CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
NhanDienCacThuDoanLuaDaoChiemDoatTaiSan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:43' 04-05-2024
Dung lượng: 7.9 MB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:43' 04-05-2024
Dung lượng: 7.9 MB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
VŨ TRỌNG LÂM
Thành viên
NGUYỄN HOÀI ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TỐNG VĂN THANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hiện nay, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là
một trong những loại tội phạm xảy ra khá phổ biến ở
nước ta, chủ yếu xuất phát và ẩn giấu qua các giao
dịch dân sự nên thường khó phát hiện và ngăn ngừa.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, hành vi
lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ thông qua các
hành vi vay, mượn tiền, tài sản đơn thuần mà đã
xuất hiện dưới nhiều dạng hành vi khác. Có nhiều
nguyên nhân, điều kiện để các đối tượng phạm tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản lợi dụng hoạt động. Sự
phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong điều
kiện công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập,
đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, tài chính ngân
hàng, quản lý các giao dịch dân sự là điều kiện cho
các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh, tố giác tội
phạm, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác cho
các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân
trước các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của tội
phạm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất
bản cuốn sách Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo
chiếm đoạt tài sản và biện pháp phòng ngừa
do Luật gia Trương Ngọc Liêu biên soạn.
5
Cuốn sách tổng hợp một số vụ án, vụ việc có dấu
hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản bị phát hiện, đã xử lý
trong thực tiễn, qua đó tìm hiểu nguyên nhân và hệ lụy
của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các cách
thức nhận diện những thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản phổ biến và đề xuất một số biện pháp phòng
ngừa để góp phần nâng cao hiệu quả kiềm chế, ngăn
chặn loại tội phạm này.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2023
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và biện pháp phòng ngừa ra đời trong
bối cảnh loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
đang ngày càng gia tăng, đặc biệt là các thủ đoạn
lừa đảo thông qua không gian mạng Internet, mạng
viễn thông với thủ đoạn ngày càng tinh vi, hậu quả
ngày càng lớn. Kết cấu cuốn sách gồm bốn phần,
Phần I nêu lên thực trạng các vụ án lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trong phạm vi cả nước trong thời gian
gần đây; tỷ lệ tội phạm lừa đảo theo thủ đoạn truyền
thống; tỷ lệ lừa đảo thông qua không gian mạng và
những hệ lụy của những hành vi lừa đảo này đến đời
sống của cá nhân, gia đình và xã hội. Phần II làm rõ
các quy định pháp luật, khung pháp lý áp dụng đối
với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Phần III chỉ
ra cách nhận diện từng thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản cụ thể, đồng thời thông tin về vụ việc trên
thực tế đã xảy ra sau mỗi thủ đoạn, trong đó có
những vụ việc đã đưa ra xét xử và kết án, có những
vụ việc đang trong quá trình điều tra, truy tố...
(tham khảo qua các bài báo, bài viết đã đăng tải trên
các báo viết, báo điện tử thời gian qua) để bạn đọc có
được những thông tin chi tiết và thực tế nhất về thủ
đoạn của các đối tượng lừa đảo, cũng như thấy được
hậu quả pháp lý của việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản
7
của người khác sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật như thế nào. Phần IV đề xuất các biện pháp
phòng ngừa đối với các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, trong đó có các biện pháp phòng ngừa
chung từ phía cơ quan nhà nước cũng như đối với
từng cá nhân và một số biện pháp phòng ngừa cụ
thể đối với từng thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài
sản được liệt kê.
Các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các
đối tượng thường biến đổi liên tục để “thích nghi” với
các biện pháp phòng ngừa mà các cơ quan chức năng
và từng cá nhân mỗi người đã nắm bắt được. Tuy
nhiên, cho dù có biến đổi như thế nào, thủ đoạn tinh
vi đến đâu thì các đối tượng lừa đảo cũng có những
đặc điểm chung, đều dựa vào các điều kiện tiên
quyết là: lòng tham, sự sợ hãi, sự nhẹ dạ cả tin và sự
thiếu hiểu biết của nạn nhân để thực hiện hành vi
lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, chỉ cần khắc phục
được một trong bốn yếu tố này là đã góp phần giảm
đi đáng kể khả năng bị lừa đảo. Cách khắc phục như
thế nào được trình bày rất rõ tại Mục I.2 Phần IV
cuốn sách này. Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc
trở nên nhạy bén hơn, tinh tường hơn để đối phó với
các thủ đoạn lừa đảo đang diễn ra phổ biến hiện nay
cũng như trong tương lai.
TÁC GIẢ
8
PHẦN I
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HỆ LỤY
CỦA HÀNH VI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
I
THỰC TRẠNG LOẠI TỘI PHẠM LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Theo trang điện tử Công an tỉnh Đắk Lắk1, trong
5 năm từ 2015-2019, Công an toàn quốc đã phát
hiện, khởi tố điều tra 10.360 vụ và 11.410 bị can về
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, số tiền bị chiếm đoạt
lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Tội phạm lừa đảo chiếm
đoạt tài sản không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho
Nhà nước, xã hội và công dân mà còn ảnh hưởng tiêu
cực đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Hàng loạt
những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản lớn đã được
đưa ra xét xử như: Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như lừa
đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều ngân hàng và cá
nhân với tổng số tiền hơn 4.900 tỷ đồng; vụ án Lê
Xuân Giang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty
Liên kết Việt và đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt
___________
1. https://congan.daklak.gov.vn/-/mot-so-tinh-hinh-noi-lencua-toi-pham-lua-ao-chiem-oat-tai-san.
9
2.000 tỷ đồng của 60.000 người; vụ Chu Minh Ngọc,
Giám đốc Công ty Cimco cùng đồng bọn lập khống
hồ sơ mua bán thép để hợp thức hồ sơ vay vốn lừa
đảo chiếm đoạt 1.124 tỷ đồng của 7 ngân hàng; vụ
Phan Bá Tòng, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu
hạn xuất nhập khẩu thủy sản Thiên Mã có hành vi
lừa đảo chiếm đoạt 700 tỷ đồng của các ngân hàng
và khách hàng; vụ Công ty Cổ phần thương mại đầu
tư Phúc Gia Bảo lừa đảo chiếm đoạt 178 tỷ đồng1.
Ngoài các thủ đoạn lừa đảo truyền thống như:
Giả danh cán bộ cơ quan nhà nước, người nhà lãnh
đạo cấp cao để lừa xin việc làm, “chạy chức”, “chạy
án”; làm, sử dụng các loại giấy tờ, tài liệu giả liên
quan đến quyền sở hữu tài sản để cầm cố, thế chấp,
mua bán; lừa đảo trong hoạt động đầu tư, kinh
doanh bất động sản, v.v.. Các đối tượng còn lợi dụng
không gian mạng để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, với phương thức thủ đoạn hết sức tinh vi, đa
dạng về cách tiếp cận các nạn nhân, nhiều vụ có
lượng lớn người bị hại tham gia tại nhiều địa phương
trên khắp cả nước, một số thủ đoạn điển hình như:
Sử dụng mạng xã hội để kết bạn, thông báo gửi quà,
sau đó giả danh nhân viên sân bay, hải quan, thuế
để yêu cầu người bị hại nộp tiền cước vận chuyển,
thuế, phí, tiền phạt... vào các tài khoản ngân hàng
được chỉ định rồi chiếm đoạt; giả danh cán bộ cơ
quan nhà nước, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án gọi
điện thông báo chủ thuê bao có liên quan đến vụ án,
___________
1. https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/giai-phaphan-che-muc-do-an-cua-toi-pham-lua-dao-c-d10-t770.html.
10
vụ việc đang giải quyết rồi đe dọa, yêu cầu bị hại
chuyển để chiếm đoạt, v.v..
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tội phạm học
cũng đã xác định: “Các tội phạm kinh tế là những tội
phạm có độ ẩn cao. Số liệu thống kê về những tội
phạm đã được phát hiện, điều tra và xử lý chỉ phản
ánh một phần của tội phạm đã xảy ra, còn một phần
quan trọng khác mà cơ quan pháp luật chưa nắm
bắt được, chưa phát hiện được”1.
