VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    Tơ Hồng Vương Vấn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 03h:40' 24-04-2024
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    TABLE OF CONTENTS
    PHẦN I - Chương 1
    PHẦN I - Chương 2
    PHẦN I - Chương 2
    PHẦN I - Chương 3
    PHẦN I - Chương 4
    PHẦN I - Chương 5
    PHẦN I - Chương 6
    PHẦN I - Chương 7
    PHẦN I - Chương 8
    PHẦN I - Chương 9
    PHẦN II - Chương 10
    PHẦN III - Chương 11
    PHẦN III - Chương 12
    PHẦN III - Chương 13
    PHẦN III - Chương 14
    PHẦN III - Chương 15
    PHẦN IV - Chương 16
    PHẦN IV - Chương 17
    PHẦN IV - Chương 18
    PHẦN IV - Chương 19
    PHẦN IV - Chương 21
    PHẦN V - Chương 22
    PHẦN V - Chương 22
    PHẦN V - Chương 23

    PHẦN V - Chương 24
    PHẦN V - Chương 25
    PHẦN V - Chương 26

    HỒ BIỂU CHÁNH - TƠ HỒNG VƯƠNG VẤN

    PHẦN I - CHƯƠNG 1
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
    GÂY CUỘC TÌNH DUYÊN
    Thế cuộc vần xây, hết suy tới thạnh, nhơn quần tấn hoá, đổi cựu ra tân.
    Đó là định luật dĩ nhiên, dầu muốn dầu không, ai ai cũng phải chịu, không làm sao sửa được.
    Nhớ lại mà coi, sau khi đánh phá đại đồn Chí Hòa rồi, binh đội Pháp lần lần xâm chiếm tất cả
    sáu tỉnh của đất Gia Định. Từ hạng nông phu cho tới nhà học thức thảy đều tức tủi mà quay đầu
    trông về Phú Xuân, thì triều đình im lìm dường như bỏ xụi, còn chóng mắt ngó vào đám anh
    hùng nghĩa sĩ thì các cụ Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên hộ Dương, Thủ Khoa
    Huân lần lượt thất bại tiêu tan.
    Đứng trước ngã ba đường như vậy đó, phải đi ngã nào ? Nếu cương quyết giữ nền nếp cũ thì
    lấy chi mà nương níu, còn nếu đổi thái độ cho xuôi dòng thì lỗi với tổ tiên, mà cũng thẹn với
    cây cỏ.
    Trong lúc dân trí đương phân vân như vậy, nhà cầm quyền Pháp khôn ngoan, nên chăm lo
    gây thiện cảm với nhân dân. Người ta biết thâu phục đất đai thì dễ, nhứt là gặp xứ không có
    binh đội tổ chức hoàn bị; còn thâu phục nhơn tâm là điều rất khó khăn, phải đổi thay văn hoá,
    phải ung đúc tâm hồn, mấy việc đó phải dày công phu, phải nhiều thế kỷ, thì mới làm được.
    Mới chiếm trị đất Nam Việt, nước Pháp phải bận lo nhiều nỗi:
    - