VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    muoi-nguoi-da-den-nho-1543907090

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 13h:11' 07-03-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9
    Chương 10
    Chương 11
    Chương 12
    Chương 13
    Chương 14
    Chương 15
    Chương 16
    Đoạn kết

    Mười tên lính nhỏ đi ăn;
    Một tên chết nghẹn,
    giờ còn chín tên.
    Chín tên thức muộn trong đêm;
    Một quên không dậy,
    tám tên ngậm ngùi.
    Devon du thuyền chúng chơi;
    Một tên nằm lại,
    bảy thời ra đi.
    Bảy tên bổ củi làm chi;
    Bổ đôi một đứa,
    sáu tên muộn phiền.
    Sáu đem tổ ong ra nghiền;
    Một ong đốt chết,
    còn năm sững sờ.
    Đến tòa năm đứa kia chờ;
    Một vào Thượng thẩm,
    bốn ra biển ngồi
    Bốn tên cùng ra biển trời;
    Trích đỏ nuốt một,
    giờ còn lại ba
    Vườn thú ba đứa la cà;

    Gấu to vồ một,
    còn hai vẹn toàn.
    Hai tên đi dưới nắng vàng;
    Một khô cong chết,
    một tên bơ phờ.
    Còn tên lính nhỏ thẫn thờ
    Hắn đi treo cổ
    mình lên trần nhà.
    Và rồi chẳng còn một ai.
    FRANK GREEN, 1869.
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Chương 1
    Ở góc toa hút thuốc hạng nhất là ngài thẩm phán Wargrave,
    người gần đây đã rời chức về hưu. Ông vừa bập một hơi xì gà
    vừa đảo qua mục tin chính trị của thời báo Times với ánh mắt
    lộ rõ vẻ thích thú.
    Để tờ báo xuống, ông đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Lúc này tàu
    đã qua Somerset. Ông nhìn chiếc đồng hồ đeo tay - vẫn còn
    hai tiếng nữa.
    Ông điểm lại trong đầu tất cả những gì liên quan tới Đảo
    Chiến Binh được đăng trên báo chí. Đầu tiên là tin một tay
    triệu phú người Mỹ say mê du thuyền đã mua đảo, rồi đến một
    bài viết miêu tả căn biệt thự xa xỉ tân thời mà hắn xây trên đó,
    ngoài khơi vịnh Devon. Chẳng may cô vợ ba mới cưới của tay
    triệu phú nọ lại sợ đi thuyền, thế nên mới dẫn tới việc cả cơ
    ngơi lẫn hòn đảo nọ bị rao bán. Một loạt quảng cáo rùm beng
    về hòn đảo liền xuất hiện trên báo. Rồi sau đó có một lời xác
    nhận khô khan rằng cả chỗ đó đã được một quý ngài tên Owen
    mua lại. Tiếp đến là một loạt tin đồn được những tay ký giả
    báo lá cải truyền đi. Đảo Chiến Binh thực ra được mua lại bởi
    một quý cô tên là Gabrielle Turl, một ngôi sao Hollywood! Cô
    ta muốn lui về đó vài tháng để thoát khỏi sự săm soi của công
    chúng. Tờ báo Con ong bận bịu thì lại khéo léo ám chỉ rằng
    chỗ đó dành cho giới Hoàng gia cư trú??! Tờ báo Quý ông
    Merryweather thì được rỉ tai là chỗ đó được mua lại cho tuần
    trăng mật - ngài Bá tước trẻ tên L - cuối cùng cũng phải chịu
    đầu hàng Thần tình yêu! Còn tờ Jonas thì biết chắc rằng nơi
    đó đã được Hải quân Anh mua lại nhằm thực hiện những thí

    nghiệm vô cùng bí mật.
    Chuyện Đảo Chiến Binh chiếm lĩnh mục tin tức đã rõ như
    ban ngày!
    Ngài thẩm phán Wargrave rút từ túi áo ra một lá thư. Nét
    chữ gần như không ai đọc nổi, chỉ trừ vài cụm từ ở chỗ này
    chỗ nọ là nổi bật rõ ràng đến bất ngờ. Lawrence thân mến… đã
    quá lâu rồi tôi không nhận được tin tức từ ông… phải đến Đảo
    Chiến Binh bằng được… một nơi đầy mê hoặc… nhiều điều để
    nói… những ngày xưa cũ… hòa mình vào thiên nhiên… tắm
    mình trong ánh mặt trời… 12:40 từ Paddington… gặp ông ở
    Oakbridge… và người gửi thư đã kết lại với một chữ ký bắt
    mắt: Mãi mãi thương mến, Constance Culmington.
    Thẩm phán Wargrave mò lại trong trí nhớ của mình lần
    cuối cùng ông gặp quý cô Constance Culmington. Chắc là đã
    bảy - không, tám năm về trước. Lúc ấy cô đang ở Ý để hưởng
    ánh nắng mặt trời và giao hòa với thiên nhiên cùng những
    người nông dân Ý. Về sau, ông nghe nói cô đã tới Syria, nơi
    mà cô được tắm trong cái nắng còn gay gắt hơn, và sống với
    thiên nhiên cùng những người du mục.
    Ông ngẫm nghĩ, Constance Culmington đích thị là loại phụ
    nữ có thể đi mua một hòn đảo rồi thêu dệt nên những điều kỳ
    bí xung quanh mình! Gật đầu nhè nhẹ tán thưởng với lối suy
    luận logic của mình, ông thẩm phán Wargrave mặc cho đầu
    mình gục xuống…
    Và ông ngủ thiếp đi…
    Trong một toa khách hạng ba cùng năm hành khách khác là
    Vera Claythorne, lúc này cô đang ngả đầu ra sau với đôi mắt

