VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    NhanDienCacThuDoanLuaDaoChiemDoatTaiSan

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:43' 04-05-2024
    Dung lượng: 7.9 MB
    Số lượt tải: 9
    Số lượt thích: 0 người
    HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
    Chủ tịch Hội đồng
    Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
    TRẦN THANH LÂM
    Phó Chủ tịch Hội đồng
    Giám đốc - Tổng Biên tập
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
    VŨ TRỌNG LÂM
    Thành viên
    NGUYỄN HOÀI ANH
    PHẠM THỊ THINH
    NGUYỄN ĐỨC TÀI
    TỐNG VĂN THANH

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN

    Hiện nay, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là
    một trong những loại tội phạm xảy ra khá phổ biến ở
    nước ta, chủ yếu xuất phát và ẩn giấu qua các giao
    dịch dân sự nên thường khó phát hiện và ngăn ngừa.
    Với sự phát triển của công nghệ thông tin, hành vi
    lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ thông qua các
    hành vi vay, mượn tiền, tài sản đơn thuần mà đã
    xuất hiện dưới nhiều dạng hành vi khác. Có nhiều
    nguyên nhân, điều kiện để các đối tượng phạm tội
    lừa đảo chiếm đoạt tài sản lợi dụng hoạt động. Sự
    phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong điều
    kiện công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập,
    đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, tài chính ngân
    hàng, quản lý các giao dịch dân sự là điều kiện cho
    các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
    Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh, tố giác tội
    phạm, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác cho
    các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân
    trước các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của tội
    phạm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất
    bản cuốn sách Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo
    chiếm đoạt tài sản và biện pháp phòng ngừa
    do Luật gia Trương Ngọc Liêu biên soạn.
    5

    Cuốn sách tổng hợp một số vụ án, vụ việc có dấu
    hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản bị phát hiện, đã xử lý
    trong thực tiễn, qua đó tìm hiểu nguyên nhân và hệ lụy
    của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các cách
    thức nhận diện những thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
    tài sản phổ biến và đề xuất một số biện pháp phòng
    ngừa để góp phần nâng cao hiệu quả kiềm chế, ngăn
    chặn loại tội phạm này.
    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
    Tháng 8 năm 2023
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    LỜI NÓI ĐẦU
    Cuốn sách Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo chiếm
    đoạt tài sản và biện pháp phòng ngừa ra đời trong
    bối cảnh loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
    đang ngày càng gia tăng, đặc biệt là các thủ đoạn
    lừa đảo thông qua không gian mạng Internet, mạng
    viễn thông với thủ đoạn ngày càng tinh vi, hậu quả
    ngày càng lớn. Kết cấu cuốn sách gồm bốn phần,
    Phần I nêu lên thực trạng các vụ án lừa đảo chiếm
    đoạt tài sản trong phạm vi cả nước trong thời gian
    gần đây; tỷ lệ tội phạm lừa đảo theo thủ đoạn truyền
    thống; tỷ lệ lừa đảo thông qua không gian mạng và
    những hệ lụy của những hành vi lừa đảo này đến đời
    sống của cá nhân, gia đình và xã hội. Phần II làm rõ
    các quy định pháp luật, khung pháp lý áp dụng đối
    với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Phần III chỉ
    ra cách nhận diện từng thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
    tài sản cụ thể, đồng thời thông tin về vụ việc trên
    thực tế đã xảy ra sau mỗi thủ đoạn, trong đó có
    những vụ việc đã đưa ra xét xử và kết án, có những
    vụ việc đang trong quá trình điều tra, truy tố...
    (tham khảo qua các bài báo, bài viết đã đăng tải trên
    các báo viết, báo điện tử thời gian qua) để bạn đọc có
    được những thông tin chi tiết và thực tế nhất về thủ
    đoạn của các đối tượng lừa đảo, cũng như thấy được
    hậu quả pháp lý của việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản
    7

