó) nhưng chẳng có gì nghiêm trọng - chỉ cần làm đúng là
được. Một phương pháp chữa trị đơn giản thôi.”
Thực tình, thuốc men hầu hết cũng là thứ tạo niềm tin cho
người ta. Và ông lại có một cách cư xử đàng hoàng - ông có
thể gây niềm tin và gieo hy vọng.
May mắn thay ông cũng đã bình tĩnh lại sau cái chuyện
mười - không, mười lăm năm trước. Xém chút nữa là gay to
rồi! Ông đã đến rụng rời chân tay. Cú sốc đã kéo ông trở lại.
Ông cai hẳn rượu từ đó. Thề có đức Chúa trời, chỉ một chút
nữa thôi là mọi thứ đã kết thúc…
Một tiếng còi với sức tàn phá xé tai phát ra từ một chiếc
siêu xe thể thao Dalmain vừa vượt qua ông với tốc độ tám
mươi dặm một giờ. Bác sĩ Armstrong xém nữa là lao vào hàng
rào bên đường. Lại là mấy thằng ranh con hay phá phách khắp
nơi. Ông ghét cay ghét đắng chúng. Đó cũng lại là một lần
suýt chết. Thằng ranh mất dạy!
Tony Marston, trong lúc phóng xe ầm ầm tới Mere, nghĩ thầm:
“Cái số xe hơi lết trên đường nhiều đến phát kinh lên được.
Lúc nào cũng có cái gì đó ngáng đường. Đã thế lại còn nằm
chềnh ềnh giữa đường nữa chứ! Dù gì thì lái xe ở Anh cũng
thật đáng nản… không như ở Pháp, anh có thể phóng thoải
mái…”
Có nên dừng lại làm ly rượu không nhỉ, hay phóng tiếp?
Còn một đống thời gian mà! Chỉ còn có hơn một trăm dặm
chút xíu. Anh sẽ mua rượu gin và ít bia gừng uống. Ngày gì
mà nóng chảy cả mỡ!
Chắc trên cái đảo đó cũng có mấy thứ hay ho - nếu thời tiết
đẹp lâu. Mà mấy người nhà Owen này là ai, anh thắc mắc?
Chắc giàu nứt đố đổ vách. Tay bán hàng rất rành đánh hơi
chuyện mấy người như thế. Tất nhiên, lão phải làm vậy, tội
nghiệp lão, còn chẳng có một xu dính túi…
Hy vọng họ sẽ đãi khách với rượu ngon. Chẳng biết đâu mà
lần với mấy tên tự làm ra tiền chứ không phải đẻ ra đã có tiền.
Đáng tiếc là mẩu tin Gabriella Turl mua Đảo Chiến Binh lại
không đúng. Anh thích được giao du với đám diễn viên nổi
tiếng hơn.
Đành thôi, chắc ở đó cũng phải có mấy em chứ…
Bước ra khỏi khách sạn, anh vươn vai, ngáp một cái, ngước
nhìn bầu trời xanh trên cao và trèo vào chiếc xe Dalmain.
Phải đến vài cô gái nhìn anh đầy ngưỡng mộ - thân hình
cân đối cao một mét tám mươi hai, mái tóc óng mượt, khuôn
mặt rám nắng, và đôi mắt xanh biếc vô cùng.
Anh nhấn ga rồ máy rồi lướt qua con phố hẹp. Người già và
mấy đứa bé bán rong phải nhảy dựng lên tránh cho an toàn.
Bọn trẻ thì dõi theo với ánh mắt hâm mộ.
Anthony Marston đắc thắng tiếp tục cuộc hành trình của
mình.
Ông Blore lúc này đang trong một chuyến tàu chậm chạp đến
Plymouth. Ngoài ông ra chỉ còn một người nữa trong toa tàu,
một cụ già từng đi biển với đôi mắt lèm nhèm. Hiện cụ già đã
ngủ gật.
Ông Blore đang cẩn thận ghi chép vào quyển sổ nhỏ.
“Thế là đủ,” ông lẩm bẩm. “Emily Brent, Vera Claythorne,
bác sĩ Armstrong, Anthony Marston, ông già thẩm phán
Wargrave, Philip Lombard, tướng Macarthur, C.M.G., D.S.O.
Người quản gia và vợ ông ta: ông bà Rogers.”
Ông gập quyển sổ lại rồi đút nó vào túi. Ông liếc nhìn phía
góc toa tàu và người đàn ông đang ngủ.
“Có một trong tám rồi này,” ông Blore thẩm định một cách
chính xác.
Ông nhẩm lại mọi thứ trong đầu một cách cẩn thận đầy
lương tâm.
“Công việc chắc chẳng mấy khó khăn.” Ông nghiền ngẫm.
“Khó mà vuột tay vụ này được. Hy vọng nhìn mình không đến
nỗi nào.”
Nghĩ rồi người đàn ông đứng dậy, lo lắng soi mình qua tấm
kính. Khuôn mặt phản chiếu trong gương có vẻ đặc trưng của
lính với hàng ria mép. Chẳng có mấy biểu cảm ở gương mặt
ấy. Đôi mắt xám lạnh và hơi gần nhau.
“Có thể là một thiếu tá,” ông Blore nói. “Không, mình quên
béng. Có một lão già ở đó cũng từng trong quân đội. Lão sẽ
nhận ra mình ngay.”
“Nam Phi,” ông Blore thốt lên. “Phải rồi! Chẳng một ai
trong số đó có bất cứ mối liên hệ nào với Nam Phi, và mình
vừa đọc mẩu tin du lịch kia nên có thể nói trôi chảy được.”
Cũng thật may là có đủ loại thuộc địa trên đời. Và một
người trở về từ Nam Phi như ông Blore cảm thấy mình có thể
hòa nhập với bất cứ giai tầng nào chẳng chút khó khăn.
Đảo Chiến Binh. Ông nhớ nó từ khi còn là một đứa bé con.
Đủ loại đá nhuốm vị biển vây quanh bởi hải âu - nằm cách bờ
biển khoảng một dặm.
Thật là một ý tưởng nực cười khi đến đó xây nhà! Thời tiết
ở đó mới tệ làm sao! Nhưng mấy tay triệu phú cũng nhiều khi
bốc đồng!
Cụ già ở trong góc lúc này đã tỉnh dậy và nói: “Chẳng bao
giờ lường trước được biển cả đâu - không bao giờ hết!”
Ông Blore nói dỗ dành: “Đúng thế. Không ai lường được.”
Cụ già nấc lên hai lần, tỏ ra rầu rĩ: “Sắp có cơn cớ đây.”
Ông Blore nhẹ nhàng chỉnh lại: “Đâu, không phải đâu cụ
ơi, hôm nay đẹp trời mà.”
Cụ già giận dữ: “Có một cơn giông mà. Tôi có thể ngửi
được nó.”
“Chắc cụ nói đúng.” Ông Blore nói hòa giải.
Đoàn tàu dừng lại ở một trạm ga và cụ già loạng choạng
đứng dậy.
“Tới nơi tôi xuống rồi.” Cụ quờ tay phải ô cửa sổ. Ông
Blore bèn giúp cụ.
Cụ già đứng nơi cánh cửa, giơ bàn tay chào trang nghiêm
và chớp chớp đôi mắt kèm nhèm của cụ.
“Hãy cẩn trọng và cầu nguyện,” cụ nhắc nhở. “Cẩn trọng và
cầu nguyện. Ngày xét xử cuối cùng đã cận kề rồi.”
Cụ nhào người khỏi cánh cửa ngã xuống nền sân ga. Vẫn tư
thế nằm như vậy, cụ ngước mắt nhìn ông Blore và nói với
giọng vô cùng trịnh trọng: “Tôi đang nói về anh đó, chàng trai
trẻ ạ. Ngày phán xử cuối cùng đến gần rồi.”
Ngồi lặng thinh nơi chỗ ngồi của mình, ông Blore thầm
nhủ: Lão còn gần ngày tận thế hơn mình ấy chứ!
Nhưng, kỳ thực mà nói, ông ta đã lầm…
Chương 2
Đứng ngoài ga Oakbridge lúc này là một nhóm người có vẻ
phân vân giây lát. Phía sau họ là người khuân vác đồ với đống
hành lý. Một trong số đó gọi: “Jim!”
Một người lái xe tắc-xi bước đến.