    nhắm nghiền. Đi tàu hỏa vào một ngày như thế này mới nóng
    nực làm sao! Cũng thật tuyệt khi được đi ra biển! Mà cũng
    may mắn lắm cô mới có được công việc này. Cứ khi nào cô
    muốn có một kỳ nghỉ thì hầu như luôn đồng nghĩa với việc
    phải đi trông nom một bầy trẻ con - mà kỳ nghỉ của một thư ký
    còn khó kiếm hơn nữa. Thậm chí cả cơ quan môi giới cũng
    chẳng đem lại nhiều hy vọng.
    Và rồi lá thư đó tới.
    Tôi đã nhận được lời giới thiệu về cô thông qua hãng môi
    giới Phụ nữ tài giỏi. Tôi cũng hiểu rằng họ có biết cô từ
    trước. Và tôi cũng rất thoải mái về mức lương cô yêu
    cầu. Rất mong cô tới bắt đầu công việc này vào ngày 8
    tháng Tám. Chuyến tàu sẽ khởi hành lúc 12:40 từ ga
    Paddington và cô sẽ được đón tại ga Oakbridge. Tôi
    cũng kèm theo đây năm tờ một bảng cho khoản chi phí.
    Thân ái,
    Una Nancy Owen
    Và ở góc trên cùng là địa chỉ đính kèm tem thư, Đảo Chiến
    Binh, Sticklehaven, Devon…
    Đảo Chiến Binh! Chà, mấy ngày nay chẳng có gì ngoài tin
    đó trên báo! Đủ các thể loại manh mối và những lời đồn hấp
    dẫn. Mặc dù có khi phần lớn số đó là bịa đặt. Nhưng chắc chắn
    là căn nhà đã được một tay triệu phú xây nên và được ví như
    là tận cùng của sự xa xỉ.
    Mệt mỏi vì một học kỳ đầy căng thẳng vừa qua ở trường,
    Vera Claythorne tự nhủ: “Làm một cô chủ trò ở một trường

    học hạng ba thật chẳng lợi lộc gì… Giá mình có được việc làm
    ở một trường học tử tế nào đó.”
    Và rồi, một cảm giác lãnh lẽo phủ lấy tim cô, cô nghĩ:
    “Nhưng cũng may lắm mình mới có được việc này. Nói cho
    cùng, cũng chẳng ai thích cái tiếng bị điều tra, kể cả viên điều
    tra có cho mình trắng án đi nữa!”
    Cô nhớ là ông ta thậm chí còn khen ngợi cô vì sự bình tĩnh
    và lòng dũng cảm. Với một cuộc điều tra thì như vậy là tốt lắm
    rồi. Và bà Hamilton cũng đối xử rất tốt với cô - chỉ có Hugo nhưng cô sẽ không nhớ tới Hugo nữa!
    Bỗng nhiên, người cô run lên bất chấp cái nóng bức trong
    toa tàu và cô ước gì mình không phải đi ra biển. Hình ảnh ấy
    lại hiện rõ trong tâm trí cô. Đầu của Cyril, nhấp nhô lên
    xuống, cố bơi ra chỗ tảng đá… Lên xuống - lên xuống… Và cô
    nữa, bơi những sải dễ dàng điêu luyện ở phía sau - rẽ mình qua
    làn nước trong lúc cô biết, quá đỗi chắc chắn, rằng cô sẽ
    không tới kịp…
    Biển - với màu xanh sâu thẳm ấm áp của nó - những buổi
    sáng nằm dài trên bãi biển - Hugo - Hugo, người từng nói yêu
    cô…
    Cô không được nghĩ tới Hugo nữa…
    Cô mở mắt và cau mày xem xét người đàn ông ngồi đối
    diện. Đó là một người đàn ông cao lớn với khuôn mặt ngăm
    nâu, đôi mắt sáng màu hơi gần nhau và một vẻ ngạo mạn, gần
    như độc ác nơi khóe miệng.
    Cô thầm nghĩ: 'Hẳn là anh ta đã từng đến những nơi hay ho

    trên thế giới và đã chứng kiến nhiều thứ thú vị…'
    Chỉ với một lần liếc mắt nhanh như chớp, Philip Lombard đã
    có thể đưa ra kết luận về cô gái ngồi đối diện và tự nhủ: 'Khá
    hấp dẫn - có vẻ một cô giáo dạy học đây.'
    Một khách hàng điềm tĩnh, anh tiếp tục đoán - và là một
    người luôn làm chủ tình thế - dù trong tình trường hay chiến
    trường. Anh thà khiêu chiến với cô ta còn hơn…
    Anh cau mày. Không, phải dừng ngay mấy thứ đó. Đây là
    chuyện làm ăn. Anh phải tập trung vào công việc của mình.
    Mà chính xác thì là việc gì cơ chứ, anh thắc mắc? Cái tên
    Do Thái nhỏ thó đó tỏ vẻ rõ là bí hiểm.
    “Anh cầm lấy mà không thì thôi, đại úy Lombard.”
    Anh trầm ngâm nói: “Một trăm đồng gui-nê, hử?”
    Anh nói với cái giọng bình thường như thể một trăm gui-nê
    chẳng hề quan trọng mấy với mình. Một trăm gui-nê trong lúc
    anh chỉ còn đủ tiền cho đúng một bữa tử tế cuối cùng! Dù vậy,
    anh chắc mẩm rằng tên Do Thái nhỏ thó nọ chẳng hề bị anh
    qua mặt - đó chính là thứ đáng ghét nhất về dân Do Thái,
    chẳng ai lừa được chúng trong chuyện tiền nong bao giờ chúng biết hết cả!
    Giữ giọng bình thường, anh tiếp: “Và ông không thể cho tôi
    biết thêm gì hết sao?”
    Isaac Morris lắc cái đầu nhẵn nhụi của lão một cách tự tin.
    “Không, thưa đại úy Lombard, mọi thứ chỉ có vậy. Ông chủ tôi
    biết rõ rằng ngài có tiếng giỏi xoay xở trong tình thế khó khăn.
    Tôi được giao việc gửi lại cho ngài một trăm đồng gui-nê và