    của người khác sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp
    luật như thế nào. Phần IV đề xuất các biện pháp
    phòng ngừa đối với các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
    tài sản, trong đó có các biện pháp phòng ngừa
    chung từ phía cơ quan nhà nước cũng như đối với
    từng cá nhân và một số biện pháp phòng ngừa cụ
    thể đối với từng thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài
    sản được liệt kê.
    Các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các
    đối tượng thường biến đổi liên tục để “thích nghi” với
    các biện pháp phòng ngừa mà các cơ quan chức năng
    và từng cá nhân mỗi người đã nắm bắt được. Tuy
    nhiên, cho dù có biến đổi như thế nào, thủ đoạn tinh
    vi đến đâu thì các đối tượng lừa đảo cũng có những
    đặc điểm chung, đều dựa vào các điều kiện tiên
    quyết là: lòng tham, sự sợ hãi, sự nhẹ dạ cả tin và sự
    thiếu hiểu biết của nạn nhân để thực hiện hành vi
    lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, chỉ cần khắc phục
    được một trong bốn yếu tố này là đã góp phần giảm
    đi đáng kể khả năng bị lừa đảo. Cách khắc phục như
    thế nào được trình bày rất rõ tại Mục I.2 Phần IV
    cuốn sách này. Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc
    trở nên nhạy bén hơn, tinh tường hơn để đối phó với
    các thủ đoạn lừa đảo đang diễn ra phổ biến hiện nay
    cũng như trong tương lai.
    TÁC GIẢ

    8

    PHẦN I

    THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HỆ LỤY
    CỦA HÀNH VI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

    I
    THỰC TRẠNG LOẠI TỘI PHẠM LỪA ĐẢO
    CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
    Theo trang điện tử Công an tỉnh Đắk Lắk1, trong
    5 năm từ 2015-2019, Công an toàn quốc đã phát
    hiện, khởi tố điều tra 10.360 vụ và 11.410 bị can về
    tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, số tiền bị chiếm đoạt
    lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Tội phạm lừa đảo chiếm
    đoạt tài sản không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho
    Nhà nước, xã hội và công dân mà còn ảnh hưởng tiêu
    cực đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Hàng loạt
    những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản lớn đã được
    đưa ra xét xử như: Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như lừa
    đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều ngân hàng và cá
    nhân với tổng số tiền hơn 4.900 tỷ đồng; vụ án Lê
    Xuân Giang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty
    Liên kết Việt và đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt
    ___________
    1. https://congan.daklak.gov.vn/-/mot-so-tinh-hinh-noi-lencua-toi-pham-lua-ao-chiem-oat-tai-san.

    9

    2.000 tỷ đồng của 60.000 người; vụ Chu Minh Ngọc,
    Giám đốc Công ty Cimco cùng đồng bọn lập khống
    hồ sơ mua bán thép để hợp thức hồ sơ vay vốn lừa
    đảo chiếm đoạt 1.124 tỷ đồng của 7 ngân hàng; vụ
    Phan Bá Tòng, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu
    hạn xuất nhập khẩu thủy sản Thiên Mã có hành vi
    lừa đảo chiếm đoạt 700 tỷ đồng của các ngân hàng
    và khách hàng; vụ Công ty Cổ phần thương mại đầu
    tư Phúc Gia Bảo lừa đảo chiếm đoạt 178 tỷ đồng1.
    Ngoài các thủ đoạn lừa đảo truyền thống như:
    Giả danh cán bộ cơ quan nhà nước, người nhà lãnh
    đạo cấp cao để lừa xin việc làm, “chạy chức”, “chạy
    án”; làm, sử dụng các loại giấy tờ, tài liệu giả liên
    quan đến quyền sở hữu tài sản để cầm cố, thế chấp,
    mua bán; lừa đảo trong hoạt động đầu tư, kinh
    doanh bất động sản, v.v.. Các đối tượng còn lợi dụng
    không gian mạng để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt
    tài sản, với phương thức thủ đoạn hết sức tinh vi, đa
    dạng về cách tiếp cận các nạn nhân, nhiều vụ có
    lượng lớn người bị hại tham gia tại nhiều địa phương
    trên khắp cả nước, một số thủ đoạn điển hình như:
    Sử dụng mạng xã hội để kết bạn, thông báo gửi quà,
    sau đó giả danh nhân viên sân bay, hải quan, thuế
    để yêu cầu người bị hại nộp tiền cước vận chuyển,
    thuế, phí, tiền phạt... vào các tài khoản ngân hàng
    được chỉ định rồi chiếm đoạt; giả danh cán bộ cơ
    quan nhà nước, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án gọi
    điện thông báo chủ thuê bao có liên quan đến vụ án,
    ___________
    1. https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/giai-phaphan-che-muc-do-an-cua-toi-pham-lua-dao-c-d10-t770.html.