“Mọi người đến Đảo Chiến Binh phải không ạ?” Anh ta hỏi
với giọng Devon nhè nhẹ. Có bốn giọng trả lời - và gần như
ngay lập tức họ quay ra nhìn nhau vẻ giấu giếm.
Người lái xe trả lời, quay sang ngài thẩm phán Wargrave vì
ông là một người cao tuổi trong nhóm: “Ở đây có hai chiếc xe,
thưa ông. Một chiếc lại phải đợi chuyến tàu chậm từ ga Exeter
- chỉ năm phút thôi - vì có một quý ông đang trên chuyến đó.
Có lẽ một người trong số các vị không thấy phiền nếu phải đợi
chứ? Như thế mọi người sẽ được thoải mái hơn.”
Vera Claythorne, với ý thức rõ ràng về vị trí thư ký của
mình, cất tiếng ngay.
“Tôi sẽ đợi,” cô cho biết, “nếu mọi người đều muốn đi
ngay?” Cô nhìn ba người còn lại, cái nhìn và giọng nói của cô
có chút gì đó như ra lệnh do cô đã quen lối ra oai trong nghề
của mình. Có thể cô đã từng chỉ đạo cho lũ trẻ được chơi séc
quần vợt nào trong trường.
Cụ Brent nói một cách cứng nhắc: “Cảm ơn cô,” rồi khom
người vào một chiếc tắc-xi mà cửa đã được người lái xe mở
sẵn. Thẩm phán Wargrave theo sau cụ.
Đại úy Lombard bèn nói: “Tôi sẽ ở lại đợi với quý cô…”
“Claythorne,” Vera đáp lời.
“Tên tôi là Lombard, Philip Lombard.”
Mấy người khuân đồ lúc này đang xếp hành lý vào xe tắcxi. Bên trong, ông thẩm phán Wargrave nói với vẻ thận trọng
pháp lý đúng mực.
“Thời tiết thật là đẹp làm sao.”
Cụ Brent đáp lời: “Đúng là đẹp thật.”
Một quý ông thật nổi bật, cụ nghĩ. Hoàn toàn khác với
những loại người thường thấy ở những nhà nghỉ gần biển. Rõ
ràng là bà hay cô Oliver gì đó có những mối quan hệ khá tốt.
Ông thẩm phán Wargrave hỏi: “Bà có biết nhiều về nơi này
không?”
“Tôi đã từng đến Cornwall và Torquay, nhưng đây là lần
đầu tiên tôi đặt chân tới Devon.”
Ông thẩm phán nói: “Tôi cũng chưa biết nhiều về nơi này
cho lắm.”
Chiếc tắc-xi bắt đầu lăn bánh.
Người lái chiếc xe tắc-xi thứ hai liền hỏi: “Cô có muốn
ngồi đợi ở phía trong không?”
Vera đáp một cách dứt khoát: “Không hề.”
Đại úy Lombard mỉm cười. Anh nói: “Chỗ bức tường đầy
nắng kia nhìn hấp dẫn hơn. Trừ khi cô muốn vào trong trạm
ga?”
“Không, thực tình. Tôi thấy rất vui vì thoát được khỏi chiếc
tàu chật chội đó.”
Anh trả lời: “Đúng là đi bằng tàu hỏa trong thời tiết như thế
này hơi khó chịu thật.”
Vera đáp kiểu mẫu mực: “Tôi hy vọng nó được lâu, ý tôi là
thời tiết ấy. Cái nắng của nước Anh thật là không thể tin
được.”
Lombard liền hỏi một câu không được độc đáo cho lắm:
“Cô từng đến đây chưa?”
“Chưa, tôi chưa bao giờ tới đây.” Cô mau lẹ nói thêm, với
chủ đích làm rõ vị trí của mình ngay từ đầu. “Tôi thậm chí còn
chưa được gặp bà chủ của mình.”
“Bà chủ của cô ư?”
“Đúng vậy, tôi là thư ký riêng của bà Owen.”
“Ồ, tôi hiểu rồi.” Điệu bộ của anh liền có chút thay đổi.
Giọng anh trở nên thêm chắc chắn - và cởi mở hơn. Anh nói:
“Thế có lạ không?”
Vera cười.
“Ồ, không, tôi không nghĩ vậy. Vì cô thư ký trước của bà ấy
đột nhiên bị ốm và phải nhờ đến một công ty môi giới để tìm
người thay thế và họ đã cử tôi.”
“Ra là vậy. Lỡ đến mà cô không thích công việc đó thì
sao?”
Vera lại cười.
“À, đó chỉ là công việc tạm thời thôi - một công việc trong
kỳ nghỉ. Tôi có việc ổn định ở một trường dành cho các bé gái.
Thực ra thì, tôi cũng khá hồi hộp khi đến Đảo Chiến Binh này.
Có quá nhiều tin trên báo mà. Chẳng phải hòn đảo đó rất thú vị
sao?”
Lombard đáp: “Tôi cũng không rõ. Tôi chưa tới đó bao
giờ.”
“Ồ, thật thế sao? Nhà Owen hẳn rất quan tâm tới nó, tôi
nghĩ vậy. Họ như thế nào? Hãy kể tôi nghe đi.”
Lombard nghĩ: Quái lạ, thế này - đúng ra thì mình đã phải
gặp họ rồi chứ nhỉ, hay sao? Anh đáp nhanh: “Có một con vò
vẽ đang bò trên tay cô kìa. Không - cứ giữ yên như thế.” Đoạn
anh vờ ngập ngừng như thể đúng thế thật. “Được rồi. Nó bay
đi rồi!”
“Ôi, cảm ơn anh. Hè này có nhiều ong quá.”
“Vâng, tôi cho là do cái nóng. Mà chúng ta đang đợi ai nhỉ,
cô biết không?”
“Tôi không biết chút gì cả.”
Một tiếng còi hụ ầm ĩ vang lên từ chiếc xe lửa đang tiến
đến. Lombard nói: “Tàu hỏa đến rồi kìa.”
Một người đàn ông cao ráo ra dáng lính xuất hiện chỗ cánh
cửa nhà ga. Mái tóc bạc của ông được miết xẹp xuống và ông
ta có một hàng ria trắng cắt tỉa gọn gàng.
Người mang hành lý cho ông, có vẻ loạng choạng dưới sức
nặng của chiếc va-li da nặng trịch, hướng về phía Vera và
Lombard.
Vera bước tới với vẻ đáng tin cậy. Cô lên tiếng: “Tôi là thư
ký của bà Owen. Đang có một chiếc xe đợi chúng ta rồi.” Cô
nói thêm, “Còn đây là anh Lombard.”
Đôi mắt người đàn ông sở hữu thứ màu xanh biển nhạt, sắc
bén mặc cho vết thời gian để lại, nhìn Lombard ước chừng.
Trong vài giây, một vẻ phán xét hiện rõ - nếu có ai đó nhận ra
được.
“Nhìn khá điển trai. Nhưng có gì đó không ổn…”
Ba người liền bước lên chiếc xe tắc-xi đợi sẵn. Chiếc xe đi
qua con phố nhỏ yên ắng của Oakbridge và đi tiếp khoảng một
dặm trên đường cái Plymouth, rồi lao vào một mê cung của
những con đường ngoằn ngoèo, dốc, xanh rờn và hẹp. Tướng
Macarthur mở lời: “Tôi không hề biết gì về Devon cả. Tôi ở
bên đông Devon - giáp ngay với Dorset ấy.”
Vera nhìn nhận: “Chỗ này thật là đẹp. Những ngọn đồi với
đất đỏ và tất cả mọi thứ đều xanh, nhìn lại màu mỡ nữa.”
Philip Lombard nhận xét: “Chỉ có điều nó hơi cô lập… Tôi
thích một nơi hướng ngoại hơn. Thế thì mới biết được mọi thứ
diễn ra xung quanh…”
Tướng Macarthur nói với anh: “Chắc cậu cũng có đi vài nơi
trên thế giới rồi chứ?”
Lombard nhún vai khiêm nhường: “Cũng từng đi chỗ này
chỗ khác, thưa ông.”
Anh nghĩ thầm: “Thể nào ông ta cũng hỏi xem mình có đủ
tuổi đi lính hồi trước không cho mà xem. Mấy ông lính già
toàn thế cả.”
Nhưng tướng Macarthur không hề đả động đến cuộc chiến.
Xe đi lên một quả đồi dốc rồi xuống theo lối dích dắc đến
Sticklehaven - chỉ có mỗi vài ngôi lán nhỏ với một hay hai
chiếc thuyền đánh cá nhỏ phơi mình trên bãi biển.
