CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
Những phương pháp thuốc hay trị liệu bằng hoa, hoa củ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:42' 12-03-2024
Dung lượng: 429.1 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:42' 12-03-2024
Dung lượng: 429.1 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
NHỮNG PHƯƠNG THUỐC HAY
- TRỊ LIỆU BẰNG RAU, CỦ, QUẢ
CỦA THẦN Y HOA ĐÀ VÀ NHÀ PHẬT
By Đông A Sáng
Copying Đông A Sáng
Smashwords Edition.
Phần một : THẦN Y HOA ĐÀ - NHỮNG PHƯƠNG HAY TRỊ LIỆU
BẰNG RAU, CỦ, QUẢ
Phần hai : NHỮNG PHƯƠNG THUỐC CỦA NHÀ PHẬT
MỤC LỤC
AUTHOR
Phần một:THẦN Y HOA ĐÀ - NHỮNG PHƯƠNG HAY TRỊ LIỆU BẰNG
RAU, CỦ, QUẢ
Chương một : NHỮNG GIAI THOẠI VỀ THẦN Y HOA ĐÀ
Hoa Đà tự Nguyên Hóa (145-208), người nước Bái, thuộc Dự Châu,
ông là một danh y thời Đông Hán, người đời tôn ông là thần y hoặc tiên
ông.
Sau đây, là những mẩu chuyện thú vị liên quan đến Hoa Đà.
I. HOA ĐÀ CẠO XƯƠNG QUAN VÂN TRƯỜNG
Tam quốc chí kể, sau khi bắt được Vu Cấm, Bàng Đức, Quan Vân
Trường đích thân dẫn quân đến đánh Phàn Thành.
Tào Nhân đứng trên địch lâu, thấy Quan Công chỉ mặc một cái áo
giáp che ngực, trong mặc cái áo bào xanh, vội vàng sai năm trăm tay
cung thủ, nhất tề bắn ra đồng loạt.
Quan Công vội vàng quay ngựa ra về, thì đã bị một mũi tên găm vào
cánh tay phải. Tào Nhân thấy Quan Công bị tên ngã ngựa, vội kéo quân
ra thành, bị Quan Bình đánh một trận dữ dội, phải quay trở vào.
Quan Bình cứu được Quan Công đem về trại, rút mũi tên ra.
Nguyên đầu mũi tên có độc, đã ngấm vào xương cánh tay, sưng lên
xám ngắt, không cử động được. Quan Bình và các tướng thấy vậy,
xin Quan Công lui binh về Kinh Châu chữa trị.
Quan Công không chịu. Quan Bình và các tướng thấy vết thương không
khỏi, sai người đi khắp mọi nơi tìm danh y về chữa.
Một hôm, có người từ Giang Đông, bơi một chiếc thuyền nhỏ, đến
thẳng trước trại.
Lính canh đưa vào ra mắt Quan Bình, thấy người ấy đội khăn vuông,
mặc áo rộng, tự xưng là người ở Tiêu Quận, họ Hoa tên Đà, tự là Nguyên
Hoá.
Quan Bình hỏi :
– Có phải trước ông đã chữa cho Chu Thái ở Đông Ngô đó chăng ?
Hoa Đà thưa :
- Phải !
Quan Bình mừng lắm, lập tức cùng các tướng dẫn Hoa Đà vào ra mắt
Quan Công. Bấy giờ, Quan Công đau cánh tay nặng lắm, nhưng sợ lòng
quân xôn xao, phải gắng gượng ngồi đánh cờ với Mã Lương, để tiêu khiển.
Thấy có thầy thuốc đến, Quan Công liền cho mời vào. Hoa Đà ra mắt
lạy xong, mời ngồi uống nước.
Hoa Đà xin xem bệnh. Quan Công cởi áo cho Hoa Đà xem. Hoa Đà nói
:
– Đây là mũi tên có thuốc độc bằng vị ô đà, đã thấm vào xương rồi, nếu
không chữa nhanh, thì cánh tay này hỏng mất.
Quan Công hỏi :
– Chữa bằng cách nào ?
Hoa Đà thưa :
– Tôi đã có cách chữa nhưng sợ ngài ghê sợ mà thôi.
Quan Công cười, nói :
– Ta vốn xem cái chết như chơi, có việc gì mà phải sợ ?
Hoa Đà nói :
– Phải tìm một chỗ yên tĩnh, chôn một cái cột, trên cột đóng một cái
vòng sắt. Rồi ngài xâu cái tay vào cái vòng ấy, lấy giây buộc chặt lại, lấy
chăn trùm kín đầu. Tôi dùng dao nhọn rạch chỗ thịt ấy tới xương, cạo sạch
chất độc, rịt thuốc vào và khâu lại, có thể mới chữa khỏi. Chỉ ngại ngài sợ
hãi mà thôi !
Quan Công cười nói :
– Tưởng thế nào ! Dễ như thế thì cần gì phải dùng đến cột, vòng sắt cho
mệt. Quan Công bèn sai người mang rượu ra thết Hoa Đà. Hoa Đà uống
xong vài chén. Quan Công vẫn đánh cờ với Mã Lương, giơ cánh tay cho
Hoa Đà rạch. Hoa Đà tay cầm con giao con, sai một tiểu hiệu bưng chậu
hứng máu.
Hoa Đà nói :
– Tôi ra tay đây ! Xin Quân hầu chớ ngại.
Hoa Đà rạch thịt vào đến xương, thấy trên chỗ xương đã xanh cả. Hoa
Đà cạo xương, tiếng kêu ken két, ai nghe cũng rợn người, lè lưỡi, sởn gai.
Quan Công thì cứ uống rượu, đánh cờ, tựa hồ không đau đớn chút nào.
Một lúc, máu chảy ra đầy chậu. Hoa Đà cạo hết chất độc, rịt thuốc vào,
lấy chỉ khâu lại.
Quan Công cười to một tiếng, đứng dậy bảo với các tướng rằng :
– Cánh tay này co duỗi như thường rồi, không thấy đau nữa. Tiên sinh
quả thực là thần y. Hoa Đà nói :
– Tôi đi chữa bệnh một đời người, chưa thấy ai gan như thế ! Quân hầu
quả thực là người nhà Trời !
Người đời sau có thơ khen rằng :
Khoa trong cũng có khoa ngoài
Thuốc giỏi trên đời, dễ mấy ai ?
Quan tướng - người thần duy có một
Hoa Đà - thuốc thánh vẫn không hai
Quan Công khỏi đau, mở tiệc khoản đãi Hoa Đà.
Hoa Đà dặn rằng :
- Cái nhọt tên của ngài, tuy rằng khỏi, nhưng phải giữ gìn, chớ quá tức
giận mà vỡ vết thương ấy thì khốn. Ngoài trăm ngày, mới bình phục như
cũ.
Quan Công tạ Hoa Đà một trăm lạng vàng. Hoa Đà không nhận, nói
rằng :
– Tôi nghe ngài là người cao nghĩa, cho nên tôi đến chữa giúp thôi,
chứ không mong ngài trả ơn. Nói xong, Hoa Đà để lại một thang thuốc rịt,
rồi từ biệt ra đi.
II. GIAI THOẠI HOA ĐÀ VÀ TÀO THÁO
Hoa Đà, người An Huy, cuối thời nhà Hán, ông được xem là Biển
Thước tái thế. Tào Tháo cũng là người An Huy, đồng hương với Hoa Đà.
Có hai thuyết khác nhau về mối quan giữa danh y Hoa Đà với Tào Tháo.
Thuyết thứ nhất :
Thời trẻ, Tào Tháo đã bị chứng đau đầu, gọi là đầu phong chứng,
đến khi làm Thừa tướng, mỗi ngày phải xử lí chính trị cả trăm việc, nên
bệnh cũ thường tái phát. Tào Tháo đã cho mời nhiều danh y đến chữa
trị nhưng đều vô hiệu.
Tào Tháo nghe tiếng Hoa Đà là người đồng hương, lại có tài cải tử
hoàn sinh, liền sai người mời Hoa Đà về Hứa Đô.
Hoa Đà đến Hứa Đô, gặp Tào Tháo, dùng phương pháp châm cứu để trị
liệu.
Tào Tháo khỏi bệnh. Ai nấy đều kính phục. Tào Tháo sợ bệnh tái phát,
liền lưu Hoa Đà ở lại kinh đô.
Hoa Đà vốn quen sống đạm bạc, xem thường danh lợi, lại là một du y
giang hồ, nay đây mai đó như hạc nội, mây ngàn, tự do, tự tại. Nay, tuy ở
với Tào Tháo được ăn ngon, mặc đẹp nhưng lại bị trói buộc, ở kinh thành
quá lâu, Hoa Đà liền lấy cớ, nói dối là vợ bị ốm nặng, để trở về quê.
Nhưng rồi, Hoa Đà như con hạc vàng, một đi không trở lại (nhất khứ
bất phục phản), khiến Tào Tháo chẳng yên lòng.
Tào Tháo sai sứ thần đến đất Tiêu (Hào Châu thị) xem hư thực thế nào và
dặn, nếu vợ Hoa Đà bị bệnh, thì ban cho Hoa Đà 40 hộc đậu.
Sứ thần đến đất Tiêu, điều tra, rồi về bẩm báo với Tào Tháo, vợ Hoa Đà
chẳng đau ốm gì cả. Tào Tháo nghe bẩm báo, tức giận, sai người bắt kì
được Hoa Đà về giam vào ngục. Không lâu, Tào Tháo sai người giết Hoa
Đà.
Sau này, con nhỏ của Tào Tháo đau nặng mà chết, Tào Tháo hối hận nói
rằng : Nếu ta không giết Hoa Đà thì con ta đâu có chết !
Thuyết thứ hai :
Tào Tháo mời Hoa Đà đến chữa bệnh đau đầu. Hoa Đà nói :
– Chúa công bị bệnh đau đầu, bệnh này đã ăn sâu vào trong não, nay
muốn chữa tận gốc phải bửa não ra mới trị được. Tính Tào Tháo vốn đa
nghi, lại chưa hề nghe ai nói bửa não ra bao giờ, nay nghe Hoa Đà nói bửa
não mình ra, sinh nghi, cho rằng, Hoa Đà do Lưu Bị hoặc Tôn Quyền sai
đến để mưu sát mình, liền sai người bắt giam vào ngục. Không bao lâu, Tào
Tháo cho người giết Hoa Đà.
Khi Hoa Đà bị giam vào ngục, tuy khổ sở vô cùng, nhưng tiếc kinh
nghiệm mười năm hành y sẽ mai một, liền cặm cụi ngày đêm viết một tập
sách.
Lúc sắp bị hành hình, Hoa Đà đưa cho tên lính coi ngục, dặn rằng : Nhà
ngươi hãy giữ sách này để cứu sống người ta.
Có chuyện cho rằng, anh lính ngục sợ liên luỵ, không nhận sách.
Hoa Đà quá đau khổ và phẫn uất, đốt sách.
Có chuyện lại kể, anh lính đem sách về nhà, bà vợ thấy được, sợ anh
lính lại giỏi như Hoa Đà, rồi chết thảm như Hoa Đà, liền đốt sách !
Ngày nay, những y thuật liên quan đến Hoa Đà còn lưu truyền là đều do
đệ tử của ông nhớ lại và viết thành sách.
III. HOA ĐÀ VÀ NGŨ CẦM HÍ
Hoa Đà không chỉ được xem là ông tổ của ngoại khoa mà còn là ông tổ
của thuật dưỡng sinh, được gọi là Ngũ cầm hí.