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia
có tốc độ phát triển và ứng dụng Internet cao nhất
thế giới, việc mạng xã hội đang được sử dụng công
khai với số lượng người tham gia đông đảo trên các
ứng dụng như Facebook, Zalo, Instagram, TikTok, v.v.
cùng với việc nhận thức còn hạn chế, nhẹ dạ cả tin,
hám lợi, mất cảnh giác của một bộ phận người dùng
là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng phạm tội.
Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước trong một số
lĩnh vực như: Tài chính, ngân hàng, không gian
mạng, đất đai, công chứng còn tồn tại nhiều thiếu
sót, bất cập; chính sách pháp luật trên một số lĩnh
vực chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, tạo kẽ hở để các
đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm
đoạt tài sản.
Theo Đại tá Trương Sơn Lâm, Phó Cục trưởng
Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử
dụng công nghệ cao2, Bộ Công an, tình hình tội phạm
___________
1. Nguyễn Xuân Yêm: Tội phạm học hiện đại và phòng
ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
2. Hiện giữ chức vụ Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre (BT).
11
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng
diễn biến ngày càng phức tạp với nhiều phương
thức, thủ đoạn tinh vi, có tính chất xuyên quốc gia,
gây thiệt hại lớn và bức xúc trong nhân dân, xảy ra
chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Đồng Nai... Đặc biệt lợi
dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp,
thực hiện chủ trương giãn cách xã hội, nhiều hoạt
động xã hội “dịch chuyển” lên không gian mạng nên
tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản càng gia tăng
hoạt động.
Năm 2020, phát hiện khoảng 4.100 vụ việc liên
quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua
không gian mạng; trong đó có 776 vụ việc lừa đảo
qua mạng viễn thông bằng thủ đoạn giả danh cơ
quan thực thi pháp luật (Công an, Tòa án, Viện
kiểm sát), các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn
thông, bưu điện..., đe dọa, yêu cầu người bị hại
cung cấp thông tin tài khoản hoặc chuyển tiền.
Riêng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm
sử dụng công nghệ cao đã tiến hành xác minh, điều
tra 18 vụ; khởi tố 5 vụ án và 27 bị can; đang tiếp
tục xác minh hơn 10 vụ.
Nổi bật là vào tháng 01/2020 Cục An ninh mạng
và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
đã phối hợp với Công an tỉnh Quảng Nam, Công an
Thành phố Hồ Chí Minh đấu tranh, triệt phá
Chuyên án bắt giữ, khởi tố 10 đối tượng, trong đó có
2 đối tượng người Malaixia, đã phong tỏa 55 tài khoản
của bị hại là người Việt Nam với số tiền 3,7 tỷ đồng
12
và nhiều tài sản, tài liệu có liên quan, tổng số tiền
các đối tượng chiếm đoạt lên tới hơn 500 tỷ đồng;
Tháng 6/2020, Cục cũng đã phối hợp với Công an
tỉnh Thừa Thiên Huế triệt phá thành công chuyên
án đấu tranh với nhóm đối tượng lừa đảo chiếm đoạt
tài sản qua Facebook, bắt giữ 3 đối tượng đã lừa đảo
chiếm đoạt tài sản của gần 500 nạn nhân trên cả
nước với tổng số tiền lên đến 117 tỷ đồng1...
Tính từ ngày 25/5/2020 đến 24/5/2021, toàn quốc
đã phát hiện xảy ra 5.408 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, trong đó: 2.894 vụ lừa đảo theo các phương thức
truyền thống (chiếm hơn 53,5% tổng số vụ phát hiện);
2.514 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian
mạng (chiếm 46,5% tổng số vụ). Đáng chú ý trong đó
có nhiều chuyên án, vụ án lớn, được các ngành, các
cấp ghi nhận và đánh giá cao, dư luận quần chúng
nhân dân đặc biệt quan tâm, góp phần bảo đảm an
ninh, trật tự, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và đời sống Nhân dân2.
Với sự chuyển dịch sang nền kinh tế số và hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh
vực, các sản phẩm tài chính ngày càng đa dạng,
nhiều hình thức giao dịch điện tử, trực tuyến được
triển khai, trong khi năng lực tiếp cận kinh tế số của
nước ta còn hạn chế, các yếu tố nền tảng như thể chế,
___________
1. https://cand.com.vn/Phap-luat/Can-trong-voi-toi-phamlua-dao-chiem-doat-tai-san-khi-tham-gia-khong-gian-mangi591084/.
2. https://congan.daklak.gov.vn/-/mot-so-tinh-hinh-noilen- cua-toi-pham-lua-dao-chiem-doat-tai-san.
13
hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ còn
thấp, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
nhất là lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian
mạng sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng
gia tăng với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng
tinh vi, xảo quyệt, hoạt động xuyên quốc gia, có sự
cấu kết giữa nhiều đối tượng trong và ngoài nước,
nếu không kịp thời phát hiện, ngăn chặn thì hậu
quả thiệt hại sẽ rất nghiêm trọng.
II
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG
LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung
và lừa đảo qua không gian mạng nói riêng diễn biến
ngày càng phức tạp và gia tăng với thủ đoạn ngày
càng tinh vi chủ yếu do một số nguyên nhân sau:
1. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp
luật chưa thật sự hiệu quả
Hiện nay, công tác đẩy mạnh tuyên truyền,
phòng ngừa hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản đã
và đang được thực hiện mạnh mẽ ở tất cả các cơ
quan, ban ngành ở các cấp độ khác nhau và cũng đã
đạt được những thành tích nhất định, đặc biệt là kể
từ khi Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ
tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, xử lý
hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từng cơ quan,
tổ chức và cá nhân có phương thức tuyên truyền,
14
phổ biến phù hợp với cơ cấu tổ chức, quản lý, chức
năng và quyền hạn của mình để thực hiện công tác
tuyên truyền nhằm đạt hiệu quả tối đa. Các hình
thức tuyên truyền rất phong phú, đa dạng, như
thông qua trang Facebook, nhóm Zalo đã kịp thời
trao đổi thông tin cũng như nắm bắt tình hình trên
địa bàn về phòng, chống tội phạm, lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, và các văn bản quy phạm pháp luật; tổ
chức tháng cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp
luật trong đó có pháp luật về phòng, chống tội
phạm, các văn bản pháp luật khác liên quan trực
tiếp đến phòng ngừa xử lý hoạt động lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, phòng ngừa “tín dụng đen”... Tuyên
truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, công tác phòng, chống tội phạm,
phòng ngừa “Tín dụng đen” nhất là hiện tượng lô
đề, cá cược, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lừa đảo trên
không gian mạng, xuất khẩu lao động trái phép,
xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới nhằm lừa
đảo, chiếm đoạt tài sản... đến đông đảo các tầng lớp
nhân dân.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng công tác
tuyên truyền, phổ biến về chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong
phát triển kinh tế - xã hội và phòng ngừa các hành
vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa sâu rộng, người
dân chưa được tiếp cận kịp thời đầy đủ, chính xác
thông tin, nhất là các thông tin về quy hoạch, chế độ,
chính sách an sinh xã hội, đầu tư, sản xuất, kinh
doanh... Nguyên nhân có thể do:
15
- Cán bộ làm công tác tuyên truyền ít được tập
huấn để nâng cao khả năng chuyên môn. Vì vậy việc
tuyên truyền, triển khai chủ trương, nghị quyết chỉ
đạt ở mức độ nhất định, chưa đáp ứng tốt yêu cầu;
tài liệu tuyên truyền còn hạn chế, nội dung chưa đáp
ứng cho các đối tượng cần được tuyên truyền.
- Một số cấp ủy, chính quyền ở cơ sở chưa quan
tâm đúng mức cho công tác tuyên truyền, còn chỉ
đạo chung chung trong thực hiện.
- Thông tin không được mở rộng, phân tích thêm,
vì vậy chưa tạo được tính hấp dẫn đối với người nghe.
2. Hạn chế trong nhận thức và mất cảnh
giác của một bộ phận nhân dân để tội phạm
lợi dụng
Mục đích của hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt
tài sản, phương thức và thủ đoạn thực hiện rất tinh vi
và vô cùng bài bản, có kế hoạch, có kịch bản rõ ràng;
có sự câu kết, phân chia vai trò thực hiện chặt chẽ.