Nhờ ánh sáng hoàng hôn chiếu rọi, lần đầu tiên họ thấy Đảo
Chiến Binh nổi lên giữa biển hướng nam.
Vera thốt lên với vẻ ngạc nhiên: “Ôi, còn xa lắm.”
Cô đã hình dung hòn đảo khác hoàn toàn, gần với bờ, với
chiếc vương miện là một ngôi nhà trắng xinh đẹp. Nhưng từ
đây không thể thấy một ngôi nhà nào, chỉ rõ bóng của mấy
tảng đá nom na ná như một cái đầu khổng lồ. Ở nó toát lên
một vẻ gì đó hiểm trở. Cô khẽ rùng mình.
Bên ngoài nhà khách nhỏ Bảy Sao là ba người đang ngồi.
Bóng lưng gù gù của ông thẩm phán, dáng thẳng thớm của cụ
Brent, và một người thứ ba - một người đàn ông to lớn thô
kệch bước tới và tự giới thiệu: “Chúng tôi nghĩ là nên đợi các
vị,” ông ta nói. “Đi liền một lúc cho tiện. Xin tự giới thiệu.
Tên tôi là Davis. Nơi sinh ư, nơi chôn rau cắt rốn của tôi là
Nam Phi, ha ha!”
Lão bật cười sảng khoái.
Ông thẩm phán Wargrave nhìn lão với ánh mắt lộ rõ sự ác
cảm. Nhìn ông như thể đang muốn yêu cầu cả tòa án phải giải
tán vậy. Cụ Emily Brent thì không chắc liệu mình có thích
mấy dân thuộc địa hay không.
“Có ai muốn làm một nhấp trước khi nhổ neo không?” lão
Davis hỏi một cách hiếu khách.
Không ai hưởng ứng lời đề nghị này, nên lão Davis quay ra
và giơ ngón tay nói.
“Thế thì không nên chậm trễ nữa. Ông chủ và bà chủ tốt
bụng của chúng ta đang chờ.” Lão giục.
Dường như lão Davis đã nhận ra sự kìm nén kỳ lạ bao trùm
lên đoàn khách. Như thể việc nhắc tới ông bà chủ nhà làm mọi
người tê liệt vậy.
Đáp lại cái giơ tay ra hiệu của lão Davis, một người đàn
ông vốn đang dựa lưng vào một bức tường gần đó liền rời chỗ
của mình và tiến đến phía họ. Dáng đi lắc lư của ông như
tuyên bố rằng ông là một người chuyên đi biển. Khuôn mặt
ông ta dãi dầu mưa nắng với đôi mắt đen như đang cố giấu
điều gì. Ông ta cất lên chất giọng nhẹ nhàng của xứ Devon.
“Quý bà và quý ông đã sẵn sàng ra đảo chưa ạ? Thuyền
đang đợi rồi. Còn có hai quý ông nữa đang trên đường tới đây
bằng xe hơi nhưng ngài Owen đã bảo tôi không cần phải đợi
họ, vì họ có thể sẽ đến bất cứ lúc nào.”
Đoàn khách lên thuyền. Người hướng dẫn chỉ cho họ qua
một cái cầu tàu nhỏ bằng đá. Nằm bên cạnh nó là một chiếc
thuyền máy.
Cụ Emily Brent nhìn nhận: “Chiếc thuyền này nhỏ quá.”
Người chủ chiếc thuyền trả lời đầy thuyết phục: “Con
thuyền này rất tốt đó, thưa quý bà. Bà còn có thể đi nó đến
Plymouth chỉ trong chớp mắt.”
Ông thẩm phán Wargrave nói sắc lẻm: “Chúng tôi khá đông
người mà.”
“Nó còn chở được gấp đôi thế này nữa, thưa ông.”
Philip Lombard nói với giọng xoa dịu dễ dãi: “Cũng ổn mà.
Thời tiết quá tốt rồi - không có sóng biển.”
Với vẻ hơi nghi ngờ, cụ Brent để người khác giúp mình lên
thuyền. Những người còn lại thì theo sau. Không khí đoàn
khách như vẫn có chút dè chừng. Như thể mỗi người trong số
họ đều bị lúng túng trước những người còn lại.
Mọi người vừa chuẩn bị khởi hành thì người hướng dẫn đột
ngột dừng lại, với chiếc neo thuyền trong tay.
Cuối con dốc dẫn vào làng có một chiếc xe đang đi tới. Một
chiếc xe mạnh mẽ, tuyệt đẹp tới độ sự xuất hiện của nó không
khác nào một bóng ma. Ngồi sau vô-lăng là một người đàn
ông trẻ, mái tóc nâu hất ngược vì gió. Trong ánh chiều anh ta
giống hệt một vị thần trẻ, chứ không còn là một người đàn ông
nữa, một vị thần anh hùng nào đó bước ra từ thần thoại
phương Bắc.
Anh ta nhấn còi và một tiếng kêu vang dội vọng lại từ
những phiến đá trên vịnh.
Đó là một giây phút phi thường. Trong giây lát ấy, Anthony
Marston có vẻ như bất tử. Kể từ đó có tới hơn một người trong
đoàn khách nhớ tới khoảnh khắc ấy.
Fred Narracott ngồi bên động cơ mà nghĩ về đoàn khách kỳ
cục này.
Chẳng hề giống như ông tưởng tượng về đám khách khứa
của nhà Owen chút nào. Ông đã mong đợi một đoàn khách
toàn những người sang trọng. Những quý bà váy áo là lượt và
những quý ông trong bộ trang phục du thuyền với vẻ giàu có
và quan trọng.
Chẳng bù cho đám khách của ông Elmer Robson. Một nụ
cười mờ nhạt hiện trên miệng Fred Narracott khi ông nhớ đến
đám khách của tay triệu ph...
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Đoạn kết
Mười tên lính nhỏ đi ăn;
Một tên chết nghẹn,
giờ còn chín tên.
Chín tên thức muộn trong đêm;
Một quên không dậy,
tám tên ngậm ngùi.
Devon du thuyền chúng chơi;
Một tên nằm lại,
bảy thời ra đi.
Bảy tên bổ củi làm chi;
Bổ đôi một đứa,
sáu tên muộn phiền.
Sáu đem tổ ong ra nghiền;
Một ong đốt chết,
còn năm sững sờ.
Đến tòa năm đứa kia chờ;
Một vào Thượng thẩm,
bốn ra biển ngồi
Bốn tên cùng ra biển trời;
Trích đỏ nuốt một,
giờ còn lại ba
Vườn thú ba đứa la cà;
Gấu to vồ một,
còn hai vẹn toàn.
Hai tên đi dưới nắng vàng;
Một khô cong chết,
một tên bơ phờ.
Còn tên lính nhỏ thẫn thờ
Hắn đi treo cổ
mình lên trần nhà.
Và rồi chẳng còn một ai.
FRANK GREEN, 1869.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Chương 1
Ở góc toa hút thuốc hạng nhất là ngài thẩm phán Wargrave,
người gần đây đã rời chức về hưu. Ông vừa bập một hơi xì gà
vừa đảo qua mục tin chính trị của thời báo Times với ánh mắt
lộ rõ vẻ thích thú.
Để tờ báo xuống, ông đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Lúc này tàu
đã qua Somerset. Ông nhìn chiếc đồng hồ đeo tay - vẫn còn
hai tiếng nữa.
Ông điểm lại trong đầu tất cả những gì liên quan tới Đảo
Chiến Binh được đăng trên báo chí. Đầu tiên là tin một tay
triệu phú người Mỹ say mê du thuyền đã mua đảo, rồi đến một
bài viết miêu tả căn biệt thự xa xỉ tân thời mà hắn xây trên đó,
ngoài khơi vịnh Devon. Chẳng may cô vợ ba mới cưới của tay
triệu phú nọ lại sợ đi thuyền, thế nên mới dẫn tới việc cả cơ
ngơi lẫn hòn đảo nọ bị rao bán. Một loạt quảng cáo rùm beng
về hòn đảo liền xuất hiện trên báo. Rồi sau đó có một lời xác
nhận khô khan rằng cả chỗ đó đã được một quý ngài tên Owen
mua lại. Tiếp đến là một loạt tin đồn được những tay ký giả
báo lá cải truyền đi. Đảo Chiến Binh thực ra được mua lại bởi
một quý cô tên là Gabrielle Turl, một ngôi sao Hollywood! Cô
ta muốn lui về đó vài tháng để thoát khỏi sự săm soi của công
chúng. Tờ báo Con ong bận bịu thì lại khéo léo ám chỉ rằng
chỗ đó dành cho giới Hoàng gia cư trú??! Tờ báo Quý ông
Merryweather thì được rỉ tai là chỗ đó được mua lại cho tuần
trăng mật - ngài Bá tước trẻ tên L - cuối cùng cũng phải chịu
đầu hàng Thần tình yêu! Còn tờ Jonas thì biết chắc rằng nơi
đó đã được Hải quân Anh mua lại nhằm thực hiện những thí
nghiệm vô cùng bí mật.