    bù lại ngài sẽ đến Sticklehaven, ở Devon. Ga gần đây nhất là
    Oakbridge, sẽ có người đợi ở đó để đưa ngài đến Sticklehaven
    và ngài sẽ tới Đảo Chiến Binh bằng thuyền máy. Chủ nhân của
    tôi sẽ tiếp đón ngài tại đó.”
    Lombard đột ngột ngắt lời: “Tôi phải ở đó trong bao lâu?”
    “Khoảng một tuần là cùng.”
    Vân vê hàng ria của mình, đại úy Lombard nói: “Ông hiểu
    là tôi sẽ không làm điều gì - bất hợp pháp chứ?” Vừa nói anh
    vừa ném một ánh nhìn sắc lẻm về phía đối diện. Một thoáng
    cười mỉm lướt qua khóe miệng đặc trưng Do Thái của lão
    Morris khi lão nghiêm trang trả lời: “Nếu có bất cứ điều gì bất
    hợp pháp, tất nhiên ngài hoàn toàn có quyền từ chối.”
    Lão già nhỏ thó khốn kiếp, cười với lại cợt! Cứ như thể lão
    đã biết tỏng Lombard trước đây vốn chẳng coi pháp luật ra gì.
    Miệng Lombard khẽ mở ra một cái nhếch mép.
    Ờ đấy, anh cũng đã có một đôi lần phạm pháp! Nhưng mọi
    việc rồi đều êm xuôi cả! Chẳng việc gì mà anh phải giới hạn
    bản thân hết…
    Không, anh chẳng cần biết đến giới hạn nào sất. Anh bắt
    đầu hình dung đến cái cảnh tận hưởng vui thú trên Đảo Chiến
    Binh ra sao…
    Trong một toa dành cho người không hút thuốc, cụ bà Emily
    Brent đang ngồi thẳng thớm như thường lệ. Cụ đã sáu mươi
    lăm tuổi và cụ không hề chấp thuận tác phong uể oải. Cha của
    cụ, một Đại tá thuộc lớp người đi trước, từng rất chú trọng về
    phong thái nói chung.

    Lớp trẻ ngày nay thì lại dễ dãi một cách đáng xấu hổ - từ
    điệu bộ cho đến tất tần tật mọi việc khác…
    Được bao bọc trong vầng hào quang của sự chỉn chu và
    những nguyên tắc bất di bất dịch, cụ Brent ngồi trong toa
    khách hạng ba chật chội và đánh bại cái nóng nực cũng như sự
    bất tiện mà nó mang lại. Thiên hạ ngày nay thì rối rít loạn xị
    lên vì toàn những chuyện không đâu! Nào là muốn tiêm thuốc
    tê trước khi nhổ răng - nào là uống thuốc ngủ nếu chẳng may
    mất ngủ - họ muốn những chiếc ghế bành thoải mái với gối
    đệm và lũ con gái thì xõa xượi nằm thượt ra đến hở cả nửa
    người ở những bãi biển hè.
    Cụ Brent mím chặt môi. Cụ như muốn nhớ lại một vài cá
    nhân tiêu biểu làm ví dụ.
    Cụ nhớ lại kỳ nghỉ hè năm ngoái. Dù thế, năm nay sẽ khác
    hoàn toàn. Đảo Chiến Binh…
    Cụ rà lại bức thư mà cụ đã đọc đi đọc lại nhiều lần trong
    đầu.
    Kính gửi bà Brent,
    Mong là bà vẫn chưa quên tôi chứ? Chúng ta đã gặp
    nhau ở nhà nghỉ Belhaven một ngày tháng Tám mấy năm
    về trước, và thật có duyên khi chúng ta có nhiều điểm
    chung.
    Tôi cũng đang mở một nhà khách của riêng mình tại
    đây, trên một hòn đảo ngoài khơi vịnh Devon. Thiết nghĩ
    sẽ thật là dễ chịu khi có một nơi như thế này, với thức ăn
    ngon lành và một người đáng kính ghé thăm. Sẽ không có

    cảnh khỏa thân hay cái loa nhạc nào vào nửa đêm nữa.
    Tôi rất lấy làm hân hạnh nếu bà có thể thu xếp được và
    đến đây vào kỳ nghỉ hè, tại Đảo Chiến Binh - hoàn toàn
    miễn phí - như một vị khách của tôi. Liệu đầu tháng Tám
    có thích hợp với bà không? Có lẽ là ngày mùng 8 chăng?
    Thân mến,
    U.N.O
    Tên gì kia nhỉ? Chữ ký hơi khó nhìn. Cụ Emily Brent nôn
    nóng nghĩ: “Nhiều người có chữ ký không thể nhìn nổi.”
    Cụ cố tua lại những người cụ đã gặp ở Belhaven trong óc.
    Cụ từng ở đó trong hai mùa hè liên tiếp. Có một người phụ nữ
    trung niên nào đó rất tốt - bà - bà - ôi bà ta tên gì vậy nhỉ? Cha
    của bà ấy từng là một vị linh mục. Và còn một bà Olton Ormen - không, chắc chắn là Oliver! Đúng rồi - là Oliver.
    Đảo Chiến Binh! Có biết bao nhiêu là tin báo đưa về Đảo
    Chiến Binh rồi - tin gì đó về một ngôi sao điện ảnh - hay là
    một tay triệu phú người Mỹ vậy nhỉ?
    Tất nhiên là những nơi như vậy thường bị bán giá rẻ những hòn đảo đâu có hợp gu tất cả mọi người. Thiên hạ nghĩ
    rằng nó lãng mạn nhưng đến khi ở đó thì họ lại nhận ra chỉ có
    mỗi sự bất tiện và rồi lại sẵn lòng rao bán.
    Cụ Emily Brent thầm nhủ: “Gì thì gì mình vẫn sẽ có được
    một kỳ nghỉ miễn phí ở đó.”
    Với số tiền lương ngày càng giảm và bao nhiêu cổ tức chưa
    được trả hết, thì dịp này rất đáng để suy xét. Chỉ ước gì cụ có
    thể nhớ thêm đôi chút về bà - hay cô - Oliver kia?

    Tướng Macarthur nhìn ra ngoài cửa sổ toa xe lửa. Tàu vừa tới
    địa phận hạt Exeter, nơi ông cần đổi chuyến. Thật đáng
    nguyền rủa, mấy cái xe lửa chậm lề mề này! Cái Đảo Chiến
    Binh đó, tính theo đường chim bay thì lấy gì làm xa cơ chứ.
    Ông còn đang lờ mờ về cái tên Owen nọ. Hình như là một
    người bạn của Spoof Leggard - và của Johnnie Dyer.
    “- Một, hai người bạn nối khố của ông cũng đang trên
    đường tới - để ôn lại kỷ niệm xưa.”
    Chà, ông lấy làm thích thú khi trò chuyện về quá khứ. Gần
    đây ông còn có cảm giác như thể đám bạn cũ đang cố tình lánh
    mặt mình vậy. Tất cả là vì cái tin đồn nhố nhăng ấy! Thề có
    đấng tối cao, mọi chuyện đã quá nặng nề - đã gần ba mươi
    năm rồi! Chắc là cái thằng Armitage đã phun ra. Thằng ranh
    khốn kiếp! Thằng nhãi đó biết cái gì cơ chứ? Ờ thì cũng chẳng
    mấy tốt lành gì khi cứ nghĩ đi nghĩ lại mấy cái chuyện này!
    Người ta cũng thi thoảng tưởng tượng ra các thứ - như việc có
    một tên đang nhìn mình chằm chằm chẳng hạn.
    Hòn Đảo Chiến Binh này, chà, ông rất muốn được thấy nó.
    Đã có quá nhiều tin đồn thổi rồi. Hình như còn có cái lời đồn
    gì đó về việc Hải quân Anh hay Bộ Quốc phòng hay Không
    quân đã nắm quyền sở hữu hòn đảo.
    Tay triệu phú trẻ người Mỹ nọ, Elmer Robson, mới thực là
    người xây ngôi nhà. Cả hàng ngàn đô-la, thiên hạ đồn vậy.
    Toàn xa xỉ trần tục…
    Exeter! Còn những một tiếng nữa! Mà ông thì không muốn
    phải chờ đợi. Ông muốn đi tiếp luôn…

    Bác sĩ Armstrong còn đang lái chiếc xe hiệu Morris qua vùng
    đồng bằng Salisbury. Ông đang rất mệt mỏi… Thành công
    cũng có giá của nó. Còn nhớ cái thời ông phải ngồi trong văn
    phòng tư vấn trên phố Harley, ăn mặc chỉnh tề, vây quanh toàn
    là những thứ máy móc hiện đại nhất với đồ nội thất đắt tiền
    nhất và ông chờ đợi - ông chờ cho qua những ngày tháng trống
    rỗng để đến cái ngày mạo hiểm đổi lấy thành công hoặc thất
    bại…
    Cuối cùng thì cũng thành công! Ông đã gặp may! Tất nhiên
    là may mắn cộng thêm cái tài của ông nữa. Ông là một người
    lành nghề - nhưng thế chưa đủ để thành đạt. Người ta cần có
    cả vận may nữa. Và ông đã có nó! Một chẩn đoán chính xác,
    một vài bà bệnh nhân cũ mang ơn mình - loại phụ nữ có tiền
    có thế - và thế là tin tức bay xa. “Bà thử gặp ông Armstrong
    xem - một người đàn ông khá trẻ - nhưng rất thông minh những năm qua Pam đã gặp đủ mọi loại người và ông sẽ giải
    quyết mọi vấn đề ngay tức khắc!” Mọi chuyện đã diễn ra như
    thế.
    Và giờ thì bác sĩ Armstrong chắc chắn đã đến đích. Ngày
    làm việc bận kín lịch, ông ít khi có thì giờ rảnh rang. Và thế là,
    vào buổi sáng tháng Tám ấy, ông cảm thấy vui mừng vì được
    rời khỏi London để tận hưởng vài ngày nghỉ trên hòn đảo
    ngoài khơi Devon kia. Mà cũng chẳng phải là kỳ nghỉ gì cho
    cam. Bức thư mà ông nhận được khá tối nghĩa về khoản nội
    dung, nhưng chẳng có gì là không rõ ràng về tờ séc kèm theo
    hết. Một khoản tiền khổng lồ. Nhà Owen nọ chắc phải bơi
    trong tiền. Nhưng cũng có vẻ hơi khó nhằn, một ông chồng lo
    lắng cho sức khỏe của bà vợ và muốn có một bản báo cáo tình