Tương truyền, quê hương của Hoa Đà, từ trẻ đến già, từ nam đến nữ, ai
ai cũng biết, cũng luyện Ngũ cầm hí.
Cậu bé Hoa Đà thể chất yếu đuối, bệnh tật luôn, và ông đã luyện Ngũ
cầm hí : Luyện theo dáng điệu con hổ thì như rình nấp rồi nhảy ra vồ lấy
con mồi. Luyện theo dáng điệu con lộc thì chuyển động duỗi thẳng đầu.
Luyện theo dáng điệu con gấu thì nằm xuống đất. Luyện theo dáng điệu con
khỉ thì nhảy múa, hái hoa quả. Luyện theo dáng điệu con chim thì như xoè
cánh bay lên. Ông luyện ba tháng, hết bệnh tật, sức khoẻ tăng lên rõ rệt.
Ngô Tấn, người Quảng Lăng, theo Hoa Đà học nghề y và được thầy chỉ
dạy cho Ngũ cầm hí.
Hoa Đà nói rằng : Con người làm lụng quá cực nhọc thì sinh ra mỏi
mệt, nên cần phải vận động. Vận động, cốc khí tiêu hao, khí huyết lưu
thông, không bị bệnh. Nước chảy thì không cũ, then cửa thì không bị mọt.
Ta được cổ nhân truyền cho thuật Ngũ cầm hí, mô phỏng hình thái của các
con vật, gọi là Ngũ cầm hí.
Ngũ cầm hí được phân thành hổ hình, lộc (nai) hình, hùng (gấu) hình,
viên (khỉ) hình và điểu (chim) hình. Nếu siêng năng luyện tập, gần thì trị
bệnh, giữ gìn sức khoẻ, xa thì kéo dài tuổi thọ.
Ví thân thể chậm chạp, nặng nề, luyện Ngũ cầm hí, đổ mồ hôi, bụng
đói, ăn ngon miệng, thân nhẹ nhàng, nhanh nhẹn.
Ngô Tấn nghe lời thầy, chăm chỉ luyện Ngũ cầm hí, không kể ngày
nắng, ngày mưa. Ngô Tấn thọ 90 tuổi, mắt sáng, tai thính, răng vẫn còn
nguyên.
Hơn hai ngàn năm qua, nội dung của thuật Ngũ cầm hí ngày càng phong
phú, có rất nhiều môn phái khác nhau, người theo luyện Ngũ cầm hí ngày
càng nhiều.
IV. TIỂU KẾT
Mặc dù Hoa Đà mất cách đây gần 2 ngàn năm, nhưng nhiều thế hệ thầy
thuốc vẫn nghiên cứu về phương pháp chữa bệnh của Hoa Đà và viết thành
sách.
Một trong những cuốn sách viết gần đây nhất là cuốn Hoa Đà tiên ông
mật phương quả thái nguyên bệnh pháp (Những phương thuốc mật truyền,
dùng nguyên liệu rau quả trị liệu, của tiên ông Hoa Đà) của nữ tác giả Khê
triều - Dương Minh Thuần.
Sách ca ngợi Hoa Đà hết lời, trong đó tác giả có dẫn bài thơ, ý khá lạ :
Tế thế Hoa Đà trị bệnh kỳ
Nhân tâm hiểm ác dược nan y
Tam xan tử nhục thân hư nhược
Quả thái tiên phương cứu thế nguy
Tạm dịch
Giúp đời Hoa Đà trị bệnh lạ
Lòng người hiểm ác khó trị sao ?
Ba bữa no say toàn rượu thịt
Khiến thân cho thân thể phải hư hao
Rau quả thuốc tiên dùng trị liệu
Cứu người ra khỏi cảnh lao đao !
Theo ý tác giả, các bệnh kỳ lạ, nan y, Hoa Đà có thể chữa được, bệnh
hư nhược do ăn thịt, uống rượu, dùng ra quả để chữa được.
Nhưng lòng người hiểm ác, là một loại bệnh nan y, thánh y Hoa Đà
cũng đành thúc thủ !
hương hai :NHỮNG PHƯƠNG THUỐC HAY
Tiết 1 : NHỮNG BỆNH THƯỜNG GẶP
1. VIÊM MẮT, MẮT BỊ BỆNH, VIÊM GIÁC MẠC
Phương thuốc : Nước nho (bồ đào).
Cách dùng : Sáng, 10 giờ. Uống một chén nhỏ.
Uống liên tục trong 3 ngày, sẽ thấy hiệu quả, rất thần kỳ.
2. ĐAU TAI, Ù TAI
Phương thuốc :
Mía ngọt, dài 2 xích (xích = thước ta), bột Cam thảo.
Cách dùng : Ngâm mía với Cam thảo.
Uống nước mía hoặc ăn mía vào lúc 11 giờ sáng.
3. PHỤ NỮ BỊ MỤN (THANH XUÂN ĐẬU)
Có nhiều nguyên nhân phát sinh mụn (thanh xuân đậu), như huyết dịch
tuần hoàn không tốt, nhiều Đản bạch chất (Protein), gan hỏa vượng.
Phương thuốc : Da quả chanh (1 quả). Bồ đào khô 10 hạt. Mía ngọt 1
xích (cắt ngắn, chẻ làm tư). Cam thảo 10 miếng.
Cách dùng : Sắc cả 4 loại thuốc, 4 chén còn 1 chén. Uống vào khoảng 1
giờ trưa. Uống liên tiếp 3 ngày, sẽ hết mụn.
4. VIÊM TUYẾN THIÊN ĐÀO
Phương 1 : Mận (lý) 5 quả, mật ong.
Cách dùng : Cắt mận thành nhiều miếng, bỏ vào chén, thêm mật ong, để
khoảng 20 phút. Uống vào lúc 1 giờ trưa.
Phương 2 : Đào, mật ong.
Cách dùng : Cắt đào thành nhiều miếng, ngâm với mật ong, khoảng 20
phút.
Uống vào khoảng 1 giờ trưa.
* Chi chú : Người dưới 30 tuổi không dùng phương thuốc này.
Phương 3 : Dưa hấu (tây qua). Mật ong.
Cách dùng : Cắt dưa hấu thành miếng, cho vào chén với mật ong, ngâm
khoảng 30 phút. Uống lúc 1 giờ trưa.
* Ghi chú : Người trên 60 tuổi, không nên phương thuốc này.
5. HÔI MIỆNG, MIỆNG BỊ VIÊM, LỞ MIỆNG
Phương thuốc : Cam thảo 30 miếng, quả tần 1 quả (cắt thành 4), hương
thái 20 cọng.
Cách dùng : Sắc 2 chén nước, còn 1/2 - 1 chén. Uống với mật ong.
* Ghi chú : Không gia thêm mật ong. Vì phương thuốc mát, thêm mật
ong thì không hiệu quả.
Tiết hai : NHỮNG PHƯƠNG THUỐC TRỊ LIỆU THEO MÙA
Mùa Xuân :
Mùa Đông qua đi, gió lạnh từ từ giảm bớt, gió mùa Xuân thổi, lạnh ấm
bất thường, khí hậu chuyển biến. Con người làm lụng cực khổ, ít nghỉ ngơi
dễ sinh bệnh tật.
1. CHẢY NƯỚC MŨI, ĐAU CỔ HỌNG, NẶNG ĐẦU, XƯƠNG CỐT
ĐAU NHỨC
Phương 1 : Mã linh thự - Khoai mã linh (mã linh thực), lượng tùy ý.
Cách dùng : Cắt khoai mã linh ra từng miếng, nấu với nước, khoảng 10
phút, không thêm đường, không thêm muối. Đễ nguội, uống nước.
Phương 2 : Ba thái (hoặc ba long thái) nửa cân, không thái nhỏ.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút, không thêm đường,
muối.
Uống trước bữa ăn.
2. HẮT HƠI, CHẢY NƯỚC MẮT, GÂN CỐT ĐAU NHỨC
Phương thuốc : Mía ngọt (da màu đỏ).
Cách dùng : Không lóc vỏ, cắt chẻ từng khúc, cho vào nồi nấu với nước
khoảng 10 phút, lấy nước uống. Rất công hiệu.
3. TAY CHÂN MỀM NHŨN, KHÔNG CÓ SỨC; MỎI MẮT; LƯNG
ĐAU NHỨC; ĐẮNG MIỆNG
Phương thuốc : Khoai nước (dụ đầu), mỳ sợi, đường, dầu phụng.
Cách dùng: Thái khoai nước thành sợi, xào dầu phụng với mỳ sợi,
đường.
Dùng để ăn.
4. ĐAU ĐẦU KHÔNG CHỊU NỖI, TAY CHÂN KHÔNG CÓ SỨC,
HÍT THỞ KHÓ KHĂN, TÂM TẠNG KHÔNG CÓ LỰC, CAO HUYẾT
ÁP
Phương 1 : Thạch lựu.
Cách dùng : Cắt thạch lựu thành 8 miếng, nấu với 3 chén nước, khoảng
10 phút.
Uống nước.
Phương 2 : Kim châm (tươi) nửa cân.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút. Uống nước.
5. ĐAU ĐẦU KHÔNG CHỊU NỔI, NHỨC CHÂN, TIM ĐẬP MẠNH,
ĐAU MẮT
Phương 1 : Cam thảo 2 lượng.
Cách dùng : Nấu Cam thảo với 3 chén nước, nấu nhỏ khoảng 20 phút,
không để cạn nước.
Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 giờ, mỗi lần uống nửa chén.
Phương 2 : Nhân sâm 3 tiền.
Cách dùng : Sắc Nhân sâm với 2 chén nước, nhỏ lửa, khoảng 20 phút.
Mỗi lần uống nửa chén, cách 3 tiếng, uống ngày 2 lần.
Mùa Hạ :
Mùa Xuân qua, khí hậu biến hóa vô thường, dễ sinh bệnh tật. Tùy theo
tháng mà dùng thuốc.
Sơ Hạ (tháng tư dương lịch)
1. CẢM MẠO, CHẢY NƯỚC MŨI, NẤC CỤT, ĐAU XƯƠNG, TAY
CHÂN KHÔNG CÓ LỰC, ĐAU CỔ HỌNG, VIÊM MŨI, THIÊN ĐẦU
THỐNG, TIÊU HÓA KHÔNG TỐT
Gồm 7 phương thuốc, chọn 1 trong 7 phương.
Phương 1 : Dương đào.
Cách dùng : Ăn dương đào, không cho thêm những thực phẩm khác.
Ăn 2 lần thấy hiệu quả.
Phương 2 : Dưa hấu loại nhỏ (tiểu tây qua).
Cách dùng : Chia làm 2, ăn 2 lần.
Phương 3 : Mận (lý) 4 quả.
Cách dùng : Mỗi lần ăn 2 quả, ăn 2 lần.
Phương 4 : Chuối tiêu (hương tiêu).
Cách dùng : Mỗi lần ăn 1 quả, ăn 2 hoặc 5 lần.
* Chi chú : Những người đau dạ dày không nên ăn.
Phương 5 : Nho (bồ đào).
Cách dùng : Mỗi lần ăn 5 quả.
Ăn 2 lần, thấy hiệu quả.
Phương 6 : Hoa cúc, 1 lượng.
Cách dùng : Nấu với 2 chén nước, khoảng 10 phút, chia làm 2, uống 2
lần.
Phương 7 : Đậu hủ 1 miếng, đường.
Cách dùng : Ướp đậu hủ với đường, không nấu, dùng để ăn.