    10

    vụ việc đang giải quyết rồi đe dọa, yêu cầu bị hại
    chuyển để chiếm đoạt, v.v..
    Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tội phạm học
    cũng đã xác định: “Các tội phạm kinh tế là những tội
    phạm có độ ẩn cao. Số liệu thống kê về những tội
    phạm đã được phát hiện, điều tra và xử lý chỉ phản
    ánh một phần của tội phạm đã xảy ra, còn một phần
    quan trọng khác mà cơ quan pháp luật chưa nắm
    bắt được, chưa phát hiện được”1.
    Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia
    có tốc độ phát triển và ứng dụng Internet cao nhất
    thế giới, việc mạng xã hội đang được sử dụng công
    khai với số lượng người tham gia đông đảo trên các
    ứng dụng như Facebook, Zalo, Instagram, TikTok, v.v.
    cùng với việc nhận thức còn hạn chế, nhẹ dạ cả tin,
    hám lợi, mất cảnh giác của một bộ phận người dùng
    là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng phạm tội.
    Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước trong một số
    lĩnh vực như: Tài chính, ngân hàng, không gian
    mạng, đất đai, công chứng còn tồn tại nhiều thiếu
    sót, bất cập; chính sách pháp luật trên một số lĩnh
    vực chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, tạo kẽ hở để các
    đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm
    đoạt tài sản.
    Theo Đại tá Trương Sơn Lâm, Phó Cục trưởng
    Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử
    dụng công nghệ cao2, Bộ Công an, tình hình tội phạm
    ___________
    1. Nguyễn Xuân Yêm: Tội phạm học hiện đại và phòng
    ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
    2. Hiện giữ chức vụ Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre (BT).

    11

    lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng
    diễn biến ngày càng phức tạp với nhiều phương
    thức, thủ đoạn tinh vi, có tính chất xuyên quốc gia,
    gây thiệt hại lớn và bức xúc trong nhân dân, xảy ra
    chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội,
    Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Nghệ An,
    Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Đồng Nai... Đặc biệt lợi
    dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp,
    thực hiện chủ trương giãn cách xã hội, nhiều hoạt
    động xã hội “dịch chuyển” lên không gian mạng nên
    tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản càng gia tăng
    hoạt động.
    Năm 2020, phát hiện khoảng 4.100 vụ việc liên
    quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua
    không gian mạng; trong đó có 776 vụ việc lừa đảo
    qua mạng viễn thông bằng thủ đoạn giả danh cơ
    quan thực thi pháp luật (Công an, Tòa án, Viện
    kiểm sát), các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn
    thông, bưu điện..., đe dọa, yêu cầu người bị hại
    cung cấp thông tin tài khoản hoặc chuyển tiền.
    Riêng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm
    sử dụng công nghệ cao đã tiến hành xác minh, điều
    tra 18 vụ; khởi tố 5 vụ án và 27 bị can; đang tiếp
    tục xác minh hơn 10 vụ.
    Nổi bật là vào tháng 01/2020 Cục An ninh mạng
    và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
    đã phối hợp với Công an tỉnh Quảng Nam, Công an
    Thành phố Hồ Chí Minh đấu tranh, triệt phá
    Chuyên án bắt giữ, khởi tố 10 đối tượng, trong đó có
    2 đối tượng người Malaixia, đã phong tỏa 55 tài khoản
    của bị hại là người Việt Nam với số tiền 3,7 tỷ đồng
    12

    và nhiều tài sản, tài liệu có liên quan, tổng số tiền
    các đối tượng chiếm đoạt lên tới hơn 500 tỷ đồng;
    Tháng 6/2020, Cục cũng đã phối hợp với Công an
    tỉnh Thừa Thiên Huế triệt phá thành công chuyên
    án đấu tranh với nhóm đối tượng lừa đảo chiếm đoạt
    tài sản qua Facebook, bắt giữ 3 đối tượng đã lừa đảo
    chiếm đoạt tài sản của gần 500 nạn nhân trên cả
    nước với tổng số tiền lên đến 117 tỷ đồng1...
    Tính từ ngày 25/5/2020 đến 24/5/2021, toàn quốc
    đã phát hiện xảy ra 5.408 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài
    sản, trong đó: 2.894 vụ lừa đảo theo các phương thức
    truyền thống (chiếm hơn 53,5% tổng số vụ phát hiện);
    2.514 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian
    mạng (chiếm 46,5% tổng số vụ). Đáng chú ý trong đó
    có nhiều chuyên án, vụ án lớn, được các ngành, các
    cấp ghi nhận và đánh giá cao, dư luận quần chúng
    nhân dân đặc biệt quan tâm, góp phần bảo đảm an
    ninh, trật tự, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh
    của doanh nghiệp và đời sống Nhân dân2.
    Với sự chuyển dịch sang nền kinh tế số và hội
    nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh
    vực, các sản phẩm tài chính ngày càng đa dạng,
    nhiều hình thức giao dịch điện tử, trực tuyến được
    triển khai, trong khi năng lực tiếp cận kinh tế số của
    nước ta còn hạn chế, các yếu tố nền tảng như thể chế,
    ___________
    1. https://cand.com.vn/Phap-luat/Can-trong-voi-toi-phamlua-dao-chiem-doat-tai-san-khi-tham-gia-khong-gian-mangi591084/.
    2. https://congan.daklak.gov.vn/-/mot-so-tinh-hinh-noilen- cua-toi-pham-lua-dao-chiem-doat-tai-san.