    trạng sức khỏe của bà ta miễn sao bà ấy không hay biết. Rốt
    cuộc bà vợ kia sẽ không hề biết là có một bác sĩ tới khám.
    Thần kinh của bà ta…
    Lại thần kinh nữa! Đôi mày của ông bác sĩ nhướn lên.
    Đúng là đàn bà và thần kinh của họ! Thì, nó cũng chỉ tốt cho
    chuyện làm ăn thôi. Đến nửa số phụ nữ đến gặp ông để tư vấn
    chẳng bị làm sao ngoài chứng chán chường, nhưng họ cũng
    chẳng mấy cảm kích khi nghe nói vậy đâu! Và thế là lại phải
    tìm ra một cái gì đó khác.
    “Một tình trạng hơi bất thường của (một từ dài ngoằng nào
    đó) nhưng chẳng có gì nghiêm trọng - chỉ cần làm đúng là
    được. Một phương pháp chữa trị đơn giản thôi.”
    Thực tình, thuốc men hầu hết cũng là thứ tạo niềm tin cho
    người ta. Và ông lại có một cách cư xử đàng hoàng - ông có
    thể gây niềm tin và gieo hy vọng.
    May mắn thay ông cũng đã bình tĩnh lại sau cái chuyện
    mười - không, mười lăm năm trước. Xém chút nữa là gay to
    rồi! Ông đã đến rụng rời chân tay. Cú sốc đã kéo ông trở lại.
    Ông cai hẳn rượu từ đó. Thề có đức Chúa trời, chỉ một chút
    nữa thôi là mọi thứ đã kết thúc…
    Một tiếng còi với sức tàn phá xé tai phát ra từ một chiếc
    siêu xe thể thao Dalmain vừa vượt qua ông với tốc độ tám
    mươi dặm một giờ. Bác sĩ Armstrong xém nữa là lao vào hàng
    rào bên đường. Lại là mấy thằng ranh con hay phá phách khắp
    nơi. Ông ghét cay ghét đắng chúng. Đó cũng lại là một lần
    suýt chết. Thằng ranh mất dạy!
    Tony Marston, trong lúc phóng xe ầm ầm tới Mere, nghĩ thầm:

    “Cái số xe hơi lết trên đường nhiều đến phát kinh lên được.
    Lúc nào cũng có cái gì đó ngáng đường. Đã thế lại còn nằm
    chềnh ềnh giữa đường nữa chứ! Dù gì thì lái xe ở Anh cũng
    thật đáng nản… không như ở Pháp, anh có thể phóng thoải
    mái…”
    Có nên dừng lại làm ly rượu không nhỉ, hay phóng tiếp?
    Còn một đống thời gian mà! Chỉ còn có hơn một trăm dặm
    chút xíu. Anh sẽ mua rượu gin và ít bia gừng uống. Ngày gì
    mà nóng chảy cả mỡ!
    Chắc trên cái đảo đó cũng có mấy thứ hay ho - nếu thời tiết
    đẹp lâu. Mà mấy người nhà Owen này là ai, anh thắc mắc?
    Chắc giàu nứt đố đổ vách. Tay bán hàng rất rành đánh hơi
    chuyện mấy người như thế. Tất nhiên, lão phải làm vậy, tội
    nghiệp lão, còn chẳng có một xu dính túi…
    Hy vọng họ sẽ đãi khách với rượu ngon. Chẳng biết đâu mà
    lần với mấy tên tự làm ra tiền chứ không phải đẻ ra đã có tiền.
    Đáng tiếc là mẩu tin Gabriella Turl mua Đảo Chiến Binh lại
    không đúng. Anh thích được giao du với đám diễn viên nổi
    tiếng hơn.
    Đành thôi, chắc ở đó cũng phải có mấy em chứ…
    Bước ra khỏi khách sạn, anh vươn vai, ngáp một cái, ngước
    nhìn bầu trời xanh trên cao và trèo vào chiếc xe Dalmain.
    Phải đến vài cô gái nhìn anh đầy ngưỡng mộ - thân hình
    cân đối cao một mét tám mươi hai, mái tóc óng mượt, khuôn
    mặt rám nắng, và đôi mắt xanh biếc vô cùng.
    Anh nhấn ga rồ máy rồi lướt qua con phố hẹp. Người già và

    mấy đứa bé bán rong phải nhảy dựng lên tránh cho an toàn.
    Bọn trẻ thì dõi theo với ánh mắt hâm mộ.
    Anthony Marston đắc thắng tiếp tục cuộc hành trình của
    mình.
    Ông Blore lúc này đang trong một chuyến tàu chậm chạp đến
    Plymouth. Ngoài ông ra chỉ còn một người nữa trong toa tàu,
    một cụ già từng đi biển với đôi mắt lèm nhèm. Hiện cụ già đã
    ngủ gật.
    Ông Blore đang cẩn thận ghi chép vào quyển sổ nhỏ.
    “Thế là đủ,” ông lẩm bẩm. “Emily Brent, Vera Claythorne,
    bác sĩ Armstrong, Anthony Marston, ông già thẩm phán
    Wargrave, Philip Lombard, tướng Macarthur, C.M.G., D.S.O.
    Người quản gia và vợ ông ta: ông bà Rogers.”
    Ông gập quyển sổ lại rồi đút nó vào túi. Ông liếc nhìn phía
    góc toa tàu và người đàn ông đang ngủ.
    “Có một trong tám rồi này,” ông Blore thẩm định một cách
    chính xác.
    Ông nhẩm lại mọi thứ trong đầu một cách cẩn thận đầy
    lương tâm.
    “Công việc chắc chẳng mấy khó khăn.” Ông nghiền ngẫm.
    “Khó mà vuột tay vụ này được. Hy vọng nhìn mình không đến
    nỗi nào.”
    Nghĩ rồi người đàn ông đứng dậy, lo lắng soi mình qua tấm
    kính. Khuôn mặt phản chiếu trong gương có vẻ đặc trưng của
    lính với hàng ria mép. Chẳng có mấy biểu cảm ở gương mặt
    ấy. Đôi mắt xám lạnh và hơi gần nhau.