Tháng năm - bị cảm mạo :
Khí trời chuyển sang nóng bức, lổ chân lông mở ra; ngày nay, người ta
thường dùng quạt máy, máy lạnh, hoặc bị gió, dễ bị cảm mạo.
Sau đây là những phương thuốc dùng để trị liệu, gồm 6 phương, chọn 1
trong 6 phương.
Phương 1 : Dưa hấu (Tây qua), 8 lượng, bột Cam thảo, 4 tiền.
Cách dùng : Gọt vỏ, bỏ hạt, ép nước, bỏ bã, trọng với Cam thảo, dùng
để uống.
Phương 2 : Lá củ mài (phiền thự diệp - thự : củ mài) 8 lượng, mía ngọt
8 lượng.
Cách dùng : Ép cả hai loại thuốc, uống nước.
Phương 3 : Lá củ mài (phiền thự diệp) 8 lượng, chanh 1 quả.
Cách dùng : Ép lá lấy nước, trộn với nước chanh để uống.
Phương 4 : Mía vỏ đỏ 1 cân, rau bó xôi (ba thái) 4 lượng.
Cách dùng : Cắt mía (không lóc vỏ) thành từng khúc, 6 chén nước, nấu
với rau bó xôi, khoảng 20 phút, uống nước.
Phương 5 : Kết đầu thái, dưa hấu 4 lượng.
Cách dùng : Cắt nhỏ kết đầu thái; gọt vỏ dưa hấu, ép lấy nước; trộn với
kết dầu thái, để khoảng nửa giờ, dùng để ăn.
Phương 6 : Phiền thạch lựu 9 lá, nho 9 quả.
Cách dùng : Ép nước uống. Công hiệu như thần.
Tháng sáu - bị cảm mạo :
Tháng sáu trời nắng, dễ trúng nắng, sinh cảm mạo.
Sau đây là 6 phương thuốc, chọn 1 phương thuốc thích hợp.
Phương 1 : Nhân sâm 3 tiền, Bí đao tươi (tân tiên Đông qua) 5 lượng.
Cách dùng : Sắc nhân sâm, bí đao với 2 chén nước, khoảng 15 phút.
Dùng để uống.
Phương 2 : Bí đao 3 lượng, đường phèn 3 tiền.
Cách dùng : Nấu bí đao với đường phèn, 3 chén nước,
nấu khoảng 15 phút. Uống nước.
Phương 3 : Mộc qua 1 quả, bí đao 3 lượng, hương qua (lê tử qua) 1 quả.
Cách dùng : Ép nước dùng để uống.
Phương 4 : Bí đao, dưa hấu, hương qua (lê tử qua).
Cách dùng : Bỏ vỏ, ép lấy nước, dùng để uống.
Phương 5 : Mộc nhĩ 1 lượng, Xuyên khung 3 tiền, Nhân sâm 2 tiền.
Cách dùng : Sắc với 5 chén nước, khoảng 30 phút, dùng để uống.
Phương 6 : Chuối tiêu 1 quả, thạch lựu 1 quả.
Cách dùng : Nấu với 1 chén nước, khoảng 10 phút, dùng để uống (thạch
lựu để nguyên).
Mùa Thu - bị cảm mạo :
Tháng 7 :
Khí trời gần hết nắng nóng, buổi chiều tối trời mát mẻ, cũng là nguyên
nhân phát sinh cảm mạo. Gồm 2 phương thuốc, chọn 1 trong 2.
Phương 1 : Mộc qua 1/2 quả, cắt thành miếng, Dương đào chưa chín, 5
quả, bột Nhân sâm 1 tiền.
Cách dùng : Ép Mộc qua, Dương đào, ép lấy nước uống với bột Nhân
sâm.
Phương 2: Thạch lựu, chưa chín, 5 quả, Xuyên khung 3 tiền.
Cách dùng : Sắc với 2 chén nước, khoảng 10 phút, dùng để uống.
Tháng 8 :
Khí trời không còn nắng nóng như khí hậu tháng sáu, nhưng nóng lạnh
bất thường, gió mát, dễ sinh cảm mạo. Gồm 3 phương thuốc, chọn 1 trong
ba.
Phương 1 : Mộc qua 1/2 quả, Dương đào 1 quả, chuối hương 1 quả (bỏ
vỏ), đường.
Cách dùng : Ướp các loại quả với đường, khoảng nửa tiếng đồng hồ,
dùng để ăn.
Phương 2 : Chuối hương 1 quả (bỏ vỏ), chanh 1 quả (cắt thành miếng),
đường.
Cách dùng : Ướp chuối, chanh với đường, khoảng nửa tiếng đồng hồ,
dùng để ăn.
Phương 3 : Chanh 1 quả (thái mỏng), Dương đào 1 quả (cắt thành
miếng), bồ đào 1 quả (cắt thành miếng), đường trắng.
Cách dùng : Ngâm các loại quả với đường trắng, dùng để ăn.
Mùa Đông - bị cảm mạo
Tháng mười :
Tháng mười, khí trời bắt đầu chuyển lạnh, trời đang lạnh, chuyển sang
nóng dễ bị cảm mạo. Gồm 2 phương, chọn 1 trong 2.
Phương 1 : Nhân sâm 2 tiền, Xuyên khung 3 tiền, Ý nhân 3 tiền.
Cách dùng : Nấu nhỏ lửa với 2 chén nước, khoảng 30 phút, dùng đế
uống.
Phương 2 : Chuối tiêu 3 quả, vỏ cam 3 quả, Kim châm tươi 3 lạng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, nấu khoảng 10 phút, uống nước.
Tháng mười một :
Tháng mười một, khi trời chuyển lạnh, lạnh bỗng chuyển sang nóng, dễ
bị cảm mạo. Gồm 2 phương thuốc, chọn 1 trong 2 phương.
Phương 1 : Nhân sâm 2 tiền, Xuyên khung 3 tiền, Ý nhân 3 tiền.
Cách dùng : Sắc thuốc với 2 chén nước, nhỏ lửa 30 phút. Uống nước.
* Ghi chú : Người cao huyết áp không nên dùng.
Phương 2 : Vỏ chuối tiêu 3 quả, vỏ cam 3 trái, kim châm tươi 3 lượng.
Cách dùng : nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút. Uống nước.
Tháng mười hai :
Khí trời lạnh, nếu người yếu, sức đề kháng yếu, dễ phát sinh bệnh tật.
Gồm 2 phương thuốc, chọn phương thích hợp.
Phương 1 : Xuyên khung 3 tiền, Mộc nhĩ 3 tiền.
Cách dùng : Sắc với 3 chén nước, khoảng 20 phút. Uống nước.
Phương 2 : Nhân sâm, Xuyên khung, Cam thảo, mỗi loại 3 tiền.
Cách dùng : Sắc 3 loại thuốc, khoảng 20 phút. Uống nước.
Tiết ba : NHỮNG PHƯƠNG THUỐC TRỊ LIỆU CẢM MẠO -THEO
NGHỀ NGHIỆP VÀ THEO TỪNG MÙA
1. HỌC SINH TRUNG HỌC
Các cháu học sinh lao động trí óc nhiều, dễ bị cảm mạo.
Tùy theo mùa, chọn phương thuốc thích hợp.
Mùa Xuân :
Phương thuốc : Vỏ chuối hương 1 quả, Long nhãn nhục khô 20 quả, hạt
Long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút, mỗi lần uống 1
chén.
Mùa Hạ :
Phương thuốc : Quả vải (lệ chi) bỏ vỏ, bỏ hạt, 3 quả, hạt quả vải 30 hạt
(nghiền nhỏ).
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút, không nên thêm các
loại thuốc khác. Uống nước.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Nho khô 20 quả, Long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), Nhân
sâm 10 miếng, đường trắng.
Cách dùng : Sắc với 3 chén nước, 10 phút. Uống với đường, mỗi lần
uống 1 chén.
2. NGHỀ THẦY GIÁO
Do nghề nghiệp, thầy giáo dễ bị những bệnh về cổ họng, phổi, cảm
mạo, đau đầu. Sau đây là những phương thuốc trị cảm mạo, theo từng mùa.
Mùa Xuân :
Phương thuốc : Chanh 5 miếng, long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), long
nhãn khô 20 quả, đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút. Uống nước với
đường trắng, mỗi lần uống 1 chén.
Mùa Hạ :
Phương 1 : Đào 3 quả, bổ 1 quả thành 5 miếng, 3 hạt đào (nghiền nhỏ),
đường trắng.
Cách dùng : Nấu 3 chén nước, 10 phút, uống mỗi lần 1 chén.
Phương 2 : Vỏ quả vải 10 vỏ; quả vải 10 quả (bỏ vỏ, hạt); hạt vải 10 hạt
(nghiền nhỏ); đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, nấu 10 phút. Uống một lần 1 chén,
với đường trắng.
Phương 3 : Da long nhãn 20 quả, thịt long nhãn (bỏ vỏ, hạt) 20 quả, hạt
long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ).
Cách dùng : Rửa sạch các vị thuốc, để khô ráo, nấu với 3 chén nước.
Uống mỗi lần 1 chén.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Vỏ cam 1 quả, hạt vải 10 hạt (nghiền nhỏ), mía dài 5
thốn ( cắt thành nhiều đoạn, chẻ làm 4), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút. Uống với đường,
mỗi lần 1 chén.
Mùa Đông :
Phương thuốc : Vỏ chuối tiêu, 2 quả, hạt cam 30 hạt (nghiền nhỏ), mía 5
thốn, chặt thành khúc, chẻ ra làm tư, đường trắng.
Cách làm : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường, mỗi lần uống 1 chén.
3. CÔNG CHỨC
Do ngồi nhiều, huyết dịch không lưu thông, bụng, vai ít vận động, dễ bị
cảm mạo.
Tùy theo mùa mà chọn phương thuốc.
Mùa Xuân :
Phương 1: Đào nhân 5 hạt, long nhãn 10 hạt, vải 10 hạt (tất cả đền
nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước với đường, mỗi lần uống 1 chén.
Phương 2 : Vỏ chuối hương 3 quả, vỏ cam 1 quả, mía 5 thốn (chặt thành
từng khúc, chẻ làm tư), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước với đường, mỗi lần uống 1 chén.
Mùa Hạ :
Gồm 3 phương thuốc, chọn 1 trong 3.
Phương 1 : Đào nhân 5 quả, cắt bỏ chỗ tỳ vết, bổ mỗi quả ra làm 5,
đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước với đường trắng, mỗi lần uống 1 chén.
Phương 2 : Vỏ trái vải (lệ chi) 10 quả, cơm quả vải (tức bỏ vỏ, hạt) 10
quả, hạt quả vải 10 hạt (nghiền nhỏ), đường.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường, mỗi lần 1 chén.
Phương 3 : Long nhãn 30 quả, vỏ long nhãn 30 cái, hạt long nhãn 30 hạt
(nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường, mỗi lần 1 chén.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Vỏ cam 3 quả, hạt cam 30 hạt (nghiền nhỏ), long nhãn
khô 20 quả, đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường trắng, mỗi lần uống 1 chén.
Mùa Đông :
Gồm 2 phương, chọn 1 trong 2.
Phương 1: Mía dài 5 thốn, chặt thành khúc, chẻ làm tư; hạt long nhãn
30 hạt (nghiền nhỏ), nhân sâm 10 miếng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước, mỗi lần 1 chén, không cho thêm đường.