Chuyện Đảo Chiến Binh chiếm lĩnh mục tin tức đã rõ như
ban ngày!
Ngài thẩm phán Wargrave rút từ túi áo ra một lá thư. Nét
chữ gần như không ai đọc nổi, chỉ trừ vài cụm từ ở chỗ này
chỗ nọ là nổi bật rõ ràng đến bất ngờ. Lawrence thân mến… đã
quá lâu rồi tôi không nhận được tin tức từ ông… phải đến Đảo
Chiến Binh bằng được… một nơi đầy mê hoặc… nhiều điều để
nói… những ngày xưa cũ… hòa mình vào thiên nhiên… tắm
mình trong ánh mặt trời… 12:40 từ Paddington… gặp ông ở
Oakbridge… và người gửi thư đã kết lại với một chữ ký bắt
mắt: Mãi mãi thương mến, Constance Culmington.
Thẩm phán Wargrave mò lại trong trí nhớ của mình lần
cuối cùng ông gặp quý cô Constance Culmington. Chắc là đã
bảy - không, tám năm về trước. Lúc ấy cô đang ở Ý để hưởng
ánh nắng mặt trời và giao hòa với thiên nhiên cùng những
người nông dân Ý. Về sau, ông nghe nói cô đã tới Syria, nơi
mà cô được tắm trong cái nắng còn gay gắt hơn, và sống với
thiên nhiên cùng những người du mục.
Ông ngẫm nghĩ, Constance Culmington đích thị là loại phụ
nữ có thể đi mua một hòn đảo rồi thêu dệt nên những điều kỳ
bí xung quanh mình! Gật đầu nhè nhẹ tán thưởng với lối suy
luận logic của mình, ông thẩm phán Wargrave mặc cho đầu
mình gục xuống…
Và ông ngủ thiếp đi…
Trong một toa khách hạng ba cùng năm hành khách khác là
Vera Claythorne, lúc này cô đang ngả đầu ra sau với đôi mắt
nhắm nghiền. Đi tàu hỏa vào một ngày như thế này mới nóng
nực làm sao! Cũng thật tuyệt khi được đi ra biển! Mà cũng
may mắn lắm cô mới có được công việc này. Cứ khi nào cô
muốn có một kỳ nghỉ thì hầu như luôn đồng nghĩa với việc
phải đi trông nom một bầy trẻ con - mà kỳ nghỉ của một thư ký
còn khó kiếm hơn nữa. Thậm chí cả cơ quan môi giới cũng
chẳng đem lại nhiều hy vọng.
Và rồi lá thư đó tới.
Tôi đã nhận được lời giới thiệu về cô thông qua hãng môi
giới Phụ nữ tài giỏi. Tôi cũng hiểu rằng họ có biết cô từ
trước. Và tôi cũng rất thoải mái về mức lương cô yêu
cầu. Rất mong cô tới bắt đầu công việc này vào ngày 8
tháng Tám. Chuyến tàu sẽ khởi hành lúc 12:40 từ ga
Paddington và cô sẽ được đón tại ga Oakbridge. Tôi
cũng kèm theo đây năm tờ một bảng cho khoản chi phí.
Thân ái,
Una Nancy Owen
Và ở góc trên cùng là địa chỉ đính kèm tem thư, Đảo Chiến
Binh, Sticklehaven, Devon…
Đảo Chiến Binh! Chà, mấy ngày nay chẳng có gì ngoài tin
đó trên báo! Đủ các thể loại manh mối và những lời đồn hấp
dẫn. Mặc dù có khi phần lớn số đó là bịa đặt. Nhưng chắc chắn
là căn nhà đã được một tay triệu phú xây nên và được ví như
là tận cùng của sự xa xỉ.
Mệt mỏi vì một học kỳ đầy căng thẳng vừa qua ở trường,
Vera Claythorne tự nhủ: “Làm một cô chủ trò ở một trường
học hạng ba thật chẳng lợi lộc gì… Giá mình có được việc làm
ở một trường học tử tế nào đó.”
Và rồi, một cảm giác lãnh lẽo phủ lấy tim cô, cô nghĩ:
“Nhưng cũng may lắm mình mới có được việc này. Nói cho
cùng, cũng chẳng ai thích cái tiếng bị điều tra, kể cả viên điều
tra có cho mình trắng án đi nữa!”
Cô nhớ là ông ta thậm chí còn khen ngợi cô vì sự bình tĩnh
và lòng dũng cảm. Với một cuộc điều tra thì như vậy là tốt lắm
rồi. Và bà Hamilton cũng đối xử rất tốt với cô - chỉ có Hugo nhưng cô sẽ không nhớ tới Hugo nữa!
Bỗng nhiên, người cô run lên bất chấp cái nóng bức trong
toa tàu và cô ước gì mình không phải đi ra biển. Hình ảnh ấy
lại hiện rõ trong tâm trí cô. Đầu của Cyril, nhấp nhô lên
xuống, cố bơi ra chỗ tảng đá… Lên xuống - lên xuống… Và cô
nữa, bơi những sải dễ dàng điêu luyện ở phía sau - rẽ mình qua
làn nước trong lúc cô biết, quá đỗi chắc chắn, rằng cô sẽ
không tới kịp…
Biển - với màu xanh sâu thẳm ấm áp của nó - những buổi
sáng nằm dài trên bãi biển - Hugo - Hugo, người từng nói yêu
cô…
Cô không được nghĩ tới Hugo nữa…
Cô mở mắt và cau mày xem xét người đàn ông ngồi đối
diện. Đó là một người đàn ông cao lớn với khuôn mặt ngăm
nâu, đôi mắt sáng màu hơi gần nhau và một vẻ ngạo mạn, gần
như độc ác nơi khóe miệng.
Cô thầm nghĩ: 'Hẳn là anh ta đã từng đến những nơi hay ho
trên thế giới và đã chứng kiến nhiều thứ thú vị…'
Chỉ với một lần liếc mắt nhanh như chớp, Philip Lombard đã
có thể đưa ra kết luận về cô gái ngồi đối diện và tự nhủ: 'Khá
hấp dẫn - có vẻ một cô giáo dạy học đây.'
Một khách hàng điềm tĩnh, anh tiếp tục đoán - và là một
người luôn làm chủ tình thế - dù trong tình trường hay chiến
trường. Anh thà khiêu chiến với cô ta còn hơn…
Anh cau mày. Không, phải dừng ngay mấy thứ đó. Đây là
chuyện làm ăn. Anh phải tập trung vào công việc của mình.
Mà chính xác thì là việc gì cơ chứ, anh thắc mắc? Cái tên
Do Thái nhỏ thó đó tỏ vẻ rõ là bí hiểm.
“Anh cầm lấy mà không thì thôi, đại úy Lombard.”
Anh trầm ngâm nói: “Một trăm đồng gui-nê, hử?”
Anh nói với cái giọng bình thường như thể một trăm gui-nê
chẳng hề quan trọng mấy với mình. Một trăm gui-nê trong lúc
anh chỉ còn đủ tiền cho đúng một bữa tử tế cuối cùng! Dù vậy,
anh chắc mẩm rằng tên Do Thái nhỏ thó nọ chẳng hề bị anh
qua mặt - đó chính là thứ đáng ghét nhất về dân Do Thái,
chẳng ai lừa được chúng trong chuyện tiền nong bao giờ chúng biết hết cả!
Giữ giọng bình thường, anh tiếp: “Và ông không thể cho tôi
biết thêm gì hết sao?”
Isaac Morris lắc cái đầu nhẵn nhụi của lão một cách tự tin.
“Không, thưa đại úy Lombard, mọi thứ chỉ có vậy. Ông chủ tôi
biết rõ rằng ngài có tiếng giỏi xoay xở trong tình thế khó khăn.