    “Có thể là một thiếu tá,” ông Blore nói. “Không, mình quên
    béng. Có một lão già ở đó cũng từng trong quân đội. Lão sẽ
    nhận ra mình ngay.”
    “Nam Phi,” ông Blore thốt lên. “Phải rồi! Chẳng một ai
    trong số đó có bất cứ mối liên hệ nào với Nam Phi, và mình
    vừa đọc mẩu tin du lịch kia nên có thể nói trôi chảy được.”
    Cũng thật may là có đủ loại thuộc địa trên đời. Và một
    người trở về từ Nam Phi như ông Blore cảm thấy mình có thể
    hòa nhập với bất cứ giai tầng nào chẳng chút khó khăn.
    Đảo Chiến Binh. Ông nhớ nó từ khi còn là một đứa bé con.
    Đủ loại đá nhuốm vị biển vây quanh bởi hải âu - nằm cách bờ
    biển khoảng một dặm.
    Thật là một ý tưởng nực cười khi đến đó xây nhà! Thời tiết
    ở đó mới tệ làm sao! Nhưng mấy tay triệu phú cũng nhiều khi
    bốc đồng!
    Cụ già ở trong góc lúc này đã tỉnh dậy và nói: “Chẳng bao
    giờ lường trước được biển cả đâu - không bao giờ hết!”
    Ông Blore nói dỗ dành: “Đúng thế. Không ai lường được.”
    Cụ già nấc lên hai lần, tỏ ra rầu rĩ: “Sắp có cơn cớ đây.”
    Ông Blore nhẹ nhàng chỉnh lại: “Đâu, không phải đâu cụ
    ơi, hôm nay đẹp trời mà.”
    Cụ già giận dữ: “Có một cơn giông mà. Tôi có thể ngửi
    được nó.”
    “Chắc cụ nói đúng.” Ông Blore nói hòa giải.
    Đoàn tàu dừng lại ở một trạm ga và cụ già loạng choạng

    đứng dậy.
    “Tới nơi tôi xuống rồi.” Cụ quờ tay phải ô cửa sổ. Ông
    Blore bèn giúp cụ.
    Cụ già đứng nơi cánh cửa, giơ bàn tay chào trang nghiêm
    và chớp chớp đôi mắt kèm nhèm của cụ.
    “Hãy cẩn trọng và cầu nguyện,” cụ nhắc nhở. “Cẩn trọng và
    cầu nguyện. Ngày xét xử cuối cùng đã cận kề rồi.”
    Cụ nhào người khỏi cánh cửa ngã xuống nền sân ga. Vẫn tư
    thế nằm như vậy, cụ ngước mắt nhìn ông Blore và nói với
    giọng vô cùng trịnh trọng: “Tôi đang nói về anh đó, chàng trai
    trẻ ạ. Ngày phán xử cuối cùng đến gần rồi.”
    Ngồi lặng thinh nơi chỗ ngồi của mình, ông Blore thầm
    nhủ: Lão còn gần ngày tận thế hơn mình ấy chứ!
    Nhưng, kỳ thực mà nói, ông ta đã lầm…

    Chương 2
    Đứng ngoài ga Oakbridge lúc này là một nhóm người có vẻ
    phân vân giây lát. Phía sau họ là người khuân vác đồ với đống
    hành lý. Một trong số đó gọi: “Jim!”
    Một người lái xe tắc-xi bước đến.
    “Mọi người đến Đảo Chiến Binh phải không ạ?” Anh ta hỏi
    với giọng Devon nhè nhẹ. Có bốn giọng trả lời - và gần như
    ngay lập tức họ quay ra nhìn nhau vẻ giấu giếm.
    Người lái xe trả lời, quay sang ngài thẩm phán Wargrave vì
    ông là một người cao tuổi trong nhóm: “Ở đây có hai chiếc xe,
    thưa ông. Một chiếc lại phải đợi chuyến tàu chậm từ ga Exeter
    - chỉ năm phút thôi - vì có một quý ông đang trên chuyến đó.
    Có lẽ một người trong số các vị không thấy phiền nếu phải đợi
    chứ? Như thế mọi người sẽ được thoải mái hơn.”
    Vera Claythorne, với ý thức rõ ràng về vị trí thư ký của
    mình, cất tiếng ngay.
    “Tôi sẽ đợi,” cô cho biết, “nếu mọi người đều muốn đi
    ngay?” Cô nhìn ba người còn lại, cái nhìn và giọng nói của cô
    có chút gì đó như ra lệnh do cô đã quen lối ra oai trong nghề
    của mình. Có thể cô đã từng chỉ đạo cho lũ trẻ được chơi séc
    quần vợt nào trong trường.
    Cụ Brent nói một cách cứng nhắc: “Cảm ơn cô,” rồi khom
    người vào một chiếc tắc-xi mà cửa đã được người lái xe mở
    sẵn. Thẩm phán Wargrave theo sau cụ.
    Đại úy Lombard bèn nói: “Tôi sẽ ở lại đợi với quý cô…”

    “Claythorne,” Vera đáp lời.
    “Tên tôi là Lombard, Philip Lombard.”
    Mấy người khuân đồ lúc này đang xếp hành lý vào xe tắcxi. Bên trong, ông thẩm phán Wargrave nói với vẻ thận trọng
    pháp lý đúng mực.
    “Thời tiết thật là đẹp làm sao.”
    Cụ Brent đáp lời: “Đúng là đẹp thật.”
    Một quý ông thật nổi bật, cụ nghĩ. Hoàn toàn khác với
    những loại người thường thấy ở những nhà nghỉ gần biển. Rõ
    ràng là bà hay cô Oliver gì đó có những mối quan hệ khá tốt.
    Ông thẩm phán Wargrave hỏi: “Bà có biết nhiều về nơi này
    không?”
    “Tôi đã từng đến Cornwall và Torquay, nhưng đây là lần
    đầu tiên tôi đặt chân tới Devon.”
    Ông thẩm phán nói: “Tôi cũng chưa biết nhiều về nơi này
    cho lắm.”
    Chiếc tắc-xi bắt đầu lăn bánh.
    Người lái chiếc xe tắc-xi thứ hai liền hỏi: “Cô có muốn
    ngồi đợi ở phía trong không?”
    Vera đáp một cách dứt khoát: “Không hề.”
    Đại úy Lombard mỉm cười. Anh nói: “Chỗ bức tường đầy
    nắng kia nhìn hấp dẫn hơn. Trừ khi cô muốn vào trong trạm
    ga?”
    “Không, thực tình. Tôi thấy rất vui vì thoát được khỏi chiếc
    tàu chật chội đó.”