    13

    hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ còn
    thấp, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
    nhất là lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian
    mạng sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng
    gia tăng với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng
    tinh vi, xảo quyệt, hoạt động xuyên quốc gia, có sự
    cấu kết giữa nhiều đối tượng trong và ngoài nước,
    nếu không kịp thời phát hiện, ngăn chặn thì hậu
    quả thiệt hại sẽ rất nghiêm trọng.

    II
    NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG
    LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
    Tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung
    và lừa đảo qua không gian mạng nói riêng diễn biến
    ngày càng phức tạp và gia tăng với thủ đoạn ngày
    càng tinh vi chủ yếu do một số nguyên nhân sau:
    1. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp
    luật chưa thật sự hiệu quả
    Hiện nay, công tác đẩy mạnh tuyên truyền,
    phòng ngừa hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản đã
    và đang được thực hiện mạnh mẽ ở tất cả các cơ
    quan, ban ngành ở các cấp độ khác nhau và cũng đã
    đạt được những thành tích nhất định, đặc biệt là kể
    từ khi Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ
    tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, xử lý
    hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từng cơ quan,
    tổ chức và cá nhân có phương thức tuyên truyền,
    14

    phổ biến phù hợp với cơ cấu tổ chức, quản lý, chức
    năng và quyền hạn của mình để thực hiện công tác
    tuyên truyền nhằm đạt hiệu quả tối đa. Các hình
    thức tuyên truyền rất phong phú, đa dạng, như
    thông qua trang Facebook, nhóm Zalo đã kịp thời
    trao đổi thông tin cũng như nắm bắt tình hình trên
    địa bàn về phòng, chống tội phạm, lừa đảo chiếm
    đoạt tài sản, và các văn bản quy phạm pháp luật; tổ
    chức tháng cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp
    luật trong đó có pháp luật về phòng, chống tội
    phạm, các văn bản pháp luật khác liên quan trực
    tiếp đến phòng ngừa xử lý hoạt động lừa đảo chiếm
    đoạt tài sản, phòng ngừa “tín dụng đen”... Tuyên
    truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ
    trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
    của Nhà nước, công tác phòng, chống tội phạm,
    phòng ngừa “Tín dụng đen” nhất là hiện tượng lô
    đề, cá cược, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lừa đảo trên
    không gian mạng, xuất khẩu lao động trái phép,
    xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới nhằm lừa
    đảo, chiếm đoạt tài sản... đến đông đảo các tầng lớp
    nhân dân.
    Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng công tác
    tuyên truyền, phổ biến về chủ trương, đường lối của
    Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong
    phát triển kinh tế - xã hội và phòng ngừa các hành
    vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa sâu rộng, người
    dân chưa được tiếp cận kịp thời đầy đủ, chính xác
    thông tin, nhất là các thông tin về quy hoạch, chế độ,
    chính sách an sinh xã hội, đầu tư, sản xuất, kinh
    doanh... Nguyên nhân có thể do:
    15

    - Cán bộ làm công tác tuyên truyền ít được tập
    huấn để nâng cao khả năng chuyên môn. Vì vậy việc
    tuyên truyền, triển khai chủ trương, nghị quyết chỉ
    đạt ở mức độ nhất định, chưa đáp ứng tốt yêu cầu;
    tài liệu tuyên truyền còn hạn chế, nội dung chưa đáp
    ứng cho các đối tượng cần được tuyên truyền.
    - Một số cấp ủy, chính quyền ở cơ sở chưa quan
    tâm đúng mức cho công tác tuyên truyền, còn chỉ
    đạo chung chung trong thực hiện.
    - Thông tin không được mở rộng, phân tích thêm,
    vì vậy chưa tạo được tính hấp dẫn đối với người nghe.
    2. Hạn chế trong nhận thức và mất cảnh
    giác của một bộ phận nhân dân để tội phạm
    lợi dụng
    Mục đích của hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt
    tài sản, phương thức và thủ đoạn thực hiện rất tinh vi
    và vô cùng bài bản, có kế hoạch, có kịch bản rõ ràng;
    có sự câu kết, phân chia vai trò thực hiện chặt chẽ.
    Bởi thế, chỉ cần sự thiếu cảnh giác phòng ngừa là sẽ
    trở thành nạn nhân của loại tội phạm này.
    So với mặt bằng chung của thế giới nói chung và
    so với các nước phát triển nói riêng, trình độ dân trí
    của Việt Nam vẫn còn khá thấp, đặc biệt là hiểu biết
    về công nghệ, không gian mạng Internet... do đó, sẽ
    tạo ra những khó khăn nhất định trong việc định
    hình, đánh giá được dấu hiệu hành vi lừa đảo của
    loại tội phạm sử dụng công nghệ cao. Hiểu biết về
    pháp luật của người dân cũng là một điểm hạn chế
    khi tỷ lệ người học đại học vẫn còn thấp (chưa tới
    30%) mà môn pháp luật đại cương chỉ được đưa vào
    chương trình đào tạo hệ cao đẳng, đại học, ở các cấp
    16