Tôi được giao việc gửi lại cho ngài một trăm đồng gui-nê và
bù lại ngài sẽ đến Sticklehaven, ở Devon. Ga gần đây nhất là
Oakbridge, sẽ có người đợi ở đó để đưa ngài đến Sticklehaven
và ngài sẽ tới Đảo Chiến Binh bằng thuyền máy. Chủ nhân của
tôi sẽ tiếp đón ngài tại đó.”
Lombard đột ngột ngắt lời: “Tôi phải ở đó trong bao lâu?”
“Khoảng một tuần là cùng.”
Vân vê hàng ria của mình, đại úy Lombard nói: “Ông hiểu
là tôi sẽ không làm điều gì - bất hợp pháp chứ?” Vừa nói anh
vừa ném một ánh nhìn sắc lẻm về phía đối diện. Một thoáng
cười mỉm lướt qua khóe miệng đặc trưng Do Thái của lão
Morris khi lão nghiêm trang trả lời: “Nếu có bất cứ điều gì bất
hợp pháp, tất nhiên ngài hoàn toàn có quyền từ chối.”
Lão già nhỏ thó khốn kiếp, cười với lại cợt! Cứ như thể lão
đã biết tỏng Lombard trước đây vốn chẳng coi pháp luật ra gì.
Miệng Lombard khẽ mở ra một cái nhếch mép.
Ờ đấy, anh cũng đã có một đôi lần phạm pháp! Nhưng mọi
việc rồi đều êm xuôi cả! Chẳng việc gì mà anh phải giới hạn
bản thân hết…
Không, anh chẳng cần biết đến giới hạn nào sất. Anh bắt
đầu hình dung đến cái cảnh tận hưởng vui thú trên Đảo Chiến
Binh ra sao…
Trong một toa dành cho người không hút thuốc, cụ bà Emily
Brent đang ngồi thẳng thớm như thường lệ. Cụ đã sáu mươi
lăm tuổi và cụ không hề chấp thuận tác phong uể oải. Cha của
cụ, một Đại tá thuộc lớp người đi trước, từng rất chú trọng về
phong thái nói chung.
Lớp trẻ ngày nay thì lại dễ dãi một cách đáng xấu hổ - từ
điệu bộ cho đến tất tần tật mọi việc khác…
Được bao bọc trong vầng hào quang của sự chỉn chu và
những nguyên tắc bất di bất dịch, cụ Brent ngồi trong toa
khách hạng ba chật chội và đánh bại cái nóng nực cũng như sự
bất tiện mà nó mang lại. Thiên hạ ngày nay thì rối rít loạn xị
lên vì toàn những chuyện không đâu! Nào là muốn tiêm thuốc
tê trước khi nhổ răng - nào là uống thuốc ngủ nếu chẳng may
mất ngủ - họ muốn những chiếc ghế bành thoải mái với gối
đệm và lũ con gái thì xõa xượi nằm thượt ra đến hở cả nửa
người ở những bãi biển hè.
Cụ Brent mím chặt môi. Cụ như muốn nhớ lại một vài cá
nhân tiêu biểu làm ví dụ.
Cụ nhớ lại kỳ nghỉ hè năm ngoái. Dù thế, năm nay sẽ khác
hoàn toàn. Đảo Chiến Binh…
Cụ rà lại bức thư mà cụ đã đọc đi đọc lại nhiều lần trong
đầu.
Kính gửi bà Brent,
Mong là bà vẫn chưa quên tôi chứ? Chúng ta đã gặp
nhau ở nhà nghỉ Belhaven một ngày tháng Tám mấy năm
về trước, và thật có duyên khi chúng ta có nhiều điểm
chung.
Tôi cũng đang mở một nhà khách của riêng mình tại
đây, trên một hòn đảo ngoài khơi vịnh Devon. Thiết nghĩ
sẽ thật là dễ chịu khi có một nơi như thế này, với thức ăn
ngon lành và một người đáng kính ghé thăm. Sẽ không có
cảnh khỏa thân hay cái loa nhạc nào vào nửa đêm nữa.
Tôi rất lấy làm hân hạnh nếu bà có thể thu xếp được và
đến đây vào kỳ nghỉ hè, tại Đảo Chiến Binh - hoàn toàn
miễn phí - như một vị khách của tôi. Liệu đầu tháng Tám
có thích hợp với bà không? Có lẽ là ngày mùng 8 chăng?
Thân mến,
U.N.O
Tên gì kia nhỉ? Chữ ký hơi khó nhìn. Cụ Emily Brent nôn
nóng nghĩ: “Nhiều người có chữ ký không thể nhìn nổi.”
Cụ cố tua lại những người cụ đã gặp ở Belhaven trong óc.
Cụ từng ở đó trong hai mùa hè liên tiếp. Có một người phụ nữ
trung niên nào đó rất tốt - bà - bà - ôi bà ta tên gì vậy nhỉ? Cha
của bà ấy từng là một vị linh mục. Và còn một bà Olton Ormen - không, chắc chắn là Oliver! Đúng rồi - là Oliver.
Đảo Chiến Binh! Có biết bao nhiêu là tin báo đưa về Đảo
Chiến Binh rồi - tin gì đó về một ngôi sao điện ảnh - hay là
một tay triệu phú người Mỹ vậy nhỉ?
Tất nhiên là những nơi như vậy thường bị bán giá rẻ những hòn đảo đâu có hợp gu tất cả mọi người. Thiên hạ nghĩ
rằng nó lãng mạn nhưng đến khi ở đó thì họ lại nhận ra chỉ có
mỗi sự bất tiện và rồi lại sẵn lòng rao bán.
Cụ Emily Brent thầm nhủ: “Gì thì gì mình vẫn sẽ có được
một kỳ nghỉ miễn phí ở đó.”
Với số tiền lương ngày càng giảm và bao nhiêu cổ tức chưa
được trả hết, thì dịp này rất đáng để suy xét. Chỉ ước gì cụ có
thể nhớ thêm đôi chút về bà - hay cô - Oliver kia?
Tướng Macarthur nhìn ra ngoài cửa sổ toa xe lửa. Tàu vừa tới
địa phận hạt Exeter, nơi ông cần đổi chuyến. Thật đáng
nguyền rủa, mấy cái xe lửa chậm lề mề này! Cái Đảo Chiến
Binh đó, tính theo đường chim bay thì lấy gì làm xa cơ chứ.
Ông còn đang lờ mờ về cái tên Owen nọ. Hình như là một
người bạn của Spoof Leggard - và của Johnnie Dyer.
“- Một, hai người bạn nối khố của ông cũng đang trên
đường tới - để ôn lại kỷ niệm xưa.”
Chà, ông lấy làm thích thú khi trò chuyện về quá khứ. Gần
đây ông còn có cảm giác như thể đám bạn cũ đang cố tình lánh
mặt mình vậy. Tất cả là vì cái tin đồn nhố nhăng ấy! Thề có
đấng tối cao, mọi chuyện đã quá nặng nề - đã gần ba mươi
năm rồi! Chắc là cái thằng Armitage đã phun ra. Thằng ranh
khốn kiếp! Thằng nhãi đó biết cái gì cơ chứ? Ờ thì cũng chẳng
mấy tốt lành gì khi cứ nghĩ đi nghĩ lại mấy cái chuyện này!
Người ta cũng thi thoảng tưởng tượng ra các thứ - như việc có
một tên đang nhìn mình chằm chằm chẳng hạn.
Hòn Đảo Chiến Binh này, chà, ông rất muốn được thấy nó.
Đã có quá nhiều tin đồn thổi rồi. Hình như còn có cái lời đồn
gì đó về việc Hải quân Anh hay Bộ Quốc phòng hay Không
quân đã nắm quyền sở hữu hòn đảo.
Tay triệu phú trẻ người Mỹ nọ, Elmer Robson, mới thực là
người xây ngôi nhà. Cả hàng ngàn đô-la, thiên hạ đồn vậy.