    Anh trả lời: “Đúng là đi bằng tàu hỏa trong thời tiết như thế
    này hơi khó chịu thật.”
    Vera đáp kiểu mẫu mực: “Tôi hy vọng nó được lâu, ý tôi là
    thời tiết ấy. Cái nắng của nước Anh thật là không thể tin
    được.”
    Lombard liền hỏi một câu không được độc đáo cho lắm:
    “Cô từng đến đây chưa?”
    “Chưa, tôi chưa bao giờ tới đây.” Cô mau lẹ nói thêm, với
    chủ đích làm rõ vị trí của mình ngay từ đầu. “Tôi thậm chí còn
    chưa được gặp bà chủ của mình.”
    “Bà chủ của cô ư?”
    “Đúng vậy, tôi là thư ký riêng của bà Owen.”
    “Ồ, tôi hiểu rồi.” Điệu bộ của anh liền có chút thay đổi.
    Giọng anh trở nên thêm chắc chắn - và cởi mở hơn. Anh nói:
    “Thế có lạ không?”
    Vera cười.
    “Ồ, không, tôi không nghĩ vậy. Vì cô thư ký trước của bà ấy
    đột nhiên bị ốm và phải nhờ đến một công ty môi giới để tìm
    người thay thế và họ đã cử tôi.”
    “Ra là vậy. Lỡ đến mà cô không thích công việc đó thì
    sao?”
    Vera lại cười.
    “À, đó chỉ là công việc tạm thời thôi - một công việc trong
    kỳ nghỉ. Tôi có việc ổn định ở một trường dành cho các bé gái.
    Thực ra thì, tôi cũng khá hồi hộp khi đến Đảo Chiến Binh này.

    Có quá nhiều tin trên báo mà. Chẳng phải hòn đảo đó rất thú vị
    sao?”
    Lombard đáp: “Tôi cũng không rõ. Tôi chưa tới đó bao
    giờ.”
    “Ồ, thật thế sao? Nhà Owen hẳn rất quan tâm tới nó, tôi
    nghĩ vậy. Họ như thế nào? Hãy kể tôi nghe đi.”
    Lombard nghĩ: Quái lạ, thế này - đúng ra thì mình đã phải
    gặp họ rồi chứ nhỉ, hay sao? Anh đáp nhanh: “Có một con vò
    vẽ đang bò trên tay cô kìa. Không - cứ giữ yên như thế.” Đoạn
    anh vờ ngập ngừng như thể đúng thế thật. “Được rồi. Nó bay
    đi rồi!”
    “Ôi, cảm ơn anh. Hè này có nhiều ong quá.”
    “Vâng, tôi cho là do cái nóng. Mà chúng ta đang đợi ai nhỉ,
    cô biết không?”
    “Tôi không biết chút gì cả.”
    Một tiếng còi hụ ầm ĩ vang lên từ chiếc xe lửa đang tiến
    đến. Lombard nói: “Tàu hỏa đến rồi kìa.”
    Một người đàn ông cao ráo ra dáng lính xuất hiện chỗ cánh
    cửa nhà ga. Mái tóc bạc của ông được miết xẹp xuống và ông
    ta có một hàng ria trắng cắt tỉa gọn gàng.
    Người mang hành lý cho ông, có vẻ loạng choạng dưới sức
    nặng của chiếc va-li da nặng trịch, hướng về phía Vera và
    Lombard.
    Vera bước tới với vẻ đáng tin cậy. Cô lên tiếng: “Tôi là thư
    ký của bà Owen. Đang có một chiếc xe đợi chúng ta rồi.” Cô

    nói thêm, “Còn đây là anh Lombard.”
    Đôi mắt người đàn ông sở hữu thứ màu xanh biển nhạt, sắc
    bén mặc cho vết thời gian để lại, nhìn Lombard ước chừng.
    Trong vài giây, một vẻ phán xét hiện rõ - nếu có ai đó nhận ra
    được.
    “Nhìn khá điển trai. Nhưng có gì đó không ổn…”
    Ba người liền bước lên chiếc xe tắc-xi đợi sẵn. Chiếc xe đi
    qua con phố nhỏ yên ắng của Oakbridge và đi tiếp khoảng một
    dặm trên đường cái Plymouth, rồi lao vào một mê cung của
    những con đường ngoằn ngoèo, dốc, xanh rờn và hẹp. Tướng
    Macarthur mở lời: “Tôi không hề biết gì về Devon cả. Tôi ở
    bên đông Devon - giáp ngay với Dorset ấy.”
    Vera nhìn nhận: “Chỗ này thật là đẹp. Những ngọn đồi với
    đất đỏ và tất cả mọi thứ đều xanh, nhìn lại màu mỡ nữa.”
    Philip Lombard nhận xét: “Chỉ có điều nó hơi cô lập… Tôi
    thích một nơi hướng ngoại hơn. Thế thì mới biết được mọi thứ
    diễn ra xung quanh…”
    Tướng Macarthur nói với anh: “Chắc cậu cũng có đi vài nơi
    trên thế giới rồi chứ?”
    Lombard nhún vai khiêm nhường: “Cũng từng đi chỗ này
    chỗ khác, thưa ông.”
    Anh nghĩ thầm: “Thể nào ông ta cũng hỏi xem mình có đủ
    tuổi đi lính hồi trước không cho mà xem. Mấy ông lính già
    toàn thế cả.”
    Nhưng tướng Macarthur không hề đả động đến cuộc chiến.