    học thấp hơn, việc giáo dục pháp luật còn hạn chế,
    chưa được phổ biến, giáo dục pháp luật về tội phạm
    lừa đảo chiếm đoạt tài sản lại càng hiếm hơn. Xuất
    phát từ các yếu tố trên dẫn đến việc nạn nhân của
    loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt
    Nam vẫn còn nhiều, giá trị tài sản bị lừa đảo chiếm
    đoạt ngày càng gia tăng.
    3. Các quy định pháp luật về một số lĩnh
    vực chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp
    với thực tiễn, chưa được hướng dẫn, sửa đổi, bổ
    sung kịp thời
    Kể từ khi Hiến pháp năm 2013 ra đời, hàng loạt
    các bộ luật, luật và văn bản quy phạm pháp luật mới
    được ban hành để thể chế hóa những quy định trong
    đạo luật gốc là Hiến pháp, hệ thống pháp luật đã
    từng bước hoàn thiện, bảo đảm chức năng điều chỉnh
    các quan hệ xã hội trong hầu hết các lĩnh vực của đời
    sống. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt
    được cũng vẫn còn tồn tại không ít những bất cập,
    vướng mắc như: Sự chồng chéo, mâu thuẫn trong
    quy định giữa các văn bản quy phạm pháp luật ở
    nhiều cấp độ; Quy định của pháp luật dễ bị lạc hậu,
    không theo kịp sự thay đổi của xã hội dẫn đến phải
    thường xuyên sửa đổi, bổ sung, thay thế: Trong các
    lĩnh vực như pháp luật về đất đai, thuế, khối lượng
    văn bản quy phạm pháp luật ban hành để hướng
    dẫn luật, nghị định đã rất đồ sộ nhưng những văn
    bản này lại không ngừng được sửa đổi, bổ sung, thay
    thế, v.v. và những văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế
    đó lại tiếp tục được bổ sung, sửa đổi dẫn đến ngoài
    17

    việc nhiều về số lượng lại phức tạp về khả năng đọc
    hiểu, nắm bắt nội dung, khó khăn trong việc xác
    định một nội dung quy định nào đó có đang còn hiệu
    lực áp dụng hay không, đã bị sửa đổi, bổ sung hay
    thay thế chưa, v.v.. Nhiều văn bản quy phạm pháp
    luật có tuổi thọ ngắn, thiếu tính ổn định như vừa
    mới ban hành đã phải hoãn thi hành để sửa đổi, bổ
    sung gấp như Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng đến
    năm 2017 đã phải ban hành Luật sửa đổi, bổ sung
    một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó lỗi cần
    phải sửa đổi, bổ sung còn nhiều bao gồm cả lỗi về kỹ
    thuật và lỗi về nội dung.
    4. Công tác quản lý nhà nước ở nhiều lĩnh
    vực như tài chính, ngân hàng, không gian
    mạng, đất đai, công chứng... còn tồn tại sơ hở,
    thiếu sót
    Sự phối hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp
    chưa đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả chưa cao; cấp ủy,
    người đứng đầu một số địa phương thiếu quyết liệt
    trong chỉ đạo phòng ngừa, xử lý các hoạt động lừa
    đảo chiếm đoạt tài sản. Tình hình tội phạm và vi
    phạm pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp một
    phần là do công tác quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh
    vực còn một số tồn tại, thiếu sót, còn kẽ hở cho tội
    phạm lợi dụng hoạt động. Công tác phòng ngừa tội
    phạm chưa mang lại hiệu quả thực chất. Tỷ lệ giải
    quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố
    chưa đạt chỉ tiêu đề ra, còn vi phạm trong hoạt động
    điều tra, xử lý tội phạm; vi phạm hành chính còn
    diễn ra phổ biến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội,
    18