Bởi thế, chỉ cần sự thiếu cảnh giác phòng ngừa là sẽ
trở thành nạn nhân của loại tội phạm này.
So với mặt bằng chung của thế giới nói chung và
so với các nước phát triển nói riêng, trình độ dân trí
của Việt Nam vẫn còn khá thấp, đặc biệt là hiểu biết
về công nghệ, không gian mạng Internet... do đó, sẽ
tạo ra những khó khăn nhất định trong việc định
hình, đánh giá được dấu hiệu hành vi lừa đảo của
loại tội phạm sử dụng công nghệ cao. Hiểu biết về
pháp luật của người dân cũng là một điểm hạn chế
khi tỷ lệ người học đại học vẫn còn thấp (chưa tới
30%) mà môn pháp luật đại cương chỉ được đưa vào
chương trình đào tạo hệ cao đẳng, đại học, ở các cấp
16
học thấp hơn, việc giáo dục pháp luật còn hạn chế,
chưa được phổ biến, giáo dục pháp luật về tội phạm
lừa đảo chiếm đoạt tài sản lại càng hiếm hơn. Xuất
phát từ các yếu tố trên dẫn đến việc nạn nhân của
loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt
Nam vẫn còn nhiều, giá trị tài sản bị lừa đảo chiếm
đoạt ngày càng gia tăng.
3. Các quy định pháp luật về một số lĩnh
vực chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp
với thực tiễn, chưa được hướng dẫn, sửa đổi, bổ
sung kịp thời
Kể từ khi Hiến pháp năm 2013 ra đời, hàng loạt
các bộ luật, luật và văn bản quy phạm pháp luật mới
được ban hành để thể chế hóa những quy định trong
đạo luật gốc là Hiến pháp, hệ thống pháp luật đã
từng bước hoàn thiện, bảo đảm chức năng điều chỉnh
các quan hệ xã hội trong hầu hết các lĩnh vực của đời
sống. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt
được cũng vẫn còn tồn tại không ít những bất cập,
vướng mắc như: Sự chồng chéo, mâu thuẫn trong
quy định giữa các văn bản quy phạm pháp luật ở
nhiều cấp độ; Quy định của pháp luật dễ bị lạc hậu,
không theo kịp sự thay đổi của xã hội dẫn đến phải
thường xuyên sửa đổi, bổ sung, thay thế: Trong các
lĩnh vực như pháp luật về đất đai, thuế, khối lượng
văn bản quy phạm pháp luật ban hành để hướng
dẫn luật, nghị định đã rất đồ sộ nhưng những văn
bản này lại không ngừng được sửa đổi, bổ sung, thay
thế, v.v. và những văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế
đó lại tiếp tục được bổ sung, sửa đổi dẫn đến ngoài
17
việc nhiều về số lượng lại phức tạp về khả năng đọc
hiểu, nắm bắt nội dung, khó khăn trong việc xác
định một nội dung quy định nào đó có đang còn hiệu
lực áp dụng hay không, đã bị sửa đổi, bổ sung hay
thay thế chưa, v.v.. Nhiều văn bản quy phạm pháp
luật có tuổi thọ ngắn, thiếu tính ổn định như vừa
mới ban hành đã phải hoãn thi hành để sửa đổi, bổ
sung gấp như Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng đến
năm 2017 đã phải ban hành Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó lỗi cần
phải sửa đổi, bổ sung còn nhiều bao gồm cả lỗi về kỹ
thuật và lỗi về nội dung.
4. Công tác quản lý nhà nước ở nhiều lĩnh
vực như tài chính, ngân hàng, không gian
mạng, đất đai, công chứng... còn tồn tại sơ hở,
thiếu sót
Sự phối hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp
chưa đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả chưa cao; cấp ủy,
người đứng đầu một số địa phương thiếu quyết liệt
trong chỉ đạo phòng ngừa, xử lý các hoạt động lừa
đảo chiếm đoạt tài sản. Tình hình tội phạm và vi
phạm pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp một
phần là do công tác quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh
vực còn một số tồn tại, thiếu sót, còn kẽ hở cho tội
phạm lợi dụng hoạt động. Công tác phòng ngừa tội
phạm chưa mang lại hiệu quả thực chất. Tỷ lệ giải
quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố
chưa đạt chỉ tiêu đề ra, còn vi phạm trong hoạt động
điều tra, xử lý tội phạm; vi phạm hành chính còn
diễn ra phổ biến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội,
18
công tác quản lý cư trú, hoạt động xuất, nhập cảnh
của người nước ngoài tại Việt Nam còn sơ hở, thiếu
sót... Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu
trên chủ yếu là do tình hình thế giới, khu vực diễn
biến phức tạp, hệ thống các văn bản pháp luật vẫn
đang tiếp tục được hoàn thiện; các nguồn lực cho
công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật
chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; trình độ nghiệp vụ,
tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ thực thi
pháp luật còn hạn chế, thậm chí có sai phạm, tiêu
cực trong thực hiện nhiệm vụ... làm ảnh hưởng đến
hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật1.
III
HỆ LỤY CỦA HÀNH VI LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1. Khó thu hồi lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt
Hậu quả từ thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
đặc biệt là thủ đoạn lừa đảo thông qua không gian
mạng rất khó khắc phục một cách đầy đủ và trọn
vẹn. Bởi dòng tiền trong các vụ án lừa đảo qua mạng
xã hội biến động rất nhanh, di chuyển liên tục, rất
khó kiểm soát, nếu Cơ quan điều tra không khẩn
trương tiến hành các biện pháp phong tỏa tài khoản,
đóng băng dòng tiền để ngăn chặn thì các đối tượng
___________
1. http://socongthuong.binhduong.gov.vn/xem-chi-tiet/quanly-nha-nuoc-trong-nhieu-linh-vuc-con-ke-ho-cho-toi-pham-loidung-hoat-dong.
19
sẽ tẩu tán tài sản rất nhanh như chuyển đến tài
khoản nước ngoài, chuyển đổi sang các dạng tài sản
khác hoặc mua tiền ảo, vật phẩm ảo trong game làm
dòng tiền biến mất. Sau khi nạn nhân chuyển tiền
vào các tài khoản theo yêu cầu, số tiền này ngay lập
tức được chuyển đi nhiều tài khoản khác nhau và
chủ các tài khoản nhận tiền chuyển đến là những
người được một hoặc một số đối tượng không rõ lai
lịch nhờ mở tài khoản và trả tiền công, sau đó các
đối tượng sẽ sử dụng những tài khoản này. Vì thế
rất khó biết được dòng tiền đi đâu, không xác định
được các đối tượng thực hiện hành vi nên việc điều
tra xử lý và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt trong
nhiều trường hợp là rất khó khăn.
2. Khó xử lý, truy cứu trách nhiệm trong
một số trường hợp
Thời gian qua, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19
gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đầu tư, kinh
doanh, các sàn giao dịch tiền ảo có dấu hiệu hoạt
động mạnh mẽ trở lại, tăng cả về số lượng người
dùng và số lượng sàn giao dịch. Về phương thức hoạt
động, khi đầu tư người dân phải sử dụng tiền thật để
mua đồng tiền ảo, sau đó nạp tiền ảo này vào tài
khoản của công ty sở hữu sàn giao dịch để mua tiền
ảo nội bộ với các tên gọi khác nhau như “gem”, “xu”,
“kim cương”, “thiên kim”,... Sau khi số lượng tiền ảo
nạp vào đủ lớn, đối tượng đứng sau các sàn giao dịch
sẽ đánh sập sàn hoặc đưa giá trị tiền ảo nội bộ (gem,
xu, kim cương,...) tụt dốc và chiếm đoạt toàn bộ số
tiền mà khách hàng đã bỏ ra để mua tiền ảo nội bộ.
Mặc dù đã xảy ra nhiều vụ việc lừa đảo liên quan
20
đến sàn giao dịch tiền ảo, tuy nhiên hiện nay pháp
luật Việt Nam không công nhận tiền ảo là phương
thức thanh toán, là tài sản hay một loại hàng hóa,
dịch vụ, vì vậy cơ quan chức năng không có căn cứ để
bảo vệ nạn nhân.