Phương 2 : Dương đào 2 quả bổ thành miếng, long nhãn khô 20 quả, hạt
long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước.
Uống nước với đường, mỗi lần 1 chén.
4. NHỮNG NGƯỜI Ở THÀNH THỊ
Do đời sống tất bật, ngược xuôi, nhiều lo lắng, những người ở thành thị
dễ bị các chứng bệnh viêm gan, nhức đầu, cảm mạo.
Tùy theo mùa, chọn thuốc cảm mạo cho thích hợp.
Mùa Xuân :
Phương 1: Mía 1 xích.
Cách dùng : Ăn mía vào buổi sáng, khoảng 11 giờ,
Phương 2 : Mộc qua 1/4 quả.
Cách dùng : Ăn vào buổi chiều, khoảng 4 giờ chiều.
Phương 3: Trà nho (khô).
Cách dùng : Uống 1 chén, trước khi đi ngủ.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc, dùng liên tục trong 3 ngày,
công hiệu thần kỳ.
Mùa Hạ :
Phương 1 : Nho khô 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 10 giờ sáng.
Phương 2 : Nho khô, 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3 : Mật ong hòa với nước ấm, 1 chén.
Cách dùng : Uống trước khi đi ngủ.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc, dùng liên tục trong 3 ngày.
Mùa Thu :
Phương 1: Nước quả vải (lệ chi) 1 chén.
Cách dùng : Uống vào lúc 1 giờ trưa.
Phương 2 : Nước nho 1 chén.
Cách dùng : Uống vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3 : Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn trước khi đi ngủ.
Mùa Đông :
Phương 1 : Nho khô 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 11 giờ trưa.
Phương 2: Mía 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3: Trà mơ 1 chén.
Cách dùng : Uống với đường, trước khi đi ngủ.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc trên, dùng liên tiếp trong 4
ngày.
5. NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHỀ NÔNG
Do đặc điểm nghề nghiệp, máu dịch, tinh lực tiêu hao nhiều, dầm sương
dải nắng, ăn uống thất thường, dễ bị các bệnh như đau dạ dày, đau lưng, tê
chân, cảm mạo. Sau đây là những phương thuốc có ích cho những người
làm nghề nông.
Mùa Xuân :
Phương 1: Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn khi có cảm giác đói. Công dụng, chống đói.
Phương 2 : Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào khoảng 4 giờ chiều. Công dụng, chống đói, bổ
máu.
* Ghi chú : Người bị đau dạ dày, không nên ăn.
Mùa Hạ :
Do khí trời nóng bức, không muốn ăn uống, sức lực tiêu hao. Sau đây là
những phương thuốc có công dụng tiêu trừ mệt nhọc.
Phương thuốc 1, 2, 3, giành cho những người ở nơi có nhiều trái vải (lệ
chi).
Phương thuốc 4, 5, 6, giành cho những người ở nơi có nhiều long nhãn.
Phương 1 : Quả vải (lệ chi) 10 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 10 giờ sáng.
Công dụng : Bổ máu, chống đói.
Phương 2 : Quả vải 8 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Công dụng : Chống đói, bổ máu.
Phương 3: Trà hạt vải (lệ chi) 1 chén, đường trắng.
Cách dùng : Nghiền nhỏ hạt vải, nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút
(trà lệ chi). Uống 1 chén với đường trước khi đi ngủ. Không nên uống
nhiều, phản tác dụng, không hiệu quả.
Công dụng : Trừ nhức mỏi xương cốt.
Phương 4: Long nhãn 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào khoảng 11 giờ sáng.
Phương 5: Long nhãn 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 6: Trà long nhãn, 1 chén.
Cách dùng : Dùng 30 hạt long nhãn, nghiền nhỏ, nấu với 4 chén nước
(trà long nhãn). Uống 1 tách, với đường trắng, trước khi đi ngủ. Không nên
uống nhiều.
Mùa Thu :
Phương 1: Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào khoảng 10 giờ.
Phương 2: Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3 : Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn trước khi đi ngủ.
Công dụng : Phòng trăm bệnh phát sinh.
Mùa Đông :
Phương 1: Phiền thự (khoai), rửa sạch cắt thành miếng.
Cách dùng : Chiên với dầu mè. Dùng để ăn, trước khi đi ngủ, mỗi lần ăn
5 miếng, không nên ăn nhiều.
Công dụng : Bổ khí, bổ máu, trị đau nhức xương.
Phương 2 : Hồng la bồ, rửa sạch, cắt ra từng miếng, không bỏ vỏ.
Cách dùng : Chiên với dầu mè. Ăn 10 miếng, không nên ăn nhiều.
Công dụng : Thông khí huyết, trị bệnh đau xương lâu năm.
Tiết bốn :PHỤ NỮ CÓ THAI - BỊ CẢM MẠO
Phụ nữ có thai cần thận trọng trong việc dùng thuốc, nếu không sẽ ảnh
hưởng đến thai nhi. Sau đây là những phương thuốc cảm mạo giành cho
phụ nữ có thai.
Phương 1: Mía 5 thốn, chặt thành 5 khúc, chẻ làm tư, hương thái 10
cọng.
Cách dùng : Nấu với 2 chén nước, uống mỗi lần 1 chén.
Phương 2 : Mía, 5 đốt, hồng thự đào 3 củ, cắt 1 củ thành 3 miếng. Cách
dùng : Nấu với 3 chén nước. Uống mỗi lần 1 chén.
Phương 3 : Mía 3 đốt, lô duẫn (lô : một loại rau, duẫn : măng tre) sắc
trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước. Uống mỗi lần 1 chén.
Phương 4 : Hồng la duẫn (thái thành sợi), vỏ chuối tiêu 3 quả, tần quả
(cắt thành 4 miếng, khi cắt không nên để chỗ lõm trên bề mặt).
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước. Uống mỗi lần 1 chén.
Tiết năm : NHỮNG BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN PHỔI
1. HO
Mùa Xuân :
Phương thuốc : Dương đào, vỏ cam, hạt mơ (mai tử), đường.
Cách dùng : Dương đào 2 hạt, bổ ngang, vỏ cam 1 quả, mơ 5 hạt, gọi là
trà dương đào. Nấu với 2 chén nước. Uống 1 chén với đường trắng, lúc 11
giờ sáng.
Buổi chiều, hâm nóng, uống 1 chén, vào lúc 2 giờ chiều. Uống liên tục
3 ngày.
Mùa Hạ :
Phương thuốc : Dương đào 3 quả (cắt ngang), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, còn 2 chén, gọi là trà dương đào.
Sáng, 11 giờ uống 1 chén với đường.
Chiều, 2 giờ uống 1 chén với đường.
Uống liên tục 3 ngày.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Vỏ cam 1 quả, mía dài 5 thốn (cắt thành khúc), long
nhãn khô 20 quả.
Cách dùng : Nấu với 2 chén rưỡi nước, còn 2 chén.
Sáng 11 giờ, uống 1 chén.
Chiều, 2 giờ, uống 1 chén.
Uống liên tục 3 ngày.
Mùa Đông :
Phương thuốc : Mía, 5 thốn, cắt thành 3 đoạn, nho khô 30 hạt, dương
đào 1 quả (cắt ngang).
Cách dùng : Nấu 3 chén nước, còn 2 chén.
Sáng, 11 giờ, uống 1 chén.
Chiều, 2 giờ, uống 1 chén.
Uống liên tục 3 ngày.
2. SUYỄN
Trung niên :
Phương thuốc : Nhân sâm 5 miếng, long nhãn khô 20 quả, kim cát khô
5 quả.
Cách dùng : Nấu với 1 chén nước, nhỏ lửa, còn lại 5 phân. Dùng để
uống, thần diệu vô song.
Người cao tuổi :
Phương thuốc : Nhân sâm 5 miếng, kim cát khô 2 quả, hương cô (nấm
hương) 3 cái, đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, nhỏ lửa, còn 1 chén nước.
Uống với đường trắng.
Uống liên tục 3 ngày.
Thiếu niên :
Phương thuốc : Chanh (cắt thành từng miếng), dương đào 3 quả (cắt
thành miếng), nấm hương 3 cái.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, còn 1 chén.
Uống với đường vào lúc 3 giờ chiều.
Uống liên tục 3 ngày.
3. PHỔI KẾT HẠCH
Gồm 3 phương thuốc, mỗi phương thuốc uống 5 ngày.
Phương 1 : Oa tử thái ( rau diếp) 20 cọng.
Cách dùng : Rửa sạch, nấu với 3 chén nước, còn 1 chén.
Uống vào lúc 10 giờ sáng.
Uống liên tiếp 5 ngày.
Phương 2 : Nấm hương 5 cái.
Cách dùng : Rửa sạch hương cô nấu với 1 chén rưỡi nước, còn 1 chén.
Uống vào lúc 10 giờ rưỡi sáng. Uống liên tục 5 ngày.
Phương 3 : Kim châm 10 cọng (ngâm kim châm, làm sạch), nấm hương
5 cái (thái thành sợi), hồng la bặc (cải đỏ) nửa cành, hương thái 5 cành.
Cách dùng : Xào với dầu phụng, nhỏ lửa. Xào nấm hương, kim châm
trước, sau mới cho hương thái, cải, không cho nước (cho nước, sẽ mất chất
dinh dưỡng).
Dùng để ăn chay, ăn vào lúc 10 giờ sáng.
ĂÊn liên tục 10 ngày.
Tiết sáu :NHỮNG BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN DẠ DÀY
1. VỊ BỊ BỆNH, VỊ BỊ TRƯỚNG
Phương 1 : Cam thảo 10 miếng, dương đào 1 quả (cắt thành miếng).
Cách dùng : Nấu với 1 chén rưỡi nước, còn 1 chén. Uống vào lúc 10 giờ
sáng.
Phương thuốc 2: Mai khô 1 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 2 giờ chiều.
Phương 3 : Mộc qua 1 quả, bổ làm tư.
Cách dùng : Ăn vào lúc 9 giờ tối.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc trên.
Khi dùng thuốc không ăn đập phụng (lạc) và các loại thịt.
2. DẠ DÀY BỊ XUẤT HUYẾT
Dạ dày bị xuất huyết, do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chính là do
nhịn đói quá bữa trưa, vách dạ dày bị bào mòn, liên tục trong 6 năm, vách
dạ dày bị mỏng, phát sinh xuất huyết.
Phương 1: Nước mộc qua (1/2 chén), đường.
Cách dùng : Chọn loại mộc qua chưa chín, lớn bằng trái trứng ngỗng,
rửa sạch, ép lấy nước.
Uống với đường trắng vào khoảng 2 giờ chiều.
Phương 2 : Nước rau Cao ly (1/2 chén), mật ong.
Cách dùng : Rửa sạch rau, giả lấy nước, thêm mật ong để uống.
* Ghi chú : Uống phối hợp 2 phương thuốc trên liên tục 10 ngày, nghỉ 5
ngày, sau đó uống liên tục 10 ngày.
3. SA DẠ DÀY
Nguyên nhân, hay nhịn đói vào buổi tối, lâu ngày công năng của dạ dày
bị hạ thấp, không hấp thu chất dinh dưỡng, sinh sa dạ dày.
Phương 1: Tây dương sâm (loại sáng), một thìa uống trà.
Cách dùng : Uống vào lúc 9 giờ sáng.
Phương 2 : Nước gạo lứt (nửa chén), nấm hương 3 cái, đường trắng...