Toàn xa xỉ trần tục…
Exeter! Còn những một tiếng nữa! Mà ông thì không muốn
phải chờ đợi. Ông muốn đi tiếp luôn…
Bác sĩ Armstrong còn đang lái chiếc xe hiệu Morris qua vùng
đồng bằng Salisbury. Ông đang rất mệt mỏi… Thành công
cũng có giá của nó. Còn nhớ cái thời ông phải ngồi trong văn
phòng tư vấn trên phố Harley, ăn mặc chỉnh tề, vây quanh toàn
là những thứ máy móc hiện đại nhất với đồ nội thất đắt tiền
nhất và ông chờ đợi - ông chờ cho qua những ngày tháng trống
rỗng để đến cái ngày mạo hiểm đổi lấy thành công hoặc thất
bại…
Cuối cùng thì cũng thành công! Ông đã gặp may! Tất nhiên
là may mắn cộng thêm cái tài của ông nữa. Ông là một người
lành nghề - nhưng thế chưa đủ để thành đạt. Người ta cần có
cả vận may nữa. Và ông đã có nó! Một chẩn đoán chính xác,
một vài bà bệnh nhân cũ mang ơn mình - loại phụ nữ có tiền
có thế - và thế là tin tức bay xa. “Bà thử gặp ông Armstrong
xem - một người đàn ông khá trẻ - nhưng rất thông minh những năm qua Pam đã gặp đủ mọi loại người và ông sẽ giải
quyết mọi vấn đề ngay tức khắc!” Mọi chuyện đã diễn ra như
thế.
Và giờ thì bác sĩ Armstrong chắc chắn đã đến đích. Ngày
làm việc bận kín lịch, ông ít khi có thì giờ rảnh rang. Và thế là,
vào buổi sáng tháng Tám ấy, ông cảm thấy vui mừng vì được
rời khỏi London để tận hưởng vài ngày nghỉ trên hòn đảo
ngoài khơi Devon kia. Mà cũng chẳng phải là kỳ nghỉ gì cho
cam. Bức thư mà ông nhận được khá tối nghĩa về khoản nội
dung, nhưng chẳng có gì là không rõ ràng về tờ séc kèm theo
hết. Một khoản tiền khổng lồ. Nhà Owen nọ chắc phải bơi
trong tiền. Nhưng cũng có vẻ hơi khó nhằn, một ông chồng lo
lắng cho sức khỏe của bà vợ và muốn có một bản báo cáo tình
trạng sức khỏe của bà ta miễn sao bà ấy không hay biết. Rốt
cuộc bà vợ kia sẽ không hề biết là có một bác sĩ tới khám.
Thần kinh của bà ta…
Lại thần kinh nữa! Đôi mày của ông bác sĩ nhướn lên.
Đúng là đàn bà và thần kinh của họ! Thì, nó cũng chỉ tốt cho
chuyện làm ăn thôi. Đến nửa số phụ nữ đến gặp ông để tư vấn
chẳng bị làm sao ngoài chứng chán chường, nhưng họ cũng
chẳng mấy cảm kích khi nghe nói vậy đâu! Và thế là lại phải
tìm ra một cái gì đó khác.
“Một tình trạng hơi bất thường của (một từ dài ngoằng nào
đó) nhưng chẳng có gì nghiêm trọng - chỉ cần làm đúng là
được. Một phương pháp chữa trị đơn giản thôi.”
Thực tình, thuốc men hầu hết cũng là thứ tạo niềm tin cho
người ta. Và ông lại có một cách cư xử đàng hoàng - ông có
thể gây niềm tin và gieo hy vọng.
May mắn thay ông cũng đã bình tĩnh lại sau cái chuyện
mười - không, mười lăm năm trước. Xém chút nữa là gay to
rồi! Ông đã đến rụng rời chân tay. Cú sốc đã kéo ông trở lại.
Ông cai hẳn rượu từ đó. Thề có đức Chúa trời, chỉ một chút
nữa thôi là mọi thứ đã kết thúc…
Một tiếng còi với sức tàn phá xé tai phát ra từ một chiếc
siêu xe thể thao Dalmain vừa vượt qua ông với tốc độ tám
mươi dặm một giờ. Bác sĩ Armstrong xém nữa là lao vào hàng
rào bên đường. Lại là mấy thằng ranh con hay phá phách khắp
nơi. Ông ghét cay ghét đắng chúng. Đó cũng lại là một lần
suýt chết. Thằng ranh mất dạy!
Tony Marston, trong lúc phóng xe ầm ầm tới Mere, nghĩ thầm:
“Cái số xe hơi lết trên đường nhiều đến phát kinh lên được.
Lúc nào cũng có cái gì đó ngáng đường. Đã thế lại còn nằm
chềnh ềnh giữa đường nữa chứ! Dù gì thì lái xe ở Anh cũng
thật đáng nản… không như ở Pháp, anh có thể phóng thoải
mái…”
Có nên dừng lại làm ly rượu không nhỉ, hay phóng tiếp?
Còn một đống thời gian mà! Chỉ còn có hơn một trăm dặm
chút xíu. Anh sẽ mua rượu gin và ít bia gừng uống. Ngày gì
mà nóng chảy cả mỡ!
Chắc trên cái đảo đó cũng có mấy thứ hay ho - nếu thời tiết
đẹp lâu. Mà mấy người nhà Owen này là ai, anh thắc mắc?
Chắc giàu nứt đố đổ vách. Tay bán hàng rất rành đánh hơi
chuyện mấy người như thế. Tất nhiên, lão phải làm vậy, tội
nghiệp lão, còn chẳng có một xu dính túi…
Hy vọng họ sẽ đãi khách với rượu ngon. Chẳng biết đâu mà
lần với mấy tên tự làm ra tiền chứ không phải đẻ ra đã có tiền.
Đáng tiếc là mẩu tin Gabriella Turl mua Đảo Chiến Binh lại
không đúng. Anh thích được giao du với đám diễn viên nổi
tiếng hơn.
Đành thôi, chắc ở đó cũng phải có mấy em chứ…
Bước ra khỏi khách sạn, anh vươn vai, ngáp một cái, ngước
nhìn bầu trời xanh trên cao và trèo vào chiếc xe Dalmain.
Phải đến vài cô gái nhìn anh đầy ngưỡng mộ - thân hình
cân đối cao một mét tám mươi hai, mái tóc óng mượt, khuôn
mặt rám nắng, và đôi mắt xanh biếc vô cùng.
Anh nhấn ga rồ máy rồi lướt qua con phố hẹp. Người già và
mấy đứa bé bán rong phải nhảy dựng lên tránh cho an toàn.
Bọn trẻ thì dõi theo với ánh mắt hâm mộ.
Anthony Marston đắc thắng tiếp tục cuộc hành trình của
mình.
Ông Blore lúc này đang trong một chuyến tàu chậm chạp đến
Plymouth. Ngoài ông ra chỉ còn một người nữa trong toa tàu,
một cụ già từng đi biển với đôi mắt lèm nhèm. Hiện cụ già đã
ngủ gật.
Ông Blore đang cẩn thận ghi chép vào quyển sổ nhỏ.
“Thế là đủ,” ông lẩm bẩm. “Emily Brent, Vera Claythorne,
bác sĩ Armstrong, Anthony Marston, ông già thẩm phán
Wargrave, Philip Lombard, tướng Macarthur, C.M.G., D.S.O.
Người quản gia và vợ ông ta: ông bà Rogers.”
Ông gập quyển sổ lại rồi đút nó vào túi. Ông liếc nhìn phía
góc toa tàu và người đàn ông đang ngủ.
“Có một trong tám rồi này,” ông Blore thẩm định một cách
chính xác.
Ông nhẩm lại mọi thứ trong đầu một cách cẩn thận đầy
lương tâm.
“Công việc chắc chẳng mấy khó khăn.” Ông nghiền ngẫm.
“Khó mà vuột tay vụ này được. Hy vọng nhìn mình không đến
nỗi nào.”
Nghĩ rồi người đàn ông đứng dậy, lo lắng soi mình qua tấm
kính. Khuôn mặt phản chiếu trong gương có vẻ đặc trưng của
lính với hàng ria mép. Chẳng có mấy biểu cảm ở gương mặt
ấy. Đôi mắt xám lạnh và hơi gần nhau.
“Có thể là một thiếu tá,” ông Blore nói. “Không, mình quên
béng. Có một lão già ở đó cũng từng trong quân đội. Lão sẽ
nhận ra mình ngay.”
“Nam Phi,” ông Blore thốt lên. “Phải rồi! Chẳng một ai
trong số đó có bất cứ mối liên hệ nào với Nam Phi, và mình
vừa đọc mẩu tin du lịch kia nên có thể nói trôi chảy được.”
Cũng thật may là có đủ loại thuộc địa trên đời. Và một
người trở về từ Nam Phi như ông Blore cảm thấy mình có thể
hòa nhập với bất cứ giai tầng nào chẳng chút khó khăn.