Có thể thấy, đặc điểm chung của những dạng thủ
đoạn này cũng giống với các dạng lừa đảo khác đó là
đánh vào lòng tham của các nạn nhân, như việc
không cần mất phí vẫn nhận được phần quà giá trị lớn,
đưa ra mức lãi suất đầu tư siêu lợi nhuận. Tuy nhiên,
các dạng thủ đoạn này nguy hiểm và dễ dẫn dụ hơn
rất nhiều vì thực hiện có hệ thống, có sự bàn bạc và
câu kết thực hiện một cách bài bản, một số sàn giao
dịch tiền ảo đã phát triển thành các ứng dụng (app)
có thể đăng ký, nạp tiền, sử dụng dễ dàng ngay trên
điện thoại thông minh, việc tiếp cận thuận lợi với các
ứng dụng này giúp cho các đối tượng có một số lượng
“con mồi” đông đảo. Tính cá nhân trong việc sử dụng
các ứng dụng khiến cho hành vi lừa đảo khó bị phát
hiện hơn, người dùng khi bị thua lỗ thường không
dám nói ra ngoài, có tâm lý cố gắng “hồi vốn” và
ngày càng mất nhiều tiền cho các ứng dụng lừa đảo1.
3. Gây ra nhiều hệ lụy cho cá nhân, gia đình
và xã hội
Hệ lụy đầu tiên và dễ dàng nhận thấy đó là nạn
nhân bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản với khả năng
___________
1. https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/nhandien-mot-so-thu-doan-lua-dao-chiem-doat-tai-san-d10t9002.html.
21
thu hồi lại gần như không thể, trở nên mất niềm tin
vào người khác, sống khép kín, dễ dẫn đến bị trầm
cảm. Một số nạn nhân còn vay mượn tiền người thân,
bạn bè, vay nóng để đầu tư vào các sàn giao dịch tiền
điện tử và sau khi bị lừa mất toàn bộ số tiền đã đầu
tư, đối diện với nợ nần dẫn đến quẫn bách, suy nghĩ
tiêu cực và tìm đến cái chết để giải thoát.
Không thể phủ nhận yếu tố kinh tế giữ vai trò
rất quan trọng trong đời sống gia đình, bởi thế một
khi có vấn đề về kinh tế các thành viên trong gia
đình sẽ thường xảy ra các mâu thuẫn, đặc biệt khi
người vợ/chồng vì hám lợi mà giấu các thành viên
còn lại, đem tất cả tài sản chung của gia đình để đầu
tư rồi bị lừa đảo chiếm đoạt hết. Ban đầu những
mâu thuẫn xảy ra có thể chỉ là cự cãi nhưng đôi khi
nó lại đẩy lên thành bạo lực gia đình, thậm chí dẫn
đến ly hôn, gia đình ly tán, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của những
người trong gia đình.
Dưới khía cạnh xã hội, khi các hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản vẫn không ngừng biến đổi dưới
nhiều hình thức khác nhau, ngày càng tinh vi, số
nạn nhân của hành vi lừa đảo ngày càng nhiều mà
chưa kịp phòng ngừa và xử lý hết dễ dẫn đến tâm lý
hoang mang, sợ hãi cho người dân, khi những nạn
nhân bị lừa đảo túng quẫn kinh tế thì lại là cơ hội
tốt để các đối tượng cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê v.v.
hoạt động, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh
hưởng đến an ninh, trật tự, hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp và đời sống nhân dân.
22
PHẦN II
KHUNG PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HÀNH VI LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản được
hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ
sở hữu, người quản lý tài sản tin tưởng mà giao tài
sản cho người thực hiện hành vi hoặc người khác để
chiếm đoạt tài sản đó. Hành vi lừa đảo nhằm chiếm
đoạt tài sản được xác định là hành vi vi phạm pháp
luật và tuỳ thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
nếu xác định đó là tội phạm hoặc bị xử phạt vi
phạm hành chính nếu xác định hành vi đó vi phạm
hành chính.
I
TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1. Quy định chung về tội phạm
Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm
2015) quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp
nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
23
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định
của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Lưu ý: Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội
phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không
đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý
bằng các biện pháp khác1.
1.1. Cấu thành tội phạm
Từ khái niệm về tội phạm tại Điều 8 Bộ luật
Hình sự năm 2015, một hành vi chỉ được xem là tội
phạm nếu thỏa mãn được các yếu tố cấu thành đối
với loại tội phạm đó. Cụ thể, một hành vi cấu thành
tội phạm phải bao gồm bốn yếu tố bắt buộc, trong
mỗi yếu tố đó có những yếu tố bắt buộc phải có trong
mọi loại tội phạm nhưng cũng có những yếu tố
không bắt buộc như sau:
Mặt khách quan: Hành vi nguy hiểm cho xã hội,
hậu quả của hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi và hậu quả; điều kiện, hoàn cảnh, không
gian, công cụ, phương tiện thực hiện;
Mặt chủ quan: Yếu tố có lỗi, động cơ, mục đích;
Mặt khách thể: Xâm phạm các quan hệ xã hội
được pháp luật hình sự bảo vệ;
___________
1. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015.
24
Mặt chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình
sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện.
1.2. Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm
(i) Về mặt khách quan
Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015
quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật Hình sự. Bởi lẽ có rất
nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội và mức độ của
những hành vi này cũng không giống nhau, một
hành vi chỉ được xem là hành vi phạm tội khi hành
vi được quy định trong Bộ luật Hình sự (tính chất
nguy hiểm cao) như hành vi giết người, hành vi hiếp
dâm, hành vi cướp tài sản v.v.. Ngược lại nếu một
hành vi cũng nguy hiểm cho xã hội nhưng không
được quy định trong Bộ luật Hình sự thì không phải
là hành vi phạm tội, nội dung này được làm rõ hơn
tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật này quy định: Những
hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính
chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không
phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp
khác. Biện pháp khác ở đây có thể là biện pháp xử lý
hành chính hoặc dân sự.
(ii) Về mặt chủ quan
Lỗi là yếu tố bắt buộc phải có trong mặt chủ
quan của cấu thành tội phạm, lỗi bao gồm lỗi cố ý và
lỗi vô ý. Theo định nghĩa Từ điển Tiếng Việt thì lỗi
là “điều sai sót, không nên, không phải trong cách cư
xử, trong hành động”1. Như vậy, nếu một người thực
___________
1. Trung tâm Từ điển học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà
Nẵng, Đà Nẵng, 2009, tr.719.
25
hiện một hành vi mà không có lỗi (cố ý hoặc vô ý) thì
dù họ có thoả mãn được ba điều kiện còn lại trong
cấu thành tội phạm thì hành vi đó vẫn không được
xem là hành vi phạm tội.
- Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường
hợp sau đây1:
+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành
vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý trực tiếp);
+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của
hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn
nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý
gián tiếp).
- Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường
hợp sau đây2:
+ Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội
nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có
thể ngăn ngừa được (vô ý do quá tự tin);
+ Người phạm tội không thấy trước hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc
dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
(vô ý do cẩu thả).
(iii) Về mặt khách thể
Các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
ngay trong khái niệm tội phạm, bao gồm các/nhóm
___________
1, 2. Điều 10, Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015.
26
quan hệ xã hội sau: độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa.
(iv) Về mặt chủ thể
- Do người có năng lực trách nhiệm hình sự
hoặc pháp nhân thương mại thực hiện, đây cũng là
điều kiện bắt buộc phải thỏa mãn để xác định một
cá nhân, pháp nhân thương mại nào đó có phạm tội
hay không. Nếu chủ thể thực hiện hành vi nhưng
không có năng lực trách nhiệm hình sự tương ứng
với hành vi đó, ví dụ: một cậu bé 10 tuổi ném đá
vào đầu bạn chơi cùng gây thương tích 50%. Trong
ví dụ này, mặc dù hậu quả của hành vi là nghiêm
trọng, có mối quan hệ nhân quả giữa thương tích và
hành vi ném đá nhưng cậu bé này chưa đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự (nói cách khác là chưa có
năng lực chịu trách nhiệm hình sự) nên cậu bé
không phạm tội cố ý gây thương tích, tổn hại cho
sức khoẻ của người khác.
- Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự1
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm
mà Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định khác.