- TRỊ LIỆU BẰNG RAU, CỦ, QUẢ
CỦA THẦN Y HOA ĐÀ VÀ NHÀ PHẬT
By Đông A Sáng
Copying Đông A Sáng
Smashwords Edition.
Phần một : THẦN Y HOA ĐÀ - NHỮNG PHƯƠNG HAY TRỊ LIỆU
BẰNG RAU, CỦ, QUẢ
Phần hai : NHỮNG PHƯƠNG THUỐC CỦA NHÀ PHẬT
MỤC LỤC
AUTHOR
Phần một:THẦN Y HOA ĐÀ - NHỮNG PHƯƠNG HAY TRỊ LIỆU BẰNG
RAU, CỦ, QUẢ
Chương một : NHỮNG GIAI THOẠI VỀ THẦN Y HOA ĐÀ
Hoa Đà tự Nguyên Hóa (145-208), người nước Bái, thuộc Dự Châu,
ông là một danh y thời Đông Hán, người đời tôn ông là thần y hoặc tiên
ông.
Sau đây, là những mẩu chuyện thú vị liên quan đến Hoa Đà.
I. HOA ĐÀ CẠO XƯƠNG QUAN VÂN TRƯỜNG
Tam quốc chí kể, sau khi bắt được Vu Cấm, Bàng Đức, Quan Vân
Trường đích thân dẫn quân đến đánh Phàn Thành.
Tào Nhân đứng trên địch lâu, thấy Quan Công chỉ mặc một cái áo
giáp che ngực, trong mặc cái áo bào xanh, vội vàng sai năm trăm tay
cung thủ, nhất tề bắn ra đồng loạt.
Quan Công vội vàng quay ngựa ra về, thì đã bị một mũi tên găm vào
cánh tay phải. Tào Nhân thấy Quan Công bị tên ngã ngựa, vội kéo quân
ra thành, bị Quan Bình đánh một trận dữ dội, phải quay trở vào.
Quan Bình cứu được Quan Công đem về trại, rút mũi tên ra.
Nguyên đầu mũi tên có độc, đã ngấm vào xương cánh tay, sưng lên
xám ngắt, không cử động được. Quan Bình và các tướng thấy vậy,
xin Quan Công lui binh về Kinh Châu chữa trị.
Quan Công không chịu. Quan Bình và các tướng thấy vết thương không
khỏi, sai người đi khắp mọi nơi tìm danh y về chữa.
Một hôm, có người từ Giang Đông, bơi một chiếc thuyền nhỏ, đến
thẳng trước trại.
Lính canh đưa vào ra mắt Quan Bình, thấy người ấy đội khăn vuông,
mặc áo rộng, tự xưng là người ở Tiêu Quận, họ Hoa tên Đà, tự là Nguyên
Hoá.
Quan Bình hỏi :
– Có phải trước ông đã chữa cho Chu Thái ở Đông Ngô đó chăng ?
Hoa Đà thưa :
- Phải !
Quan Bình mừng lắm, lập tức cùng các tướng dẫn Hoa Đà vào ra mắt
Quan Công. Bấy giờ, Quan Công đau cánh tay nặng lắm, nhưng sợ lòng
quân xôn xao, phải gắng gượng ngồi đánh cờ với Mã Lương, để tiêu khiển.
Thấy có thầy thuốc đến, Quan Công liền cho mời vào. Hoa Đà ra mắt
lạy xong, mời ngồi uống nước.
Hoa Đà xin xem bệnh. Quan Công cởi áo cho Hoa Đà xem. Hoa Đà nói
:
– Đây là mũi tên có thuốc độc bằng vị ô đà, đã thấm vào xương rồi, nếu
không chữa nhanh, thì cánh tay này hỏng mất.
Quan Công hỏi :
– Chữa bằng cách nào ?
Hoa Đà thưa :
– Tôi đã có cách chữa nhưng sợ ngài ghê sợ mà thôi.
Quan Công cười, nói :
– Ta vốn xem cái chết như chơi, có việc gì mà phải sợ ?
Hoa Đà nói :
– Phải tìm một chỗ yên tĩnh, chôn một cái cột, trên cột đóng một cái
vòng sắt. Rồi ngài xâu cái tay vào cái vòng ấy, lấy giây buộc chặt lại, lấy
chăn trùm kín đầu. Tôi dùng dao nhọn rạch chỗ thịt ấy tới xương, cạo sạch
chất độc, rịt thuốc vào và khâu lại, có thể mới chữa khỏi. Chỉ ngại ngài sợ
hãi mà thôi !
Quan Công cười nói :
– Tưởng thế nào ! Dễ như thế thì cần gì phải dùng đến cột, vòng sắt cho
mệt. Quan Công bèn sai người mang rượu ra thết Hoa Đà. Hoa Đà uống
xong vài chén. Quan Công vẫn đánh cờ với Mã Lương, giơ cánh tay cho
Hoa Đà rạch. Hoa Đà tay cầm con giao con, sai một tiểu hiệu bưng chậu
hứng máu.
Hoa Đà nói :
– Tôi ra tay đây ! Xin Quân hầu chớ ngại.
Hoa Đà rạch thịt vào đến xương, thấy trên chỗ xương đã xanh cả. Hoa
Đà cạo xương, tiếng kêu ken két, ai nghe cũng rợn người, lè lưỡi, sởn gai.
Quan Công thì cứ uống rượu, đánh cờ, tựa hồ không đau đớn chút nào.
Một lúc, máu chảy ra đầy chậu. Hoa Đà cạo hết chất độc, rịt thuốc vào,
lấy chỉ khâu lại.
Quan Công cười to một tiếng, đứng dậy bảo với các tướng rằng :
– Cánh tay này co duỗi như thường rồi, không thấy đau nữa. Tiên sinh
quả thực là thần y. Hoa Đà nói :
– Tôi đi chữa bệnh một đời người, chưa thấy ai gan như thế ! Quân hầu
quả thực là người nhà Trời !
Người đời sau có thơ khen rằng :
Khoa trong cũng có khoa ngoài
Thuốc giỏi trên đời, dễ mấy ai ?
Quan tướng - người thần duy có một
Hoa Đà - thuốc thánh vẫn không hai
Quan Công khỏi đau, mở tiệc khoản đãi Hoa Đà.
Hoa Đà dặn rằng :
- Cái nhọt tên của ngài, tuy rằng khỏi, nhưng phải giữ gìn, chớ quá tức
giận mà vỡ vết thương ấy thì khốn. Ngoài trăm ngày, mới bình phục như
cũ.
Quan Công tạ Hoa Đà một trăm lạng vàng. Hoa Đà không nhận, nói
rằng :
– Tôi nghe ngài là người cao nghĩa, cho nên tôi đến chữa giúp thôi,
chứ không mong ngài trả ơn. Nói xong, Hoa Đà để lại một thang thuốc rịt,
rồi từ biệt ra đi.
II. GIAI THOẠI HOA ĐÀ VÀ TÀO THÁO
Hoa Đà, người An Huy, cuối thời nhà Hán, ông được xem là Biển
Thước tái thế. Tào Tháo cũng là người An Huy, đồng hương với Hoa Đà.
Có hai thuyết khác nhau về mối quan giữa danh y Hoa Đà với Tào Tháo.
Thuyết thứ nhất :
Thời trẻ, Tào Tháo đã bị chứng đau đầu, gọi là đầu phong chứng,
đến khi làm Thừa tướng, mỗi ngày phải xử lí chính trị cả trăm việc, nên
bệnh cũ thường tái phát. Tào Tháo đã cho mời nhiều danh y đến chữa
trị nhưng đều vô hiệu.
Tào Tháo nghe tiếng Hoa Đà là người đồng hương, lại có tài cải tử
hoàn sinh, liền sai người mời Hoa Đà về Hứa Đô.
Hoa Đà đến Hứa Đô, gặp Tào Tháo, dùng phương pháp châm cứu để trị
liệu.
Tào Tháo khỏi bệnh. Ai nấy đều kính phục. Tào Tháo sợ bệnh tái phát,
liền lưu Hoa Đà ở lại kinh đô.
Hoa Đà vốn quen sống đạm bạc, xem thường danh lợi, lại là một du y
giang hồ, nay đây mai đó như hạc nội, mây ngàn, tự do, tự tại. Nay, tuy ở
với Tào Tháo được ăn ngon, mặc đẹp nhưng lại bị trói buộc, ở kinh thành
quá lâu, Hoa Đà liền lấy cớ, nói dối là vợ bị ốm nặng, để trở về quê.
Nhưng rồi, Hoa Đà như con hạc vàng, một đi không trở lại (nhất khứ
bất phục phản), khiến Tào Tháo chẳng yên lòng.
Tào Tháo sai sứ thần đến đất Tiêu (Hào Châu thị) xem hư thực thế nào và
dặn, nếu vợ Hoa Đà bị bệnh, thì ban cho Hoa Đà 40 hộc đậu.
Sứ thần đến đất Tiêu, điều tra, rồi về bẩm báo với Tào Tháo, vợ Hoa Đà
chẳng đau ốm gì cả. Tào Tháo nghe bẩm báo, tức giận, sai người bắt kì
được Hoa Đà về giam vào ngục. Không lâu, Tào Tháo sai người giết Hoa
Đà.
Sau này, con nhỏ của Tào Tháo đau nặng mà chết, Tào Tháo hối hận nói
rằng : Nếu ta không giết Hoa Đà thì con ta đâu có chết !
Thuyết thứ hai :
Tào Tháo mời Hoa Đà đến chữa bệnh đau đầu. Hoa Đà nói :
– Chúa công bị bệnh đau đầu, bệnh này đã ăn sâu vào trong não, nay
muốn chữa tận gốc phải bửa não ra mới trị được. Tính Tào Tháo vốn đa
nghi, lại chưa hề nghe ai nói bửa não ra bao giờ, nay nghe Hoa Đà nói bửa
não mình ra, sinh nghi, cho rằng, Hoa Đà do Lưu Bị hoặc Tôn Quyền sai
đến để mưu sát mình, liền sai người bắt giam vào ngục. Không bao lâu, Tào
Tháo cho người giết Hoa Đà.
Khi Hoa Đà bị giam vào ngục, tuy khổ sở vô cùng, nhưng tiếc kinh
nghiệm mười năm hành y sẽ mai một, liền cặm cụi ngày đêm viết một tập
sách.
Lúc sắp bị hành hình, Hoa Đà đưa cho tên lính coi ngục, dặn rằng : Nhà
ngươi hãy giữ sách này để cứu sống người ta.
Có chuyện cho rằng, anh lính ngục sợ liên luỵ, không nhận sách.
Hoa Đà quá đau khổ và phẫn uất, đốt sách.
Có chuyện lại kể, anh lính đem sách về nhà, bà vợ thấy được, sợ anh
lính lại giỏi như Hoa Đà, rồi chết thảm như Hoa Đà, liền đốt sách !
Ngày nay, những y thuật liên quan đến Hoa Đà còn lưu truyền là đều do
đệ tử của ông nhớ lại và viết thành sách.
III. HOA ĐÀ VÀ NGŨ CẦM HÍ
Hoa Đà không chỉ được xem là ông tổ của ngoại khoa mà còn là ông tổ
của thuật dưỡng sinh, được gọi là Ngũ cầm hí.
Tương truyền, quê hương của Hoa Đà, từ trẻ đến già, từ nam đến nữ, ai
ai cũng biết, cũng luyện Ngũ cầm hí.