    Xe đi lên một quả đồi dốc rồi xuống theo lối dích dắc đến
    Sticklehaven - chỉ có mỗi vài ngôi lán nhỏ với một hay hai
    chiếc thuyền đánh cá nhỏ phơi mình trên bãi biển.
    Nhờ ánh sáng hoàng hôn chiếu rọi, lần đầu tiên họ thấy Đảo
    Chiến Binh nổi lên giữa biển hướng nam.
    Vera thốt lên với vẻ ngạc nhiên: “Ôi, còn xa lắm.”
    Cô đã hình dung hòn đảo khác hoàn toàn, gần với bờ, với
    chiếc vương miện là một ngôi nhà trắng xinh đẹp. Nhưng từ
    đây không thể thấy một ngôi nhà nào, chỉ rõ bóng của mấy
    tảng đá nom na ná như một cái đầu khổng lồ. Ở nó toát lên
    một vẻ gì đó hiểm trở. Cô khẽ rùng mình.
    Bên ngoài nhà khách nhỏ Bảy Sao là ba người đang ngồi.
    Bóng lưng gù gù của ông thẩm phán, dáng thẳng thớm của cụ
    Brent, và một người thứ ba - một người đàn ông to lớn thô
    kệch bước tới và tự giới thiệu: “Chúng tôi nghĩ là nên đợi các
    vị,” ông ta nói. “Đi liền một lúc cho tiện. Xin tự giới thiệu.
    Tên tôi là Davis. Nơi sinh ư, nơi chôn rau cắt rốn của tôi là
    Nam Phi, ha ha!”
    Lão bật cười sảng khoái.
    Ông thẩm phán Wargrave nhìn lão với ánh mắt lộ rõ sự ác
    cảm. Nhìn ông như thể đang muốn yêu cầu cả tòa án phải giải
    tán vậy. Cụ Emily Brent thì không chắc liệu mình có thích
    mấy dân thuộc địa hay không.
    “Có ai muốn làm một nhấp trước khi nhổ neo không?” lão
    Davis hỏi một cách hiếu khách.
    Không ai hưởng ứng lời đề nghị này, nên lão Davis quay ra

    và giơ ngón tay nói.
    “Thế thì không nên chậm trễ nữa. Ông chủ và bà chủ tốt
    bụng của chúng ta đang chờ.” Lão giục.
    Dường như lão Davis đã nhận ra sự kìm nén kỳ lạ bao trùm
    lên đoàn khách. Như thể việc nhắc tới ông bà chủ nhà làm mọi
    người tê liệt vậy.
    Đáp lại cái giơ tay ra hiệu của lão Davis, một người đàn
    ông vốn đang dựa lưng vào một bức tường gần đó liền rời chỗ
    của mình và tiến đến phía họ. Dáng đi lắc lư của ông như
    tuyên bố rằng ông là một người chuyên đi biển. Khuôn mặt
    ông ta dãi dầu mưa nắng với đôi mắt đen như đang cố giấu
    điều gì. Ông ta cất lên chất giọng nhẹ nhàng của xứ Devon.
    “Quý bà và quý ông đã sẵn sàng ra đảo chưa ạ? Thuyền
    đang đợi rồi. Còn có hai quý ông nữa đang trên đường tới đây
    bằng xe hơi nhưng ngài Owen đã bảo tôi không cần phải đợi
    họ, vì họ có thể sẽ đến bất cứ lúc nào.”
    Đoàn khách lên thuyền. Người hướng dẫn chỉ cho họ qua
    một cái cầu tàu nhỏ bằng đá. Nằm bên cạnh nó là một chiếc
    thuyền máy.
    Cụ Emily Brent nhìn nhận: “Chiếc thuyền này nhỏ quá.”
    Người chủ chiếc thuyền trả lời đầy thuyết phục: “Con
    thuyền này rất tốt đó, thưa quý bà. Bà còn có thể đi nó đến
    Plymouth chỉ trong chớp mắt.”
    Ông thẩm phán Wargrave nói sắc lẻm: “Chúng tôi khá đông
    người mà.”
    “Nó còn chở được gấp đôi thế này nữa, thưa ông.”

    Philip Lombard nói với giọng xoa dịu dễ dãi: “Cũng ổn mà.
    Thời tiết quá tốt rồi - không có sóng biển.”
    Với vẻ hơi nghi ngờ, cụ Brent để người khác giúp mình lên
    thuyền. Những người còn lại thì theo sau. Không khí đoàn
    khách như vẫn có chút dè chừng. Như thể mỗi người trong số
    họ đều bị lúng túng trước những người còn lại.
    Mọi người vừa chuẩn bị khởi hành thì người hướng dẫn đột
    ngột dừng lại, với chiếc neo thuyền trong tay.
    Cuối con dốc dẫn vào làng có một chiếc xe đang đi tới. Một
    chiếc xe mạnh mẽ, tuyệt đẹp tới độ sự xuất hiện của nó không
    khác nào một bóng ma. Ngồi sau vô-lăng là một người đàn
    ông trẻ, mái tóc nâu hất ngược vì gió. Trong ánh chiều anh ta
    giống hệt một vị thần trẻ, chứ không còn là một người đàn ông
    nữa, một vị thần anh hùng nào đó bước ra từ thần thoại
    phương Bắc.
    Anh ta nhấn còi và một tiếng kêu vang dội vọng lại từ
    những phiến đá trên vịnh.
    Đó là một giây phút phi thường. Trong giây lát ấy, Anthony
    Marston có vẻ như bất tử. Kể từ đó có tới hơn một người trong
    đoàn khách nhớ tới khoảnh khắc ấy.
    Fred Narracott ngồi bên động cơ mà nghĩ về đoàn khách kỳ
    cục này.
    Chẳng hề giống như ông tưởng tượng về đám khách khứa
    của nhà Owen chút nào. Ông đã mong đợi một đoàn khách
    toàn những người sang trọng. Những quý bà váy áo là lượt và
    những quý ông trong bộ trang phục du thuyền với vẻ giàu có

    và quan trọng.
    Chẳng bù cho đám khách của ông Elmer Robson. Một nụ
    cười mờ nhạt hiện trên miệng Fred Narracott khi ông nhớ đến
    đám khách của tay triệu ph...
     
    Gửi ý kiến