___________
1. Điều 12 Bộ luậ...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
VŨ TRỌNG LÂM
Thành viên
NGUYỄN HOÀI ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TỐNG VĂN THANH
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hiện nay, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là
một trong những loại tội phạm xảy ra khá phổ biến ở
nước ta, chủ yếu xuất phát và ẩn giấu qua các giao
dịch dân sự nên thường khó phát hiện và ngăn ngừa.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, hành vi
lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ thông qua các
hành vi vay, mượn tiền, tài sản đơn thuần mà đã
xuất hiện dưới nhiều dạng hành vi khác. Có nhiều
nguyên nhân, điều kiện để các đối tượng phạm tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản lợi dụng hoạt động. Sự
phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong điều
kiện công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập,
đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, tài chính ngân
hàng, quản lý các giao dịch dân sự là điều kiện cho
các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh, tố giác tội
phạm, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác cho
các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân
trước các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của tội
phạm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất
bản cuốn sách Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo
chiếm đoạt tài sản và biện pháp phòng ngừa
do Luật gia Trương Ngọc Liêu biên soạn.
5
Cuốn sách tổng hợp một số vụ án, vụ việc có dấu
hiệu lừa đảo, chiếm đoạt tài sản bị phát hiện, đã xử lý
trong thực tiễn, qua đó tìm hiểu nguyên nhân và hệ lụy
của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các cách
thức nhận diện những thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản phổ biến và đề xuất một số biện pháp phòng
ngừa để góp phần nâng cao hiệu quả kiềm chế, ngăn
chặn loại tội phạm này.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 8 năm 2023
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và biện pháp phòng ngừa ra đời trong
bối cảnh loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
đang ngày càng gia tăng, đặc biệt là các thủ đoạn
lừa đảo thông qua không gian mạng Internet, mạng
viễn thông với thủ đoạn ngày càng tinh vi, hậu quả
ngày càng lớn. Kết cấu cuốn sách gồm bốn phần,
Phần I nêu lên thực trạng các vụ án lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trong phạm vi cả nước trong thời gian
gần đây; tỷ lệ tội phạm lừa đảo theo thủ đoạn truyền
thống; tỷ lệ lừa đảo thông qua không gian mạng và
những hệ lụy của những hành vi lừa đảo này đến đời
sống của cá nhân, gia đình và xã hội. Phần II làm rõ
các quy định pháp luật, khung pháp lý áp dụng đối
với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Phần III chỉ
ra cách nhận diện từng thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản cụ thể, đồng thời thông tin về vụ việc trên
thực tế đã xảy ra sau mỗi thủ đoạn, trong đó có
những vụ việc đã đưa ra xét xử và kết án, có những
vụ việc đang trong quá trình điều tra, truy tố...
(tham khảo qua các bài báo, bài viết đã đăng tải trên
các báo viết, báo điện tử thời gian qua) để bạn đọc có
được những thông tin chi tiết và thực tế nhất về thủ
đoạn của các đối tượng lừa đảo, cũng như thấy được
hậu quả pháp lý của việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản
7
của người khác sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật như thế nào. Phần IV đề xuất các biện pháp
phòng ngừa đối với các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, trong đó có các biện pháp phòng ngừa
chung từ phía cơ quan nhà nước cũng như đối với
từng cá nhân và một số biện pháp phòng ngừa cụ
thể đối với từng thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài
sản được liệt kê.
Các thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các
đối tượng thường biến đổi liên tục để “thích nghi” với
các biện pháp phòng ngừa mà các cơ quan chức năng
và từng cá nhân mỗi người đã nắm bắt được. Tuy
nhiên, cho dù có biến đổi như thế nào, thủ đoạn tinh
vi đến đâu thì các đối tượng lừa đảo cũng có những
đặc điểm chung, đều dựa vào các điều kiện tiên
quyết là: lòng tham, sự sợ hãi, sự nhẹ dạ cả tin và sự
thiếu hiểu biết của nạn nhân để thực hiện hành vi
lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, chỉ cần khắc phục
được một trong bốn yếu tố này là đã góp phần giảm
đi đáng kể khả năng bị lừa đảo. Cách khắc phục như
thế nào được trình bày rất rõ tại Mục I.2 Phần IV
cuốn sách này. Hy vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc
trở nên nhạy bén hơn, tinh tường hơn để đối phó với
các thủ đoạn lừa đảo đang diễn ra phổ biến hiện nay
cũng như trong tương lai.
TÁC GIẢ
8
PHẦN I
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HỆ LỤY
CỦA HÀNH VI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
I
THỰC TRẠNG LOẠI TỘI PHẠM LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Theo trang điện tử Công an tỉnh Đắk Lắk1, trong
5 năm từ 2015-2019, Công an toàn quốc đã phát
hiện, khởi tố điều tra 10.360 vụ và 11.410 bị can về
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, số tiền bị chiếm đoạt
lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Tội phạm lừa đảo chiếm
đoạt tài sản không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho
Nhà nước, xã hội và công dân mà còn ảnh hưởng tiêu
cực đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Hàng loạt
những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản lớn đã được
đưa ra xét xử như: Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như lừa
đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều ngân hàng và cá
nhân với tổng số tiền hơn 4.900 tỷ đồng; vụ án Lê
Xuân Giang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty
Liên kết Việt và đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt
___________
1. https://congan.daklak.gov.vn/-/mot-so-tinh-hinh-noi-lencua-toi-pham-lua-ao-chiem-oat-tai-san.
9
2.000 tỷ đồng của 60.000 người; vụ Chu Minh Ngọc,
Giám đốc Công ty Cimco cùng đồng bọn lập khống
hồ sơ mua bán thép để hợp thức hồ sơ vay vốn lừa
đảo chiếm đoạt 1.124 tỷ đồng của 7 ngân hàng; vụ
Phan Bá Tòng, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu
hạn xuất nhập khẩu thủy sản Thiên Mã có hành vi
lừa đảo chiếm đoạt 700 tỷ đồng của các ngân hàng
và khách hàng; vụ Công ty Cổ phần thương mại đầu
tư Phúc Gia Bảo lừa đảo chiếm đoạt 178 tỷ đồng1.
Ngoài các thủ đoạn lừa đảo truyền thống như:
Giả danh cán bộ cơ quan nhà nước, người nhà lãnh
đạo cấp cao để lừa xin việc làm, “chạy chức”, “chạy
án”; làm, sử dụng các loại giấy tờ, tài liệu giả liên
quan đến quyền sở hữu tài sản để cầm cố, thế chấp,
mua bán; lừa đảo trong hoạt động đầu tư, kinh
doanh bất động sản, v.v.. Các đối tượng còn lợi dụng
không gian mạng để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt
tài sản, với phương thức thủ đoạn hết sức tinh vi, đa
dạng về cách tiếp cận các nạn nhân, nhiều vụ có
lượng lớn người bị hại tham gia tại nhiều địa phương
trên khắp cả nước, một số thủ đoạn điển hình như:
Sử dụng mạng xã hội để kết bạn, thông báo gửi quà,
sau đó giả danh nhân viên sân bay, hải quan, thuế
để yêu cầu người bị hại nộp tiền cước vận chuyển,
thuế, phí, tiền phạt... vào các tài khoản ngân hàng
được chỉ định rồi chiếm đoạt; giả danh cán bộ cơ
quan nhà nước, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án gọi
điện thông báo chủ thuê bao có liên quan đến vụ án,
___________
1. https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/giai-phaphan-che-muc-do-an-cua-toi-pham-lua-dao-c-d10-t770.html.
10
vụ việc đang giải quyết rồi đe dọa, yêu cầu bị hại
chuyển để chiếm đoạt, v.v..
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tội phạm học
cũng đã xác định: “Các tội phạm kinh tế là những tội
phạm có độ ẩn cao. Số liệu thống kê về những tội
phạm đã được phát hiện, điều tra và xử lý chỉ phản
ánh một phần của tội phạm đã xảy ra, còn một phần
quan trọng khác mà cơ quan pháp luật chưa nắm
bắt được, chưa phát hiện được”1.
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia
có tốc độ phát triển và ứng dụng Internet cao nhất
thế giới, việc mạng xã hội đang được sử dụng công
khai với số lượng người tham gia đông đảo trên các
ứng dụng như Facebook, Zalo, Instagram, TikTok, v.v.
cùng với việc nhận thức còn hạn chế, nhẹ dạ cả tin,
hám lợi, mất cảnh giác của một bộ phận người dùng
là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng phạm tội.
Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước trong một số
lĩnh vực như: Tài chính, ngân hàng, không gian
mạng, đất đai, công chứng còn tồn tại nhiều thiếu
sót, bất cập; chính sách pháp luật trên một số lĩnh
vực chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, tạo kẽ hở để các
đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm
đoạt tài sản.
Theo Đại tá Trương Sơn Lâm, Phó Cục trưởng
Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử
dụng công nghệ cao2, Bộ Công an, tình hình tội phạm
___________
1. Nguyễn Xuân Yêm: Tội phạm học hiện đại và phòng
ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
2. Hiện giữ chức vụ Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre (BT).
11
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng
diễn biến ngày càng phức tạp với nhiều phương
thức, thủ đoạn tinh vi, có tính chất xuyên quốc gia,
gây thiệt hại lớn và bức xúc trong nhân dân, xảy ra
chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Đồng Nai... Đặc biệt lợi
dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp,
thực hiện chủ trương giãn cách xã hội, nhiều hoạt
động xã hội “dịch chuyển” lên không gian mạng nên
tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản càng gia tăng
hoạt động.
Năm 2020, phát hiện khoảng 4.100 vụ việc liên
quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua
không gian mạng; trong đó có 776 vụ việc lừa đảo
qua mạng viễn thông bằng thủ đoạn giả danh cơ
quan thực thi pháp luật (Công an, Tòa án, Viện
kiểm sát), các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn
thông, bưu điện..., đe dọa, yêu cầu người bị hại
cung cấp thông tin tài khoản hoặc chuyển tiền.
Riêng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm
sử dụng công nghệ cao đã tiến hành xác minh, điều
tra 18 vụ; khởi tố 5 vụ án và 27 bị can; đang tiếp
tục xác minh hơn 10 vụ.
Nổi bật là vào tháng 01/2020 Cục An ninh mạng
và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
đã phối hợp với Công an tỉnh Quảng Nam, Công an
Thành phố Hồ Chí Minh đấu tranh, triệt phá
Chuyên án bắt giữ, khởi tố 10 đối tượng, trong đó có
2 đối tượng người Malaixia, đã phong tỏa 55 tài khoản
của bị hại là người Việt Nam với số tiền 3,7 tỷ đồng
12
và nhiều tài sản, tài liệu có liên quan, tổng số tiền
các đối tượng chiếm đoạt lên tới hơn 500 tỷ đồng;
Tháng 6/2020, Cục cũng đã phối hợp với Công an
tỉnh Thừa Thiên Huế triệt phá thành công chuyên
án đấu tranh với nhóm đối tượng lừa đảo chiếm đoạt
tài sản qua Facebook, bắt giữ 3 đối tượng đã lừa đảo
chiếm đoạt tài sản của gần 500 nạn nhân trên cả
nước với tổng số tiền lên đến 117 tỷ đồng1...
Tính từ ngày 25/5/2020 đến 24/5/2021, toàn quốc
đã phát hiện xảy ra 5.408 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, trong đó: 2.894 vụ lừa đảo theo các phương thức
truyền thống (chiếm hơn 53,5% tổng số vụ phát hiện);
2.514 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian
mạng (chiếm 46,5% tổng số vụ). Đáng chú ý trong đó
có nhiều chuyên án, vụ án lớn, được các ngành, các
cấp ghi nhận và đánh giá cao, dư luận quần chúng
nhân dân đặc biệt quan tâm, góp phần bảo đảm an
ninh, trật tự, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và đời sống Nhân dân2.
Với sự chuyển dịch sang nền kinh tế số và hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh
vực, các sản phẩm tài chính ngày càng đa dạng,
nhiều hình thức giao dịch điện tử, trực tuyến được
triển khai, trong khi năng lực tiếp cận kinh tế số của
nước ta còn hạn chế, các yếu tố nền tảng như thể chế,
___________
1. https://cand.com.vn/Phap-luat/Can-trong-voi-toi-phamlua-dao-chiem-doat-tai-san-khi-tham-gia-khong-gian-mangi591084/.
2. https://congan.daklak.gov.vn/-/mot-so-tinh-hinh-noilen- cua-toi-pham-lua-dao-chiem-doat-tai-san.
13
hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ còn
thấp, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
nhất là lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian
mạng sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều hướng
gia tăng với nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng
tinh vi, xảo quyệt, hoạt động xuyên quốc gia, có sự
cấu kết giữa nhiều đối tượng trong và ngoài nước,
nếu không kịp thời phát hiện, ngăn chặn thì hậu
quả thiệt hại sẽ rất nghiêm trọng.
II
NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THỰC TRẠNG
LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung
và lừa đảo qua không gian mạng nói riêng diễn biến
ngày càng phức tạp và gia tăng với thủ đoạn ngày
càng tinh vi chủ yếu do một số nguyên nhân sau:
1. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp
luật chưa thật sự hiệu quả
Hiện nay, công tác đẩy mạnh tuyên truyền,
phòng ngừa hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản đã
và đang được thực hiện mạnh mẽ ở tất cả các cơ
quan, ban ngành ở các cấp độ khác nhau và cũng đã
đạt được những thành tích nhất định, đặc biệt là kể
từ khi Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ
tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, xử lý
hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từng cơ quan,
tổ chức và cá nhân có phương thức tuyên truyền,
14
phổ biến phù hợp với cơ cấu tổ chức, quản lý, chức
năng và quyền hạn của mình để thực hiện công tác
tuyên truyền nhằm đạt hiệu quả tối đa. Các hình
thức tuyên truyền rất phong phú, đa dạng, như
thông qua trang Facebook, nhóm Zalo đã kịp thời
trao đổi thông tin cũng như nắm bắt tình hình trên
địa bàn về phòng, chống tội phạm, lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, và các văn bản quy phạm pháp luật; tổ
chức tháng cao điểm tuyên truyền, phổ biến pháp
luật trong đó có pháp luật về phòng, chống tội
phạm, các văn bản pháp luật khác liên quan trực
tiếp đến phòng ngừa xử lý hoạt động lừa đảo chiếm
đoạt tài sản, phòng ngừa “tín dụng đen”... Tuyên
truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, công tác phòng, chống tội phạm,
phòng ngừa “Tín dụng đen” nhất là hiện tượng lô
đề, cá cược, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lừa đảo trên
không gian mạng, xuất khẩu lao động trái phép,
xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới nhằm lừa
đảo, chiếm đoạt tài sản... đến đông đảo các tầng lớp
nhân dân.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng công tác
tuyên truyền, phổ biến về chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong
phát triển kinh tế - xã hội và phòng ngừa các hành
vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa sâu rộng, người
dân chưa được tiếp cận kịp thời đầy đủ, chính xác
thông tin, nhất là các thông tin về quy hoạch, chế độ,
chính sách an sinh xã hội, đầu tư, sản xuất, kinh
doanh... Nguyên nhân có thể do:
15
- Cán bộ làm công tác tuyên truyền ít được tập
huấn để nâng cao khả năng chuyên môn. Vì vậy việc
tuyên truyền, triển khai chủ trương, nghị quyết chỉ
đạt ở mức độ nhất định, chưa đáp ứng tốt yêu cầu;
tài liệu tuyên truyền còn hạn chế, nội dung chưa đáp
ứng cho các đối tượng cần được tuyên truyền.
- Một số cấp ủy, chính quyền ở cơ sở chưa quan
tâm đúng mức cho công tác tuyên truyền, còn chỉ
đạo chung chung trong thực hiện.
- Thông tin không được mở rộng, phân tích thêm,
vì vậy chưa tạo được tính hấp dẫn đối với người nghe.
2. Hạn chế trong nhận thức và mất cảnh
giác của một bộ phận nhân dân để tội phạm
lợi dụng
Mục đích của hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt
tài sản, phương thức và thủ đoạn thực hiện rất tinh vi
và vô cùng bài bản, có kế hoạch, có kịch bản rõ ràng;
có sự câu kết, phân chia vai trò thực hiện chặt chẽ.
Bởi thế, chỉ cần sự thiếu cảnh giác phòng ngừa là sẽ
trở thành nạn nhân của loại tội phạm này.