Đảo Chiến Binh. Ông nhớ nó từ khi còn là một đứa bé con.
Đủ loại đá nhuốm vị biển vây quanh bởi hải âu - nằm cách bờ
biển khoảng một dặm.
Thật là một ý tưởng nực cười khi đến đó xây nhà! Thời tiết
ở đó mới tệ làm sao! Nhưng mấy tay triệu phú cũng nhiều khi
bốc đồng!
Cụ già ở trong góc lúc này đã tỉnh dậy và nói: “Chẳng bao
giờ lường trước được biển cả đâu - không bao giờ hết!”
Ông Blore nói dỗ dành: “Đúng thế. Không ai lường được.”
Cụ già nấc lên hai lần, tỏ ra rầu rĩ: “Sắp có cơn cớ đây.”
Ông Blore nhẹ nhàng chỉnh lại: “Đâu, không phải đâu cụ
ơi, hôm nay đẹp trời mà.”
Cụ già giận dữ: “Có một cơn giông mà. Tôi có thể ngửi
được nó.”
“Chắc cụ nói đúng.” Ông Blore nói hòa giải.
Đoàn tàu dừng lại ở một trạm ga và cụ già loạng choạng
đứng dậy.
“Tới nơi tôi xuống rồi.” Cụ quờ tay phải ô cửa sổ. Ông
Blore bèn giúp cụ.
Cụ già đứng nơi cánh cửa, giơ bàn tay chào trang nghiêm
và chớp chớp đôi mắt kèm nhèm của cụ.
“Hãy cẩn trọng và cầu nguyện,” cụ nhắc nhở. “Cẩn trọng và
cầu nguyện. Ngày xét xử cuối cùng đã cận kề rồi.”
Cụ nhào người khỏi cánh cửa ngã xuống nền sân ga. Vẫn tư
thế nằm như vậy, cụ ngước mắt nhìn ông Blore và nói với
giọng vô cùng trịnh trọng: “Tôi đang nói về anh đó, chàng trai
trẻ ạ. Ngày phán xử cuối cùng đến gần rồi.”
Ngồi lặng thinh nơi chỗ ngồi của mình, ông Blore thầm
nhủ: Lão còn gần ngày tận thế hơn mình ấy chứ!
Nhưng, kỳ thực mà nói, ông ta đã lầm…
Chương 2
Đứng ngoài ga Oakbridge lúc này là một nhóm người có vẻ
phân vân giây lát. Phía sau họ là người khuân vác đồ với đống
hành lý. Một trong số đó gọi: “Jim!”
Một người lái xe tắc-xi bước đến.
“Mọi người đến Đảo Chiến Binh phải không ạ?” Anh ta hỏi
với giọng Devon nhè nhẹ. Có bốn giọng trả lời - và gần như
ngay lập tức họ quay ra nhìn nhau vẻ giấu giếm.
Người lái xe trả lời, quay sang ngài thẩm phán Wargrave vì
ông là một người cao tuổi trong nhóm: “Ở đây có hai chiếc xe,
thưa ông. Một chiếc lại phải đợi chuyến tàu chậm từ ga Exeter
- chỉ năm phút thôi - vì có một quý ông đang trên chuyến đó.
Có lẽ một người trong số các vị không thấy phiền nếu phải đợi
chứ? Như thế mọi người sẽ được thoải mái hơn.”
Vera Claythorne, với ý thức rõ ràng về vị trí thư ký của
mình, cất tiếng ngay.
“Tôi sẽ đợi,” cô cho biết, “nếu mọi người đều muốn đi
ngay?” Cô nhìn ba người còn lại, cái nhìn và giọng nói của cô
có chút gì đó như ra lệnh do cô đã quen lối ra oai trong nghề
của mình. Có thể cô đã từng chỉ đạo cho lũ trẻ được chơi séc
quần vợt nào trong trường.
Cụ Brent nói một cách cứng nhắc: “Cảm ơn cô,” rồi khom
người vào một chiếc tắc-xi mà cửa đã được người lái xe mở
sẵn. Thẩm phán Wargrave theo sau cụ.
Đại úy Lombard bèn nói: “Tôi sẽ ở lại đợi với quý cô…”
“Claythorne,” Vera đáp lời.
“Tên tôi là Lombard, Philip Lombard.”
Mấy người khuân đồ lúc này đang xếp hành lý vào xe tắcxi. Bên trong, ông thẩm phán Wargrave nói với vẻ thận trọng
pháp lý đúng mực.
“Thời tiết thật là đẹp làm sao.”
Cụ Brent đáp lời: “Đúng là đẹp thật.”
Một quý ông thật nổi bật, cụ nghĩ. Hoàn toàn khác với
những loại người thường thấy ở những nhà nghỉ gần biển. Rõ
ràng là bà hay cô Oliver gì đó có những mối quan hệ khá tốt.
Ông thẩm phán Wargrave hỏi: “Bà có biết nhiều về nơi này
không?”
“Tôi đã từng đến Cornwall và Torquay, nhưng đây là lần
đầu tiên tôi đặt chân tới Devon.”
Ông thẩm phán nói: “Tôi cũng chưa biết nhiều về nơi này
cho lắm.”
Chiếc tắc-xi bắt đầu lăn bánh.
Người lái chiếc xe tắc-xi thứ hai liền hỏi: “Cô có muốn
ngồi đợi ở phía trong không?”
Vera đáp một cách dứt khoát: “Không hề.”
Đại úy Lombard mỉm cười. Anh nói: “Chỗ bức tường đầy
nắng kia nhìn hấp dẫn hơn. Trừ khi cô muốn vào trong trạm
ga?”
“Không, thực tình. Tôi thấy rất vui vì thoát được khỏi chiếc
tàu chật chội đó.”
Anh trả lời: “Đúng là đi bằng tàu hỏa trong thời tiết như thế
này hơi khó chịu thật.”
Vera đáp kiểu mẫu mực: “Tôi hy vọng nó được lâu, ý tôi là
thời tiết ấy. Cái nắng của nước Anh thật là không thể tin
được.”
Lombard liền hỏi một câu không được độc đáo cho lắm:
“Cô từng đến đây chưa?”
“Chưa, tôi chưa bao giờ tới đây.” Cô mau lẹ nói thêm, với
chủ đích làm rõ vị trí của mình ngay từ đầu. “Tôi thậm chí còn
chưa được gặp bà chủ của mình.”
“Bà chủ của cô ư?”
“Đúng vậy, tôi là thư ký riêng của bà Owen.”
“Ồ, tôi hiểu rồi.” Điệu bộ của anh liền có chút thay đổi.
Giọng anh trở nên thêm chắc chắn - và cởi mở hơn. Anh nói:
“Thế có lạ không?”
Vera cười.
“Ồ, không, tôi không nghĩ vậy. Vì cô thư ký trước của bà ấy
đột nhiên bị ốm và phải nhờ đến một công ty môi giới để tìm
người thay thế và họ đã cử tôi.”
“Ra là vậy. Lỡ đến mà cô không thích công việc đó thì
sao?”
Vera lại cười.
“À, đó chỉ là công việc tạm thời thôi - một công việc trong
kỳ nghỉ. Tôi có việc ổn định ở một trường dành cho các bé gái.
Thực ra thì, tôi cũng khá hồi hộp khi đến Đảo Chiến Binh này.
Có quá nhiều tin trên báo mà. Chẳng phải hòn đảo đó rất thú vị
sao?”
Lombard đáp: “Tôi cũng không rõ. Tôi chưa tới đó bao
giờ.”
“Ồ, thật thế sao? Nhà Owen hẳn rất quan tâm tới nó, tôi
nghĩ vậy. Họ như thế nào? Hãy kể tôi nghe đi.”
Lombard nghĩ: Quái lạ, thế này - đúng ra thì mình đã phải
gặp họ rồi chứ nhỉ, hay sao? Anh đáp nhanh: “Có một con vò
vẽ đang bò trên tay cô kìa. Không - cứ giữ yên như thế.” Đoạn
anh vờ ngập ngừng như thể đúng thế thật. “Được rồi. Nó bay
đi rồi!”
“Ôi, cảm ơn anh. Hè này có nhiều ong quá.”
“Vâng, tôi cho là do cái nóng. Mà chúng ta đang đợi ai nhỉ,
cô biết không?”
“Tôi không biết chút gì cả.”
Một tiếng còi hụ ầm ĩ vang lên từ chiếc xe lửa đang tiến
đến. Lombard nói: “Tàu hỏa đến rồi kìa.”