    công tác quản lý cư trú, hoạt động xuất, nhập cảnh
    của người nước ngoài tại Việt Nam còn sơ hở, thiếu
    sót... Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu
    trên chủ yếu là do tình hình thế giới, khu vực diễn
    biến phức tạp, hệ thống các văn bản pháp luật vẫn
    đang tiếp tục được hoàn thiện; các nguồn lực cho
    công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật
    chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; trình độ nghiệp vụ,
    tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ thực thi
    pháp luật còn hạn chế, thậm chí có sai phạm, tiêu
    cực trong thực hiện nhiệm vụ... làm ảnh hưởng đến
    hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật1.
    III
    HỆ LỤY CỦA HÀNH VI LỪA ĐẢO
    CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
    1. Khó thu hồi lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt
    Hậu quả từ thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
    đặc biệt là thủ đoạn lừa đảo thông qua không gian
    mạng rất khó khắc phục một cách đầy đủ và trọn
    vẹn. Bởi dòng tiền trong các vụ án lừa đảo qua mạng
    xã hội biến động rất nhanh, di chuyển liên tục, rất
    khó kiểm soát, nếu Cơ quan điều tra không khẩn
    trương tiến hành các biện pháp phong tỏa tài khoản,
    đóng băng dòng tiền để ngăn chặn thì các đối tượng
    ___________
    1. http://socongthuong.binhduong.gov.vn/xem-chi-tiet/quanly-nha-nuoc-trong-nhieu-linh-vuc-con-ke-ho-cho-toi-pham-loidung-hoat-dong.

    19

    sẽ tẩu tán tài sản rất nhanh như chuyển đến tài
    khoản nước ngoài, chuyển đổi sang các dạng tài sản
    khác hoặc mua tiền ảo, vật phẩm ảo trong game làm
    dòng tiền biến mất. Sau khi nạn nhân chuyển tiền
    vào các tài khoản theo yêu cầu, số tiền này ngay lập
    tức được chuyển đi nhiều tài khoản khác nhau và
    chủ các tài khoản nhận tiền chuyển đến là những
    người được một hoặc một số đối tượng không rõ lai
    lịch nhờ mở tài khoản và trả tiền công, sau đó các
    đối tượng sẽ sử dụng những tài khoản này. Vì thế
    rất khó biết được dòng tiền đi đâu, không xác định
    được các đối tượng thực hiện hành vi nên việc điều
    tra xử lý và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt trong
    nhiều trường hợp là rất khó khăn.
    2. Khó xử lý, truy cứu trách nhiệm trong
    một số trường hợp
    Thời gian qua, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19
    gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đầu tư, kinh
    doanh, các sàn giao dịch tiền ảo có dấu hiệu hoạt
    động mạnh mẽ trở lại, tăng cả về số lượng người
    dùng và số lượng sàn giao dịch. Về phương thức hoạt
    động, khi đầu tư người dân phải sử dụng tiền thật để
    mua đồng tiền ảo, sau đó nạp tiền ảo này vào tài
    khoản của công ty sở hữu sàn giao dịch để mua tiền
    ảo nội bộ với các tên gọi khác nhau như “gem”, “xu”,
    “kim cương”, “thiên kim”,... Sau khi số lượng tiền ảo
    nạp vào đủ lớn, đối tượng đứng sau các sàn giao dịch
    sẽ đánh sập sàn hoặc đưa giá trị tiền ảo nội bộ (gem,
    xu, kim cương,...) tụt dốc và chiếm đoạt toàn bộ số
    tiền mà khách hàng đã bỏ ra để mua tiền ảo nội bộ.
    Mặc dù đã xảy ra nhiều vụ việc lừa đảo liên quan
    20