So với mặt bằng chung của thế giới nói chung và
so với các nước phát triển nói riêng, trình độ dân trí
của Việt Nam vẫn còn khá thấp, đặc biệt là hiểu biết
về công nghệ, không gian mạng Internet... do đó, sẽ
tạo ra những khó khăn nhất định trong việc định
hình, đánh giá được dấu hiệu hành vi lừa đảo của
loại tội phạm sử dụng công nghệ cao. Hiểu biết về
pháp luật của người dân cũng là một điểm hạn chế
khi tỷ lệ người học đại học vẫn còn thấp (chưa tới
30%) mà môn pháp luật đại cương chỉ được đưa vào
chương trình đào tạo hệ cao đẳng, đại học, ở các cấp
16
học thấp hơn, việc giáo dục pháp luật còn hạn chế,
chưa được phổ biến, giáo dục pháp luật về tội phạm
lừa đảo chiếm đoạt tài sản lại càng hiếm hơn. Xuất
phát từ các yếu tố trên dẫn đến việc nạn nhân của
loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Việt
Nam vẫn còn nhiều, giá trị tài sản bị lừa đảo chiếm
đoạt ngày càng gia tăng.
3. Các quy định pháp luật về một số lĩnh
vực chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp
với thực tiễn, chưa được hướng dẫn, sửa đổi, bổ
sung kịp thời
Kể từ khi Hiến pháp năm 2013 ra đời, hàng loạt
các bộ luật, luật và văn bản quy phạm pháp luật mới
được ban hành để thể chế hóa những quy định trong
đạo luật gốc là Hiến pháp, hệ thống pháp luật đã
từng bước hoàn thiện, bảo đảm chức năng điều chỉnh
các quan hệ xã hội trong hầu hết các lĩnh vực của đời
sống. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt
được cũng vẫn còn tồn tại không ít những bất cập,
vướng mắc như: Sự chồng chéo, mâu thuẫn trong
quy định giữa các văn bản quy phạm pháp luật ở
nhiều cấp độ; Quy định của pháp luật dễ bị lạc hậu,
không theo kịp sự thay đổi của xã hội dẫn đến phải
thường xuyên sửa đổi, bổ sung, thay thế: Trong các
lĩnh vực như pháp luật về đất đai, thuế, khối lượng
văn bản quy phạm pháp luật ban hành để hướng
dẫn luật, nghị định đã rất đồ sộ nhưng những văn
bản này lại không ngừng được sửa đổi, bổ sung, thay
thế, v.v. và những văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế
đó lại tiếp tục được bổ sung, sửa đổi dẫn đến ngoài
17
việc nhiều về số lượng lại phức tạp về khả năng đọc
hiểu, nắm bắt nội dung, khó khăn trong việc xác
định một nội dung quy định nào đó có đang còn hiệu
lực áp dụng hay không, đã bị sửa đổi, bổ sung hay
thay thế chưa, v.v.. Nhiều văn bản quy phạm pháp
luật có tuổi thọ ngắn, thiếu tính ổn định như vừa
mới ban hành đã phải hoãn thi hành để sửa đổi, bổ
sung gấp như Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng đến
năm 2017 đã phải ban hành Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Hình sự, trong đó lỗi cần
phải sửa đổi, bổ sung còn nhiều bao gồm cả lỗi về kỹ
thuật và lỗi về nội dung.
4. Công tác quản lý nhà nước ở nhiều lĩnh
vực như tài chính, ngân hàng, không gian
mạng, đất đai, công chứng... còn tồn tại sơ hở,
thiếu sót
Sự phối hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp
chưa đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả chưa cao; cấp ủy,
người đứng đầu một số địa phương thiếu quyết liệt
trong chỉ đạo phòng ngừa, xử lý các hoạt động lừa
đảo chiếm đoạt tài sản. Tình hình tội phạm và vi
phạm pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp một
phần là do công tác quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh
vực còn một số tồn tại, thiếu sót, còn kẽ hở cho tội
phạm lợi dụng hoạt động. Công tác phòng ngừa tội
phạm chưa mang lại hiệu quả thực chất. Tỷ lệ giải
quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố
chưa đạt chỉ tiêu đề ra, còn vi phạm trong hoạt động
điều tra, xử lý tội phạm; vi phạm hành chính còn
diễn ra phổ biến trên các lĩnh vực của đời sống xã hội,
18
công tác quản lý cư trú, hoạt động xuất, nhập cảnh
của người nước ngoài tại Việt Nam còn sơ hở, thiếu
sót... Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu
trên chủ yếu là do tình hình thế giới, khu vực diễn
biến phức tạp, hệ thống các văn bản pháp luật vẫn
đang tiếp tục được hoàn thiện; các nguồn lực cho
công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật
chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; trình độ nghiệp vụ,
tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ thực thi
pháp luật còn hạn chế, thậm chí có sai phạm, tiêu
cực trong thực hiện nhiệm vụ... làm ảnh hưởng đến
hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật1.
III
HỆ LỤY CỦA HÀNH VI LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1. Khó thu hồi lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt
Hậu quả từ thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
đặc biệt là thủ đoạn lừa đảo thông qua không gian
mạng rất khó khắc phục một cách đầy đủ và trọn
vẹn. Bởi dòng tiền trong các vụ án lừa đảo qua mạng
xã hội biến động rất nhanh, di chuyển liên tục, rất
khó kiểm soát, nếu Cơ quan điều tra không khẩn
trương tiến hành các biện pháp phong tỏa tài khoản,
đóng băng dòng tiền để ngăn chặn thì các đối tượng
___________
1. http://socongthuong.binhduong.gov.vn/xem-chi-tiet/quanly-nha-nuoc-trong-nhieu-linh-vuc-con-ke-ho-cho-toi-pham-loidung-hoat-dong.
19
sẽ tẩu tán tài sản rất nhanh như chuyển đến tài
khoản nước ngoài, chuyển đổi sang các dạng tài sản
khác hoặc mua tiền ảo, vật phẩm ảo trong game làm
dòng tiền biến mất. Sau khi nạn nhân chuyển tiền
vào các tài khoản theo yêu cầu, số tiền này ngay lập
tức được chuyển đi nhiều tài khoản khác nhau và
chủ các tài khoản nhận tiền chuyển đến là những
người được một hoặc một số đối tượng không rõ lai
lịch nhờ mở tài khoản và trả tiền công, sau đó các
đối tượng sẽ sử dụng những tài khoản này. Vì thế
rất khó biết được dòng tiền đi đâu, không xác định
được các đối tượng thực hiện hành vi nên việc điều
tra xử lý và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt trong
nhiều trường hợp là rất khó khăn.
2. Khó xử lý, truy cứu trách nhiệm trong
một số trường hợp
Thời gian qua, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19
gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đầu tư, kinh
doanh, các sàn giao dịch tiền ảo có dấu hiệu hoạt
động mạnh mẽ trở lại, tăng cả về số lượng người
dùng và số lượng sàn giao dịch. Về phương thức hoạt
động, khi đầu tư người dân phải sử dụng tiền thật để
mua đồng tiền ảo, sau đó nạp tiền ảo này vào tài
khoản của công ty sở hữu sàn giao dịch để mua tiền
ảo nội bộ với các tên gọi khác nhau như “gem”, “xu”,
“kim cương”, “thiên kim”,... Sau khi số lượng tiền ảo
nạp vào đủ lớn, đối tượng đứng sau các sàn giao dịch
sẽ đánh sập sàn hoặc đưa giá trị tiền ảo nội bộ (gem,
xu, kim cương,...) tụt dốc và chiếm đoạt toàn bộ số
tiền mà khách hàng đã bỏ ra để mua tiền ảo nội bộ.
Mặc dù đã xảy ra nhiều vụ việc lừa đảo liên quan
20
đến sàn giao dịch tiền ảo, tuy nhiên hiện nay pháp
luật Việt Nam không công nhận tiền ảo là phương
thức thanh toán, là tài sản hay một loại hàng hóa,
dịch vụ, vì vậy cơ quan chức năng không có căn cứ để
bảo vệ nạn nhân.