Một người đàn ông cao ráo ra dáng lính xuất hiện chỗ cánh
cửa nhà ga. Mái tóc bạc của ông được miết xẹp xuống và ông
ta có một hàng ria trắng cắt tỉa gọn gàng.
Người mang hành lý cho ông, có vẻ loạng choạng dưới sức
nặng của chiếc va-li da nặng trịch, hướng về phía Vera và
Lombard.
Vera bước tới với vẻ đáng tin cậy. Cô lên tiếng: “Tôi là thư
ký của bà Owen. Đang có một chiếc xe đợi chúng ta rồi.” Cô
nói thêm, “Còn đây là anh Lombard.”
Đôi mắt người đàn ông sở hữu thứ màu xanh biển nhạt, sắc
bén mặc cho vết thời gian để lại, nhìn Lombard ước chừng.
Trong vài giây, một vẻ phán xét hiện rõ - nếu có ai đó nhận ra
được.
“Nhìn khá điển trai. Nhưng có gì đó không ổn…”
Ba người liền bước lên chiếc xe tắc-xi đợi sẵn. Chiếc xe đi
qua con phố nhỏ yên ắng của Oakbridge và đi tiếp khoảng một
dặm trên đường cái Plymouth, rồi lao vào một mê cung của
những con đường ngoằn ngoèo, dốc, xanh rờn và hẹp. Tướng
Macarthur mở lời: “Tôi không hề biết gì về Devon cả. Tôi ở
bên đông Devon - giáp ngay với Dorset ấy.”
Vera nhìn nhận: “Chỗ này thật là đẹp. Những ngọn đồi với
đất đỏ và tất cả mọi thứ đều xanh, nhìn lại màu mỡ nữa.”
Philip Lombard nhận xét: “Chỉ có điều nó hơi cô lập… Tôi
thích một nơi hướng ngoại hơn. Thế thì mới biết được mọi thứ
diễn ra xung quanh…”
Tướng Macarthur nói với anh: “Chắc cậu cũng có đi vài nơi
trên thế giới rồi chứ?”
Lombard nhún vai khiêm nhường: “Cũng từng đi chỗ này
chỗ khác, thưa ông.”
Anh nghĩ thầm: “Thể nào ông ta cũng hỏi xem mình có đủ
tuổi đi lính hồi trước không cho mà xem. Mấy ông lính già
toàn thế cả.”
Nhưng tướng Macarthur không hề đả động đến cuộc chiến.
Xe đi lên một quả đồi dốc rồi xuống theo lối dích dắc đến
Sticklehaven - chỉ có mỗi vài ngôi lán nhỏ với một hay hai
chiếc thuyền đánh cá nhỏ phơi mình trên bãi biển.
Nhờ ánh sáng hoàng hôn chiếu rọi, lần đầu tiên họ thấy Đảo
Chiến Binh nổi lên giữa biển hướng nam.
Vera thốt lên với vẻ ngạc nhiên: “Ôi, còn xa lắm.”
Cô đã hình dung hòn đảo khác hoàn toàn, gần với bờ, với
chiếc vương miện là một ngôi nhà trắng xinh đẹp. Nhưng từ
đây không thể thấy một ngôi nhà nào, chỉ rõ bóng của mấy
tảng đá nom na ná như một cái đầu khổng lồ. Ở nó toát lên
một vẻ gì đó hiểm trở. Cô khẽ rùng mình.
Bên ngoài nhà khách nhỏ Bảy Sao là ba người đang ngồi.
Bóng lưng gù gù của ông thẩm phán, dáng thẳng thớm của cụ
Brent, và một người thứ ba - một người đàn ông to lớn thô
kệch bước tới và tự giới thiệu: “Chúng tôi nghĩ là nên đợi các
vị,” ông ta nói. “Đi liền một lúc cho tiện. Xin tự giới thiệu.
Tên tôi là Davis. Nơi sinh ư, nơi chôn rau cắt rốn của tôi là
Nam Phi, ha ha!”
Lão bật cười sảng khoái.
Ông thẩm phán Wargrave nhìn lão với ánh mắt lộ rõ sự ác
cảm. Nhìn ông như thể đang muốn yêu cầu cả tòa án phải giải
tán vậy. Cụ Emily Brent thì không chắc liệu mình có thích
mấy dân thuộc địa hay không.
“Có ai muốn làm một nhấp trước khi nhổ neo không?” lão
Davis hỏi một cách hiếu khách.
Không ai hưởng ứng lời đề nghị này, nên lão Davis quay ra
và giơ ngón tay nói.
“Thế thì không nên chậm trễ nữa. Ông chủ và bà chủ tốt
bụng của chúng ta đang chờ.” Lão giục.
Dường như lão Davis đã nhận ra sự kìm nén kỳ lạ bao trùm
lên đoàn khách. Như thể việc nhắc tới ông bà chủ nhà làm mọi
người tê liệt vậy.
Đáp lại cái giơ tay ra hiệu của lão Davis, một người đàn
ông vốn đang dựa lưng vào một bức tường gần đó liền rời chỗ
của mình và tiến đến phía họ. Dáng đi lắc lư của ông như
tuyên bố rằng ông là một người chuyên đi biển. Khuôn mặt
ông ta dãi dầu mưa nắng với đôi mắt đen như đang cố giấu
điều gì. Ông ta cất lên chất giọng nhẹ nhàng của xứ Devon.
“Quý bà và quý ông đã sẵn sàng ra đảo chưa ạ? Thuyền
đang đợi rồi. Còn có hai quý ông nữa đang trên đường tới đây
bằng xe hơi nhưng ngài Owen đã bảo tôi không cần phải đợi
họ, vì họ có thể sẽ đến bất cứ lúc nào.”
Đoàn khách lên thuyền. Người hướng dẫn chỉ cho họ qua
một cái cầu tàu nhỏ bằng đá. Nằm bên cạnh nó là một chiếc
thuyền máy.
Cụ Emily Brent nhìn nhận: “Chiếc thuyền này nhỏ quá.”
Người chủ chiếc thuyền trả lời đầy thuyết phục: “Con
thuyền này rất tốt đó, thưa quý bà. Bà còn có thể đi nó đến
Plymouth chỉ trong chớp mắt.”
Ông thẩm phán Wargrave nói sắc lẻm: “Chúng tôi khá đông
người mà.”
“Nó còn chở được gấp đôi thế này nữa, thưa ông.”
Philip Lombard nói với giọng xoa dịu dễ dãi: “Cũng ổn mà.
Thời tiết quá tốt rồi - không có sóng biển.”
Với vẻ hơi nghi ngờ, cụ Brent để người khác giúp mình lên
thuyền. Những người còn lại thì theo sau. Không khí đoàn
khách như vẫn có chút dè chừng. Như thể mỗi người trong số
họ đều bị lúng túng trước những người còn lại.
Mọi người vừa chuẩn bị khởi hành thì người hướng dẫn đột
ngột dừng lại, với chiếc neo thuyền trong tay.
Cuối con dốc dẫn vào làng có một chiếc xe đang đi tới. Một
chiếc xe mạnh mẽ, tuyệt đẹp tới độ sự xuất hiện của nó không
khác nào một bóng ma. Ngồi sau vô-lăng là một người đàn
ông trẻ, mái tóc nâu hất ngược vì gió. Trong ánh chiều anh ta
giống hệt một vị thần trẻ, chứ không còn là một người đàn ông
nữa, một vị thần anh hùng nào đó bước ra từ thần thoại
phương Bắc.
Anh ta nhấn còi và một tiếng kêu vang dội vọng lại từ
những phiến đá trên vịnh.
Đó là một giây phút phi thường. Trong giây lát ấy, Anthony
Marston có vẻ như bất tử. Kể từ đó có tới hơn một người trong
đoàn khách nhớ tới khoảnh khắc ấy.
Fred Narracott ngồi bên động cơ mà nghĩ về đoàn khách kỳ
cục này.
Chẳng hề giống như ông tưởng tượng về đám khách khứa
của nhà Owen chút nào. Ông đã mong đợi một đoàn khách
toàn những người sang trọng. Những quý bà váy áo là lượt và
những quý ông trong bộ trang phục du thuyền với vẻ giàu có
và quan trọng.
Chẳng bù cho đám khách của ông Elmer Robson. Một nụ
cười mờ nhạt hiện trên miệng Fred Narracott khi ông nhớ đến
đám khách của tay triệu ph...
 