Cậu bé Hoa Đà thể chất yếu đuối, bệnh tật luôn, và ông đã luyện Ngũ
cầm hí : Luyện theo dáng điệu con hổ thì như rình nấp rồi nhảy ra vồ lấy
con mồi. Luyện theo dáng điệu con lộc thì chuyển động duỗi thẳng đầu.
Luyện theo dáng điệu con gấu thì nằm xuống đất. Luyện theo dáng điệu con
khỉ thì nhảy múa, hái hoa quả. Luyện theo dáng điệu con chim thì như xoè
cánh bay lên. Ông luyện ba tháng, hết bệnh tật, sức khoẻ tăng lên rõ rệt.
Ngô Tấn, người Quảng Lăng, theo Hoa Đà học nghề y và được thầy chỉ
dạy cho Ngũ cầm hí.
Hoa Đà nói rằng : Con người làm lụng quá cực nhọc thì sinh ra mỏi
mệt, nên cần phải vận động. Vận động, cốc khí tiêu hao, khí huyết lưu
thông, không bị bệnh. Nước chảy thì không cũ, then cửa thì không bị mọt.
Ta được cổ nhân truyền cho thuật Ngũ cầm hí, mô phỏng hình thái của các
con vật, gọi là Ngũ cầm hí.
Ngũ cầm hí được phân thành hổ hình, lộc (nai) hình, hùng (gấu) hình,
viên (khỉ) hình và điểu (chim) hình. Nếu siêng năng luyện tập, gần thì trị
bệnh, giữ gìn sức khoẻ, xa thì kéo dài tuổi thọ.
Ví thân thể chậm chạp, nặng nề, luyện Ngũ cầm hí, đổ mồ hôi, bụng
đói, ăn ngon miệng, thân nhẹ nhàng, nhanh nhẹn.
Ngô Tấn nghe lời thầy, chăm chỉ luyện Ngũ cầm hí, không kể ngày
nắng, ngày mưa. Ngô Tấn thọ 90 tuổi, mắt sáng, tai thính, răng vẫn còn
nguyên.
Hơn hai ngàn năm qua, nội dung của thuật Ngũ cầm hí ngày càng phong
phú, có rất nhiều môn phái khác nhau, người theo luyện Ngũ cầm hí ngày
càng nhiều.
IV. TIỂU KẾT
Mặc dù Hoa Đà mất cách đây gần 2 ngàn năm, nhưng nhiều thế hệ thầy
thuốc vẫn nghiên cứu về phương pháp chữa bệnh của Hoa Đà và viết thành
sách.
Một trong những cuốn sách viết gần đây nhất là cuốn Hoa Đà tiên ông
mật phương quả thái nguyên bệnh pháp (Những phương thuốc mật truyền,
dùng nguyên liệu rau quả trị liệu, của tiên ông Hoa Đà) của nữ tác giả Khê
triều - Dương Minh Thuần.
Sách ca ngợi Hoa Đà hết lời, trong đó tác giả có dẫn bài thơ, ý khá lạ :
Tế thế Hoa Đà trị bệnh kỳ
Nhân tâm hiểm ác dược nan y
Tam xan tử nhục thân hư nhược
Quả thái tiên phương cứu thế nguy
Tạm dịch
Giúp đời Hoa Đà trị bệnh lạ
Lòng người hiểm ác khó trị sao ?
Ba bữa no say toàn rượu thịt
Khiến thân cho thân thể phải hư hao
Rau quả thuốc tiên dùng trị liệu
Cứu người ra khỏi cảnh lao đao !
Theo ý tác giả, các bệnh kỳ lạ, nan y, Hoa Đà có thể chữa được, bệnh
hư nhược do ăn thịt, uống rượu, dùng ra quả để chữa được.
Nhưng lòng người hiểm ác, là một loại bệnh nan y, thánh y Hoa Đà
cũng đành thúc thủ !
hương hai :NHỮNG PHƯƠNG THUỐC HAY
Tiết 1 : NHỮNG BỆNH THƯỜNG GẶP
1. VIÊM MẮT, MẮT BỊ BỆNH, VIÊM GIÁC MẠC
Phương thuốc : Nước nho (bồ đào).
Cách dùng : Sáng, 10 giờ. Uống một chén nhỏ.
Uống liên tục trong 3 ngày, sẽ thấy hiệu quả, rất thần kỳ.
2. ĐAU TAI, Ù TAI
Phương thuốc :
Mía ngọt, dài 2 xích (xích = thước ta), bột Cam thảo.
Cách dùng : Ngâm mía với Cam thảo.
Uống nước mía hoặc ăn mía vào lúc 11 giờ sáng.
3. PHỤ NỮ BỊ MỤN (THANH XUÂN ĐẬU)
Có nhiều nguyên nhân phát sinh mụn (thanh xuân đậu), như huyết dịch
tuần hoàn không tốt, nhiều Đản bạch chất (Protein), gan hỏa vượng.
Phương thuốc : Da quả chanh (1 quả). Bồ đào khô 10 hạt. Mía ngọt 1
xích (cắt ngắn, chẻ làm tư). Cam thảo 10 miếng.
Cách dùng : Sắc cả 4 loại thuốc, 4 chén còn 1 chén. Uống vào khoảng 1
giờ trưa. Uống liên tiếp 3 ngày, sẽ hết mụn.
4. VIÊM TUYẾN THIÊN ĐÀO
Phương 1 : Mận (lý) 5 quả, mật ong.
Cách dùng : Cắt mận thành nhiều miếng, bỏ vào chén, thêm mật ong, để
khoảng 20 phút. Uống vào lúc 1 giờ trưa.
Phương 2 : Đào, mật ong.
Cách dùng : Cắt đào thành nhiều miếng, ngâm với mật ong, khoảng 20
phút.
Uống vào khoảng 1 giờ trưa.
* Chi chú : Người dưới 30 tuổi không dùng phương thuốc này.
Phương 3 : Dưa hấu (tây qua). Mật ong.
Cách dùng : Cắt dưa hấu thành miếng, cho vào chén với mật ong, ngâm
khoảng 30 phút. Uống lúc 1 giờ trưa.
* Ghi chú : Người trên 60 tuổi, không nên phương thuốc này.
5. HÔI MIỆNG, MIỆNG BỊ VIÊM, LỞ MIỆNG
Phương thuốc : Cam thảo 30 miếng, quả tần 1 quả (cắt thành 4), hương
thái 20 cọng.
Cách dùng : Sắc 2 chén nước, còn 1/2 - 1 chén. Uống với mật ong.
* Ghi chú : Không gia thêm mật ong. Vì phương thuốc mát, thêm mật
ong thì không hiệu quả.
Tiết hai : NHỮNG PHƯƠNG THUỐC TRỊ LIỆU THEO MÙA
Mùa Xuân :
Mùa Đông qua đi, gió lạnh từ từ giảm bớt, gió mùa Xuân thổi, lạnh ấm
bất thường, khí hậu chuyển biến. Con người làm lụng cực khổ, ít nghỉ ngơi
dễ sinh bệnh tật.
1. CHẢY NƯỚC MŨI, ĐAU CỔ HỌNG, NẶNG ĐẦU, XƯƠNG CỐT
ĐAU NHỨC
Phương 1 : Mã linh thự - Khoai mã linh (mã linh thực), lượng tùy ý.
Cách dùng : Cắt khoai mã linh ra từng miếng, nấu với nước, khoảng 10
phút, không thêm đường, không thêm muối. Đễ nguội, uống nước.
Phương 2 : Ba thái (hoặc ba long thái) nửa cân, không thái nhỏ.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút, không thêm đường,
muối.
Uống trước bữa ăn.
2. HẮT HƠI, CHẢY NƯỚC MẮT, GÂN CỐT ĐAU NHỨC
Phương thuốc : Mía ngọt (da màu đỏ).
Cách dùng : Không lóc vỏ, cắt chẻ từng khúc, cho vào nồi nấu với nước
khoảng 10 phút, lấy nước uống. Rất công hiệu.
3. TAY CHÂN MỀM NHŨN, KHÔNG CÓ SỨC; MỎI MẮT; LƯNG
ĐAU NHỨC; ĐẮNG MIỆNG
Phương thuốc : Khoai nước (dụ đầu), mỳ sợi, đường, dầu phụng.
Cách dùng: Thái khoai nước thành sợi, xào dầu phụng với mỳ sợi,
đường.
Dùng để ăn.
4. ĐAU ĐẦU KHÔNG CHỊU NỖI, TAY CHÂN KHÔNG CÓ SỨC,
HÍT THỞ KHÓ KHĂN, TÂM TẠNG KHÔNG CÓ LỰC, CAO HUYẾT
ÁP
Phương 1 : Thạch lựu.
Cách dùng : Cắt thạch lựu thành 8 miếng, nấu với 3 chén nước, khoảng
10 phút.
Uống nước.
Phương 2 : Kim châm (tươi) nửa cân.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút. Uống nước.
5. ĐAU ĐẦU KHÔNG CHỊU NỔI, NHỨC CHÂN, TIM ĐẬP MẠNH,
ĐAU MẮT
Phương 1 : Cam thảo 2 lượng.
Cách dùng : Nấu Cam thảo với 3 chén nước, nấu nhỏ khoảng 20 phút,
không để cạn nước.
Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 giờ, mỗi lần uống nửa chén.
Phương 2 : Nhân sâm 3 tiền.
Cách dùng : Sắc Nhân sâm với 2 chén nước, nhỏ lửa, khoảng 20 phút.
Mỗi lần uống nửa chén, cách 3 tiếng, uống ngày 2 lần.
Mùa Hạ :
Mùa Xuân qua, khí hậu biến hóa vô thường, dễ sinh bệnh tật. Tùy theo
tháng mà dùng thuốc.
Sơ Hạ (tháng tư dương lịch)
1. CẢM MẠO, CHẢY NƯỚC MŨI, NẤC CỤT, ĐAU XƯƠNG, TAY
CHÂN KHÔNG CÓ LỰC, ĐAU CỔ HỌNG, VIÊM MŨI, THIÊN ĐẦU
THỐNG, TIÊU HÓA KHÔNG TỐT
Gồm 7 phương thuốc, chọn 1 trong 7 phương.
Phương 1 : Dương đào.
Cách dùng : Ăn dương đào, không cho thêm những thực phẩm khác.
Ăn 2 lần thấy hiệu quả.
Phương 2 : Dưa hấu loại nhỏ (tiểu tây qua).
Cách dùng : Chia làm 2, ăn 2 lần.
Phương 3 : Mận (lý) 4 quả.
Cách dùng : Mỗi lần ăn 2 quả, ăn 2 lần.
Phương 4 : Chuối tiêu (hương tiêu).
Cách dùng : Mỗi lần ăn 1 quả, ăn 2 hoặc 5 lần.
* Chi chú : Những người đau dạ dày không nên ăn.
Phương 5 : Nho (bồ đào).
Cách dùng : Mỗi lần ăn 5 quả.
Ăn 2 lần, thấy hiệu quả.
Phương 6 : Hoa cúc, 1 lượng.
Cách dùng : Nấu với 2 chén nước, khoảng 10 phút, chia làm 2, uống 2
lần.
Phương 7 : Đậu hủ 1 miếng, đường.
Cách dùng : Ướp đậu hủ với đường, không nấu, dùng để ăn.
Tháng năm - bị cảm mạo :
Khí trời chuyển sang nóng bức, lổ chân lông mở ra; ngày nay, người ta
thường dùng quạt máy, máy lạnh, hoặc bị gió, dễ bị cảm mạo.
Sau đây là những phương thuốc dùng để trị liệu, gồm 6 phương, chọn 1
trong 6 phương.