Có thể thấy, đặc điểm chung của những dạng thủ
đoạn này cũng giống với các dạng lừa đảo khác đó là
đánh vào lòng tham của các nạn nhân, như việc
không cần mất phí vẫn nhận được phần quà giá trị lớn,
đưa ra mức lãi suất đầu tư siêu lợi nhuận. Tuy nhiên,
các dạng thủ đoạn này nguy hiểm và dễ dẫn dụ hơn
rất nhiều vì thực hiện có hệ thống, có sự bàn bạc và
câu kết thực hiện một cách bài bản, một số sàn giao
dịch tiền ảo đã phát triển thành các ứng dụng (app)
có thể đăng ký, nạp tiền, sử dụng dễ dàng ngay trên
điện thoại thông minh, việc tiếp cận thuận lợi với các
ứng dụng này giúp cho các đối tượng có một số lượng
“con mồi” đông đảo. Tính cá nhân trong việc sử dụng
các ứng dụng khiến cho hành vi lừa đảo khó bị phát
hiện hơn, người dùng khi bị thua lỗ thường không
dám nói ra ngoài, có tâm lý cố gắng “hồi vốn” và
ngày càng mất nhiều tiền cho các ứng dụng lừa đảo1.
3. Gây ra nhiều hệ lụy cho cá nhân, gia đình
và xã hội
Hệ lụy đầu tiên và dễ dàng nhận thấy đó là nạn
nhân bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản với khả năng
___________
1. https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/nhandien-mot-so-thu-doan-lua-dao-chiem-doat-tai-san-d10t9002.html.
21
thu hồi lại gần như không thể, trở nên mất niềm tin
vào người khác, sống khép kín, dễ dẫn đến bị trầm
cảm. Một số nạn nhân còn vay mượn tiền người thân,
bạn bè, vay nóng để đầu tư vào các sàn giao dịch tiền
điện tử và sau khi bị lừa mất toàn bộ số tiền đã đầu
tư, đối diện với nợ nần dẫn đến quẫn bách, suy nghĩ
tiêu cực và tìm đến cái chết để giải thoát.
Không thể phủ nhận yếu tố kinh tế giữ vai trò
rất quan trọng trong đời sống gia đình, bởi thế một
khi có vấn đề về kinh tế các thành viên trong gia
đình sẽ thường xảy ra các mâu thuẫn, đặc biệt khi
người vợ/chồng vì hám lợi mà giấu các thành viên
còn lại, đem tất cả tài sản chung của gia đình để đầu
tư rồi bị lừa đảo chiếm đoạt hết. Ban đầu những
mâu thuẫn xảy ra có thể chỉ là cự cãi nhưng đôi khi
nó lại đẩy lên thành bạo lực gia đình, thậm chí dẫn
đến ly hôn, gia đình ly tán, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của những
người trong gia đình.
Dưới khía cạnh xã hội, khi các hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản vẫn không ngừng biến đổi dưới
nhiều hình thức khác nhau, ngày càng tinh vi, số
nạn nhân của hành vi lừa đảo ngày càng nhiều mà
chưa kịp phòng ngừa và xử lý hết dễ dẫn đến tâm lý
hoang mang, sợ hãi cho người dân, khi những nạn
nhân bị lừa đảo túng quẫn kinh tế thì lại là cơ hội
tốt để các đối tượng cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê v.v.
hoạt động, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh
hưởng đến an ninh, trật tự, hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp và đời sống nhân dân.
22
PHẦN II
KHUNG PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HÀNH VI LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản được
hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ
sở hữu, người quản lý tài sản tin tưởng mà giao tài
sản cho người thực hiện hành vi hoặc người khác để
chiếm đoạt tài sản đó. Hành vi lừa đảo nhằm chiếm
đoạt tài sản được xác định là hành vi vi phạm pháp
luật và tuỳ thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
nếu xác định đó là tội phạm hoặc bị xử phạt vi
phạm hành chính nếu xác định hành vi đó vi phạm
hành chính.
I
TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1. Quy định chung về tội phạm
Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm
2015) quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp
nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
23
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định
của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Lưu ý: Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội
phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không
đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý
bằng các biện pháp khác1.
1.1. Cấu thành tội phạm
Từ khái niệm về tội phạm tại Điều 8 Bộ luật
Hình sự năm 2015, một hành vi chỉ được xem là tội
phạm nếu thỏa mãn được các yếu tố cấu thành đối
với loại tội phạm đó. Cụ thể, một hành vi cấu thành
tội phạm phải bao gồm bốn yếu tố bắt buộc, trong
mỗi yếu tố đó có những yếu tố bắt buộc phải có trong
mọi loại tội phạm nhưng cũng có những yếu tố
không bắt buộc như sau:
Mặt khách quan: Hành vi nguy hiểm cho xã hội,
hậu quả của hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi và hậu quả; điều kiện, hoàn cảnh, không
gian, công cụ, phương tiện thực hiện;
Mặt chủ quan: Yếu tố có lỗi, động cơ, mục đích;
Mặt khách thể: Xâm phạm các quan hệ xã hội
được pháp luật hình sự bảo vệ;
___________
1. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015.
24
Mặt chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình
sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện.
1.2. Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm
(i) Về mặt khách quan
Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015
quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật Hình sự. Bởi lẽ có rất
nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội và mức độ của
những hành vi này cũng không giống nhau, một
hành vi chỉ được xem là hành vi phạm tội khi hành
vi được quy định trong Bộ luật Hình sự (tính chất
nguy hiểm cao) như hành vi giết người, hành vi hiếp
dâm, hành vi cướp tài sản v.v.. Ngược lại nếu một
hành vi cũng nguy hiểm cho xã hội nhưng không
được quy định trong Bộ luật Hình sự thì không phải
là hành vi phạm tội, nội dung này được làm rõ hơn
tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật này quy định: Những
hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính
chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không
phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp
khác. Biện pháp khác ở đây có thể là biện pháp xử lý
hành chính hoặc dân sự.
(ii) Về mặt chủ quan
Lỗi là yếu tố bắt buộc phải có trong mặt chủ
quan của cấu thành tội phạm, lỗi bao gồm lỗi cố ý và
lỗi vô ý. Theo định nghĩa Từ điển Tiếng Việt thì lỗi
là “điều sai sót, không nên, không phải trong cách cư
xử, trong hành động”1. Như vậy, nếu một người thực
___________
1. Trung tâm Từ điển học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà
Nẵng, Đà Nẵng, 2009, tr.719.
25
hiện một hành vi mà không có lỗi (cố ý hoặc vô ý) thì
dù họ có thoả mãn được ba điều kiện còn lại trong
cấu thành tội phạm thì hành vi đó vẫn không được
xem là hành vi phạm tội.
- Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường
hợp sau đây1:
+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành
vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý trực tiếp);
+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của
hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn
nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (cố ý
gián tiếp).
- Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường
hợp sau đây2:
+ Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội
nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có
thể ngăn ngừa được (vô ý do quá tự tin);
+ Người phạm tội không thấy trước hành vi của
mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc
dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
(vô ý do cẩu thả).
(iii) Về mặt khách thể
Các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
ngay trong khái niệm tội phạm, bao gồm các/nhóm
___________
1, 2. Điều 10, Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015.
26
quan hệ xã hội sau: độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,
quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa.
(iv) Về mặt chủ thể
- Do người có năng lực trách nhiệm hình sự
hoặc pháp nhân thương mại thực hiện, đây cũng là
điều kiện bắt buộc phải thỏa mãn để xác định một
cá nhân, pháp nhân thương mại nào đó có phạm tội
hay không. Nếu chủ thể thực hiện hành vi nhưng
không có năng lực trách nhiệm hình sự tương ứng
với hành vi đó, ví dụ: một cậu bé 10 tuổi ném đá
vào đầu bạn chơi cùng gây thương tích 50%. Trong
ví dụ này, mặc dù hậu quả của hành vi là nghiêm
trọng, có mối quan hệ nhân quả giữa thương tích và
hành vi ném đá nhưng cậu bé này chưa đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự (nói cách khác là chưa có
năng lực chịu trách nhiệm hình sự) nên cậu bé
không phạm tội cố ý gây thương tích, tổn hại cho
sức khoẻ của người khác.
- Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự1
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm
mà Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định khác.
___________
1. Điều 12 Bộ luậ...
 