    đến sàn giao dịch tiền ảo, tuy nhiên hiện nay pháp
    luật Việt Nam không công nhận tiền ảo là phương
    thức thanh toán, là tài sản hay một loại hàng hóa,
    dịch vụ, vì vậy cơ quan chức năng không có căn cứ để
    bảo vệ nạn nhân.
    Có thể thấy, đặc điểm chung của những dạng thủ
    đoạn này cũng giống với các dạng lừa đảo khác đó là
    đánh vào lòng tham của các nạn nhân, như việc
    không cần mất phí vẫn nhận được phần quà giá trị lớn,
    đưa ra mức lãi suất đầu tư siêu lợi nhuận. Tuy nhiên,
    các dạng thủ đoạn này nguy hiểm và dễ dẫn dụ hơn
    rất nhiều vì thực hiện có hệ thống, có sự bàn bạc và
    câu kết thực hiện một cách bài bản, một số sàn giao
    dịch tiền ảo đã phát triển thành các ứng dụng (app)
    có thể đăng ký, nạp tiền, sử dụng dễ dàng ngay trên
    điện thoại thông minh, việc tiếp cận thuận lợi với các
    ứng dụng này giúp cho các đối tượng có một số lượng
    “con mồi” đông đảo. Tính cá nhân trong việc sử dụng
    các ứng dụng khiến cho hành vi lừa đảo khó bị phát
    hiện hơn, người dùng khi bị thua lỗ thường không
    dám nói ra ngoài, có tâm lý cố gắng “hồi vốn” và
    ngày càng mất nhiều tiền cho các ứng dụng lừa đảo1.
    3. Gây ra nhiều hệ lụy cho cá nhân, gia đình
    và xã hội
    Hệ lụy đầu tiên và dễ dàng nhận thấy đó là nạn
    nhân bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản với khả năng
    ___________
    1. https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/nhandien-mot-so-thu-doan-lua-dao-chiem-doat-tai-san-d10t9002.html.

    21

    thu hồi lại gần như không thể, trở nên mất niềm tin
    vào người khác, sống khép kín, dễ dẫn đến bị trầm
    cảm. Một số nạn nhân còn vay mượn tiền người thân,
    bạn bè, vay nóng để đầu tư vào các sàn giao dịch tiền
    điện tử và sau khi bị lừa mất toàn bộ số tiền đã đầu
    tư, đối diện với nợ nần dẫn đến quẫn bách, suy nghĩ
    tiêu cực và tìm đến cái chết để giải thoát.
    Không thể phủ nhận yếu tố kinh tế giữ vai trò
    rất quan trọng trong đời sống gia đình, bởi thế một
    khi có vấn đề về kinh tế các thành viên trong gia
    đình sẽ thường xảy ra các mâu thuẫn, đặc biệt khi
    người vợ/chồng vì hám lợi mà giấu các thành viên
    còn lại, đem tất cả tài sản chung của gia đình để đầu
    tư rồi bị lừa đảo chiếm đoạt hết. Ban đầu những
    mâu thuẫn xảy ra có thể chỉ là cự cãi nhưng đôi khi
    nó lại đẩy lên thành bạo lực gia đình, thậm chí dẫn
    đến ly hôn, gia đình ly tán, gây ảnh hưởng nghiêm
    trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của những
    người trong gia đình.
    Dưới khía cạnh xã hội, khi các hành vi lừa đảo
    chiếm đoạt tài sản vẫn không ngừng biến đổi dưới
    nhiều hình thức khác nhau, ngày càng tinh vi, số
    nạn nhân của hành vi lừa đảo ngày càng nhiều mà
    chưa kịp phòng ngừa và xử lý hết dễ dẫn đến tâm lý
    hoang mang, sợ hãi cho người dân, khi những nạn
    nhân bị lừa đảo túng quẫn kinh tế thì lại là cơ hội
    tốt để các đối tượng cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê v.v.
    hoạt động, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh
    hưởng đến an ninh, trật tự, hoạt động sản xuất, kinh
    doanh của doanh nghiệp và đời sống nhân dân.

    22

    PHẦN II

    KHUNG PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HÀNH VI LỪA ĐẢO
    CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
    Hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản được
    hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ
    sở hữu, người quản lý tài sản tin tưởng mà giao tài
    sản cho người thực hiện hành vi hoặc người khác để
    chiếm đoạt tài sản đó. Hành vi lừa đảo nhằm chiếm
    đoạt tài sản được xác định là hành vi vi phạm pháp
    luật và tuỳ thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội
    của hành vi mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
    nếu xác định đó là tội phạm hoặc bị xử phạt vi
    phạm hành chính nếu xác định hành vi đó vi phạm
    hành chính.
    I
    TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
    1. Quy định chung về tội phạm
    Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015,
    sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm
    2015) quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
    xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do
    người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp
    nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
    23

    xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
    lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ
    kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
    an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
    xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp
    của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của
    trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định
    của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
    Lưu ý: Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội
    phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không
    đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý
    bằng các biện pháp khác1.
    1.1. Cấu thành tội phạm
    Từ khái niệm về tội phạm tại Điều 8 Bộ luật
    Hình sự năm 2015, một hành vi chỉ được xem là tội
    phạm nếu thỏa mãn được các yếu tố cấu thành đối
    với loại tội phạm đó. Cụ thể, một hành vi cấu thành
    tội phạm phải bao gồm bốn yếu tố bắt buộc, trong
    mỗi yếu tố đó có những yếu tố bắt buộc phải có trong
    mọi loại tội phạm nhưng cũng có những yếu tố
    không bắt buộc như sau:
    Mặt khách quan: Hành vi nguy hiểm cho xã hội,
    hậu quả của hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa
    hành vi và hậu quả; điều kiện, hoàn cảnh, không
    gian, công cụ, phương tiện thực hiện;
    Mặt chủ quan: Yếu tố có lỗi, động cơ, mục đích;
    Mặt khách thể: Xâm phạm các quan hệ xã hội
    được pháp luật hình sự bảo vệ;
    ___________
    1. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    24

    Mặt chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình
    sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện.
    1.2. Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm
    (i) Về mặt khách quan
    Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015
    quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
    được quy định trong Bộ luật Hình sự. Bởi lẽ có rất
    nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội và mức độ của
    những hành vi này cũng không giống nhau, một
    hành vi chỉ được xem là hành vi phạm tội khi hành
    vi được quy định trong Bộ luật Hình sự (tính chất
    nguy hiểm cao) như hành vi giết người, hành vi hiếp
    dâm, hành vi cướp tài sản v.v.. Ngược lại nếu một
    hành vi cũng nguy hiểm cho xã hội nhưng không
    được quy định trong Bộ luật Hình sự thì không phải
    là hành vi phạm tội, nội dung này được làm rõ hơn
    tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật này quy định: Những
    hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính
    chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không
    phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp
    khác. Biện pháp khác ở đây có thể là biện pháp xử lý
    hành chính hoặc dân sự.
    (ii) Về mặt chủ quan
    Lỗi là yếu tố bắt buộc phải có trong mặt chủ
    quan của cấu thành tội phạm, lỗi bao gồm lỗi cố ý và
    lỗi vô ý. Theo định nghĩa Từ điển Tiếng Việt thì lỗi
    là “điều sai sót, không nên, không phải trong cách cư
    xử, trong hành động”1. Như vậy, nếu một người thực
    ___________
    1. Trung tâm Từ điển học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà
    Nẵng, Đà Nẵng, 2009, tr.719.

    25

    hiện một hành vi mà không có lỗi (cố ý hoặc vô ý) thì
    dù họ có thoả mãn được ba điều kiện còn lại trong
    cấu thành tội phạm thì hành vi đó vẫn không được
    xem là hành vi phạm tội.
    - Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường
    hợp sau đây1:
    + Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình
    là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành
    vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý trực tiếp);
    + Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình
    là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của
    hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn
    nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý
    gián tiếp).
    - Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường
    hợp sau đây2:
    + Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của
    mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội
    nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có
    thể ngăn ngừa được (vô ý do quá tự tin);
    + Người phạm tội không thấy trước hành vi của
    mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc
    dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
    (vô ý do cẩu thả).
    (iii) Về mặt khách thể
    Các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
    ngay trong khái niệm tội phạm, bao gồm các/nhóm
    ___________
    1, 2. Điều 10, Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    26

    quan hệ xã hội sau: độc lập, chủ quyền, thống nhất,
    toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ
    kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
    an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
    quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công
    dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
    hội chủ nghĩa.
    (iv) Về mặt chủ thể
    - Do người có năng lực trách nhiệm hình sự
    hoặc pháp nhân thương mại thực hiện, đây cũng là
    điều kiện bắt buộc phải thỏa mãn để xác định một
    cá nhân, pháp nhân thương mại nào đó có phạm tội
    hay không. Nếu chủ thể thực hiện hành vi nhưng
    không có năng lực trách nhiệm hình sự tương ứng
    với hành vi đó, ví dụ: một cậu bé 10 tuổi ném đá
    vào đầu bạn chơi cùng gây thương tích 50%. Trong
    ví dụ này, mặc dù hậu quả của hành vi là nghiêm
    trọng, có mối quan hệ nhân quả giữa thương tích và
    hành vi ném đá nhưng cậu bé này chưa đủ tuổi
    chịu trách nhiệm hình sự (nói cách khác là chưa có
    năng lực chịu trách nhiệm hình sự) nên cậu bé
    không phạm tội cố ý gây thương tích, tổn hại cho
    sức khoẻ của người khác.
    - Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự1
    + Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
    nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm
    mà Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định khác.
    ___________
    1. Điều 12 Bộ luậ...
     
    Gửi ý kiến