Phương 1 : Dưa hấu (Tây qua), 8 lượng, bột Cam thảo, 4 tiền.
Cách dùng : Gọt vỏ, bỏ hạt, ép nước, bỏ bã, trọng với Cam thảo, dùng
để uống.
Phương 2 : Lá củ mài (phiền thự diệp - thự : củ mài) 8 lượng, mía ngọt
8 lượng.
Cách dùng : Ép cả hai loại thuốc, uống nước.
Phương 3 : Lá củ mài (phiền thự diệp) 8 lượng, chanh 1 quả.
Cách dùng : Ép lá lấy nước, trộn với nước chanh để uống.
Phương 4 : Mía vỏ đỏ 1 cân, rau bó xôi (ba thái) 4 lượng.
Cách dùng : Cắt mía (không lóc vỏ) thành từng khúc, 6 chén nước, nấu
với rau bó xôi, khoảng 20 phút, uống nước.
Phương 5 : Kết đầu thái, dưa hấu 4 lượng.
Cách dùng : Cắt nhỏ kết đầu thái; gọt vỏ dưa hấu, ép lấy nước; trộn với
kết dầu thái, để khoảng nửa giờ, dùng để ăn.
Phương 6 : Phiền thạch lựu 9 lá, nho 9 quả.
Cách dùng : Ép nước uống. Công hiệu như thần.
Tháng sáu - bị cảm mạo :
Tháng sáu trời nắng, dễ trúng nắng, sinh cảm mạo.
Sau đây là 6 phương thuốc, chọn 1 phương thuốc thích hợp.
Phương 1 : Nhân sâm 3 tiền, Bí đao tươi (tân tiên Đông qua) 5 lượng.
Cách dùng : Sắc nhân sâm, bí đao với 2 chén nước, khoảng 15 phút.
Dùng để uống.
Phương 2 : Bí đao 3 lượng, đường phèn 3 tiền.
Cách dùng : Nấu bí đao với đường phèn, 3 chén nước,
nấu khoảng 15 phút. Uống nước.
Phương 3 : Mộc qua 1 quả, bí đao 3 lượng, hương qua (lê tử qua) 1 quả.
Cách dùng : Ép nước dùng để uống.
Phương 4 : Bí đao, dưa hấu, hương qua (lê tử qua).
Cách dùng : Bỏ vỏ, ép lấy nước, dùng để uống.
Phương 5 : Mộc nhĩ 1 lượng, Xuyên khung 3 tiền, Nhân sâm 2 tiền.
Cách dùng : Sắc với 5 chén nước, khoảng 30 phút, dùng để uống.
Phương 6 : Chuối tiêu 1 quả, thạch lựu 1 quả.
Cách dùng : Nấu với 1 chén nước, khoảng 10 phút, dùng để uống (thạch
lựu để nguyên).
Mùa Thu - bị cảm mạo :
Tháng 7 :
Khí trời gần hết nắng nóng, buổi chiều tối trời mát mẻ, cũng là nguyên
nhân phát sinh cảm mạo. Gồm 2 phương thuốc, chọn 1 trong 2.
Phương 1 : Mộc qua 1/2 quả, cắt thành miếng, Dương đào chưa chín, 5
quả, bột Nhân sâm 1 tiền.
Cách dùng : Ép Mộc qua, Dương đào, ép lấy nước uống với bột Nhân
sâm.
Phương 2: Thạch lựu, chưa chín, 5 quả, Xuyên khung 3 tiền.
Cách dùng : Sắc với 2 chén nước, khoảng 10 phút, dùng để uống.
Tháng 8 :
Khí trời không còn nắng nóng như khí hậu tháng sáu, nhưng nóng lạnh
bất thường, gió mát, dễ sinh cảm mạo. Gồm 3 phương thuốc, chọn 1 trong
ba.
Phương 1 : Mộc qua 1/2 quả, Dương đào 1 quả, chuối hương 1 quả (bỏ
vỏ), đường.
Cách dùng : Ướp các loại quả với đường, khoảng nửa tiếng đồng hồ,
dùng để ăn.
Phương 2 : Chuối hương 1 quả (bỏ vỏ), chanh 1 quả (cắt thành miếng),
đường.
Cách dùng : Ướp chuối, chanh với đường, khoảng nửa tiếng đồng hồ,
dùng để ăn.
Phương 3 : Chanh 1 quả (thái mỏng), Dương đào 1 quả (cắt thành
miếng), bồ đào 1 quả (cắt thành miếng), đường trắng.
Cách dùng : Ngâm các loại quả với đường trắng, dùng để ăn.
Mùa Đông - bị cảm mạo
Tháng mười :
Tháng mười, khí trời bắt đầu chuyển lạnh, trời đang lạnh, chuyển sang
nóng dễ bị cảm mạo. Gồm 2 phương, chọn 1 trong 2.
Phương 1 : Nhân sâm 2 tiền, Xuyên khung 3 tiền, Ý nhân 3 tiền.
Cách dùng : Nấu nhỏ lửa với 2 chén nước, khoảng 30 phút, dùng đế
uống.
Phương 2 : Chuối tiêu 3 quả, vỏ cam 3 quả, Kim châm tươi 3 lạng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, nấu khoảng 10 phút, uống nước.
Tháng mười một :
Tháng mười một, khi trời chuyển lạnh, lạnh bỗng chuyển sang nóng, dễ
bị cảm mạo. Gồm 2 phương thuốc, chọn 1 trong 2 phương.
Phương 1 : Nhân sâm 2 tiền, Xuyên khung 3 tiền, Ý nhân 3 tiền.
Cách dùng : Sắc thuốc với 2 chén nước, nhỏ lửa 30 phút. Uống nước.
* Ghi chú : Người cao huyết áp không nên dùng.
Phương 2 : Vỏ chuối tiêu 3 quả, vỏ cam 3 trái, kim châm tươi 3 lượng.
Cách dùng : nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút. Uống nước.
Tháng mười hai :
Khí trời lạnh, nếu người yếu, sức đề kháng yếu, dễ phát sinh bệnh tật.
Gồm 2 phương thuốc, chọn phương thích hợp.
Phương 1 : Xuyên khung 3 tiền, Mộc nhĩ 3 tiền.
Cách dùng : Sắc với 3 chén nước, khoảng 20 phút. Uống nước.
Phương 2 : Nhân sâm, Xuyên khung, Cam thảo, mỗi loại 3 tiền.
Cách dùng : Sắc 3 loại thuốc, khoảng 20 phút. Uống nước.
Tiết ba : NHỮNG PHƯƠNG THUỐC TRỊ LIỆU CẢM MẠO -THEO
NGHỀ NGHIỆP VÀ THEO TỪNG MÙA
1. HỌC SINH TRUNG HỌC
Các cháu học sinh lao động trí óc nhiều, dễ bị cảm mạo.
Tùy theo mùa, chọn phương thuốc thích hợp.
Mùa Xuân :
Phương thuốc : Vỏ chuối hương 1 quả, Long nhãn nhục khô 20 quả, hạt
Long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút, mỗi lần uống 1
chén.
Mùa Hạ :
Phương thuốc : Quả vải (lệ chi) bỏ vỏ, bỏ hạt, 3 quả, hạt quả vải 30 hạt
(nghiền nhỏ).
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút, không nên thêm các
loại thuốc khác. Uống nước.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Nho khô 20 quả, Long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), Nhân
sâm 10 miếng, đường trắng.
Cách dùng : Sắc với 3 chén nước, 10 phút. Uống với đường, mỗi lần
uống 1 chén.
2. NGHỀ THẦY GIÁO
Do nghề nghiệp, thầy giáo dễ bị những bệnh về cổ họng, phổi, cảm
mạo, đau đầu. Sau đây là những phương thuốc trị cảm mạo, theo từng mùa.
Mùa Xuân :
Phương thuốc : Chanh 5 miếng, long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), long
nhãn khô 20 quả, đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút. Uống nước với
đường trắng, mỗi lần uống 1 chén.
Mùa Hạ :
Phương 1 : Đào 3 quả, bổ 1 quả thành 5 miếng, 3 hạt đào (nghiền nhỏ),
đường trắng.
Cách dùng : Nấu 3 chén nước, 10 phút, uống mỗi lần 1 chén.
Phương 2 : Vỏ quả vải 10 vỏ; quả vải 10 quả (bỏ vỏ, hạt); hạt vải 10 hạt
(nghiền nhỏ); đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, nấu 10 phút. Uống một lần 1 chén,
với đường trắng.
Phương 3 : Da long nhãn 20 quả, thịt long nhãn (bỏ vỏ, hạt) 20 quả, hạt
long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ).
Cách dùng : Rửa sạch các vị thuốc, để khô ráo, nấu với 3 chén nước.
Uống mỗi lần 1 chén.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Vỏ cam 1 quả, hạt vải 10 hạt (nghiền nhỏ), mía dài 5
thốn ( cắt thành nhiều đoạn, chẻ làm 4), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút. Uống với đường,
mỗi lần 1 chén.
Mùa Đông :
Phương thuốc : Vỏ chuối tiêu, 2 quả, hạt cam 30 hạt (nghiền nhỏ), mía 5
thốn, chặt thành khúc, chẻ ra làm tư, đường trắng.
Cách làm : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường, mỗi lần uống 1 chén.
3. CÔNG CHỨC
Do ngồi nhiều, huyết dịch không lưu thông, bụng, vai ít vận động, dễ bị
cảm mạo.
Tùy theo mùa mà chọn phương thuốc.
Mùa Xuân :
Phương 1: Đào nhân 5 hạt, long nhãn 10 hạt, vải 10 hạt (tất cả đền
nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước với đường, mỗi lần uống 1 chén.
Phương 2 : Vỏ chuối hương 3 quả, vỏ cam 1 quả, mía 5 thốn (chặt thành
từng khúc, chẻ làm tư), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước với đường, mỗi lần uống 1 chén.
Mùa Hạ :
Gồm 3 phương thuốc, chọn 1 trong 3.
Phương 1 : Đào nhân 5 quả, cắt bỏ chỗ tỳ vết, bổ mỗi quả ra làm 5,
đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước với đường trắng, mỗi lần uống 1 chén.
Phương 2 : Vỏ trái vải (lệ chi) 10 quả, cơm quả vải (tức bỏ vỏ, hạt) 10
quả, hạt quả vải 10 hạt (nghiền nhỏ), đường.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường, mỗi lần 1 chén.
Phương 3 : Long nhãn 30 quả, vỏ long nhãn 30 cái, hạt long nhãn 30 hạt
(nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường, mỗi lần 1 chén.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Vỏ cam 3 quả, hạt cam 30 hạt (nghiền nhỏ), long nhãn
khô 20 quả, đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống với đường trắng, mỗi lần uống 1 chén.
Mùa Đông :
Gồm 2 phương, chọn 1 trong 2.
Phương 1: Mía dài 5 thốn, chặt thành khúc, chẻ làm tư; hạt long nhãn
30 hạt (nghiền nhỏ), nhân sâm 10 miếng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước, khoảng 10 phút.
Uống nước, mỗi lần 1 chén, không cho thêm đường.
Phương 2 : Dương đào 2 quả bổ thành miếng, long nhãn khô 20 quả, hạt
long nhãn 20 hạt (nghiền nhỏ), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 4 chén nước.
Uống nước với đường, mỗi lần 1 chén.
4. NHỮNG NGƯỜI Ở THÀNH THỊ
Do đời sống tất bật, ngược xuôi, nhiều lo lắng, những người ở thành thị
dễ bị các chứng bệnh viêm gan, nhức đầu, cảm mạo.
Tùy theo mùa, chọn thuốc cảm mạo cho thích hợp.
Mùa Xuân :
Phương 1: Mía 1 xích.
Cách dùng : Ăn mía vào buổi sáng, khoảng 11 giờ,
Phương 2 : Mộc qua 1/4 quả.
Cách dùng : Ăn vào buổi chiều, khoảng 4 giờ chiều.
Phương 3: Trà nho (khô).
Cách dùng : Uống 1 chén, trước khi đi ngủ.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc, dùng liên tục trong 3 ngày,
công hiệu thần kỳ.
Mùa Hạ :
Phương 1 : Nho khô 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 10 giờ sáng.
Phương 2 : Nho khô, 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3 : Mật ong hòa với nước ấm, 1 chén.
Cách dùng : Uống trước khi đi ngủ.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc, dùng liên tục trong 3 ngày.
Mùa Thu :
Phương 1: Nước quả vải (lệ chi) 1 chén.
Cách dùng : Uống vào lúc 1 giờ trưa.
Phương 2 : Nước nho 1 chén.
Cách dùng : Uống vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3 : Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn trước khi đi ngủ.
Mùa Đông :
Phương 1 : Nho khô 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 11 giờ trưa.
Phương 2: Mía 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3: Trà mơ 1 chén.
Cách dùng : Uống với đường, trước khi đi ngủ.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc trên, dùng liên tiếp trong 4
ngày.
5. NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHỀ NÔNG
Do đặc điểm nghề nghiệp, máu dịch, tinh lực tiêu hao nhiều, dầm sương
dải nắng, ăn uống thất thường, dễ bị các bệnh như đau dạ dày, đau lưng, tê
chân, cảm mạo. Sau đây là những phương thuốc có ích cho những người
làm nghề nông.
Mùa Xuân :
Phương 1: Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn khi có cảm giác đói. Công dụng, chống đói.
Phương 2 : Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào khoảng 4 giờ chiều. Công dụng, chống đói, bổ
máu.
* Ghi chú : Người bị đau dạ dày, không nên ăn.
Mùa Hạ :
Do khí trời nóng bức, không muốn ăn uống, sức lực tiêu hao. Sau đây là
những phương thuốc có công dụng tiêu trừ mệt nhọc.
Phương thuốc 1, 2, 3, giành cho những người ở nơi có nhiều trái vải (lệ
chi).
Phương thuốc 4, 5, 6, giành cho những người ở nơi có nhiều long nhãn.
Phương 1 : Quả vải (lệ chi) 10 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 10 giờ sáng.
Công dụng : Bổ máu, chống đói.
Phương 2 : Quả vải 8 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Công dụng : Chống đói, bổ máu.
Phương 3: Trà hạt vải (lệ chi) 1 chén, đường trắng.
Cách dùng : Nghiền nhỏ hạt vải, nấu với 3 chén nước, khoảng 10 phút
(trà lệ chi). Uống 1 chén với đường trước khi đi ngủ. Không nên uống
nhiều, phản tác dụng, không hiệu quả.
Công dụng : Trừ nhức mỏi xương cốt.
Phương 4: Long nhãn 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào khoảng 11 giờ sáng.
Phương 5: Long nhãn 20 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 6: Trà long nhãn, 1 chén.
Cách dùng : Dùng 30 hạt long nhãn, nghiền nhỏ, nấu với 4 chén nước
(trà long nhãn). Uống 1 tách, với đường trắng, trước khi đi ngủ. Không nên
uống nhiều.
Mùa Thu :
Phương 1: Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào khoảng 10 giờ.
Phương 2: Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn vào lúc 4 giờ chiều.
Phương 3 : Mía, 1 xích.
Cách dùng : Ăn trước khi đi ngủ.
Công dụng : Phòng trăm bệnh phát sinh.
Mùa Đông :
Phương 1: Phiền thự (khoai), rửa sạch cắt thành miếng.
Cách dùng : Chiên với dầu mè. Dùng để ăn, trước khi đi ngủ, mỗi lần ăn
5 miếng, không nên ăn nhiều.
Công dụng : Bổ khí, bổ máu, trị đau nhức xương.
Phương 2 : Hồng la bồ, rửa sạch, cắt ra từng miếng, không bỏ vỏ.
Cách dùng : Chiên với dầu mè. Ăn 10 miếng, không nên ăn nhiều.
Công dụng : Thông khí huyết, trị bệnh đau xương lâu năm.
Tiết bốn :PHỤ NỮ CÓ THAI - BỊ CẢM MẠO
Phụ nữ có thai cần thận trọng trong việc dùng thuốc, nếu không sẽ ảnh
hưởng đến thai nhi. Sau đây là những phương thuốc cảm mạo giành cho
phụ nữ có thai.
Phương 1: Mía 5 thốn, chặt thành 5 khúc, chẻ làm tư, hương thái 10
cọng.
Cách dùng : Nấu với 2 chén nước, uống mỗi lần 1 chén.
Phương 2 : Mía, 5 đốt, hồng thự đào 3 củ, cắt 1 củ thành 3 miếng. Cách
dùng : Nấu với 3 chén nước. Uống mỗi lần 1 chén.
Phương 3 : Mía 3 đốt, lô duẫn (lô : một loại rau, duẫn : măng tre) sắc
trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước. Uống mỗi lần 1 chén.
Phương 4 : Hồng la duẫn (thái thành sợi), vỏ chuối tiêu 3 quả, tần quả
(cắt thành 4 miếng, khi cắt không nên để chỗ lõm trên bề mặt).
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước. Uống mỗi lần 1 chén.
Tiết năm : NHỮNG BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN PHỔI
1. HO
Mùa Xuân :
Phương thuốc : Dương đào, vỏ cam, hạt mơ (mai tử), đường.
Cách dùng : Dương đào 2 hạt, bổ ngang, vỏ cam 1 quả, mơ 5 hạt, gọi là
trà dương đào. Nấu với 2 chén nước. Uống 1 chén với đường trắng, lúc 11
giờ sáng.
Buổi chiều, hâm nóng, uống 1 chén, vào lúc 2 giờ chiều. Uống liên tục
3 ngày.
Mùa Hạ :
Phương thuốc : Dương đào 3 quả (cắt ngang), đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, còn 2 chén, gọi là trà dương đào.
Sáng, 11 giờ uống 1 chén với đường.
Chiều, 2 giờ uống 1 chén với đường.
Uống liên tục 3 ngày.
Mùa Thu :
Phương thuốc : Vỏ cam 1 quả, mía dài 5 thốn (cắt thành khúc), long
nhãn khô 20 quả.
Cách dùng : Nấu với 2 chén rưỡi nước, còn 2 chén.
Sáng 11 giờ, uống 1 chén.
Chiều, 2 giờ, uống 1 chén.
Uống liên tục 3 ngày.
Mùa Đông :
Phương thuốc : Mía, 5 thốn, cắt thành 3 đoạn, nho khô 30 hạt, dương
đào 1 quả (cắt ngang).
Cách dùng : Nấu 3 chén nước, còn 2 chén.
Sáng, 11 giờ, uống 1 chén.
Chiều, 2 giờ, uống 1 chén.
Uống liên tục 3 ngày.
2. SUYỄN
Trung niên :
Phương thuốc : Nhân sâm 5 miếng, long nhãn khô 20 quả, kim cát khô
5 quả.
Cách dùng : Nấu với 1 chén nước, nhỏ lửa, còn lại 5 phân. Dùng để
uống, thần diệu vô song.
Người cao tuổi :
Phương thuốc : Nhân sâm 5 miếng, kim cát khô 2 quả, hương cô (nấm
hương) 3 cái, đường trắng.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, nhỏ lửa, còn 1 chén nước.
Uống với đường trắng.
Uống liên tục 3 ngày.
Thiếu niên :
Phương thuốc : Chanh (cắt thành từng miếng), dương đào 3 quả (cắt
thành miếng), nấm hương 3 cái.
Cách dùng : Nấu với 3 chén nước, còn 1 chén.
Uống với đường vào lúc 3 giờ chiều.
Uống liên tục 3 ngày.
3. PHỔI KẾT HẠCH
Gồm 3 phương thuốc, mỗi phương thuốc uống 5 ngày.
Phương 1 : Oa tử thái ( rau diếp) 20 cọng.
Cách dùng : Rửa sạch, nấu với 3 chén nước, còn 1 chén.
Uống vào lúc 10 giờ sáng.
Uống liên tiếp 5 ngày.
Phương 2 : Nấm hương 5 cái.
Cách dùng : Rửa sạch hương cô nấu với 1 chén rưỡi nước, còn 1 chén.
Uống vào lúc 10 giờ rưỡi sáng. Uống liên tục 5 ngày.
Phương 3 : Kim châm 10 cọng (ngâm kim châm, làm sạch), nấm hương
5 cái (thái thành sợi), hồng la bặc (cải đỏ) nửa cành, hương thái 5 cành.
Cách dùng : Xào với dầu phụng, nhỏ lửa. Xào nấm hương, kim châm
trước, sau mới cho hương thái, cải, không cho nước (cho nước, sẽ mất chất
dinh dưỡng).
Dùng để ăn chay, ăn vào lúc 10 giờ sáng.
ĂÊn liên tục 10 ngày.
Tiết sáu :NHỮNG BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN DẠ DÀY
1. VỊ BỊ BỆNH, VỊ BỊ TRƯỚNG
Phương 1 : Cam thảo 10 miếng, dương đào 1 quả (cắt thành miếng).
Cách dùng : Nấu với 1 chén rưỡi nước, còn 1 chén. Uống vào lúc 10 giờ
sáng.
Phương thuốc 2: Mai khô 1 quả.
Cách dùng : Ăn vào lúc 2 giờ chiều.
Phương 3 : Mộc qua 1 quả, bổ làm tư.
Cách dùng : Ăn vào lúc 9 giờ tối.
* Ghi chú : Phối hợp cả 3 phương thuốc trên.
Khi dùng thuốc không ăn đập phụng (lạc) và các loại thịt.
2. DẠ DÀY BỊ XUẤT HUYẾT
Dạ dày bị xuất huyết, do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chính là do
nhịn đói quá bữa trưa, vách dạ dày bị bào mòn, liên tục trong 6 năm, vách
dạ dày bị mỏng, phát sinh xuất huyết.
Phương 1: Nước mộc qua (1/2 chén), đường.
Cách dùng : Chọn loại mộc qua chưa chín, lớn bằng trái trứng ngỗng,
rửa sạch, ép lấy nước.
Uống với đường trắng vào khoảng 2 giờ chiều.
Phương 2 : Nước rau Cao ly (1/2 chén), mật ong.
Cách dùng : Rửa sạch rau, giả lấy nước, thêm mật ong để uống.
* Ghi chú : Uống phối hợp 2 phương thuốc trên liên tục 10 ngày, nghỉ 5
ngày, sau đó uống liên tục 10 ngày.
3. SA DẠ DÀY
Nguyên nhân, hay nhịn đói vào buổi tối, lâu ngày công năng của dạ dày
bị hạ thấp, không hấp thu chất dinh dưỡng, sinh sa dạ dày.
Phương 1: Tây dương sâm (loại sáng), một thìa uống trà.
Cách dùng : Uống vào lúc 9 giờ sáng.
Phương 2 : Nước gạo lứt (nửa chén), nấm hương 3 cái, đường trắng...
 





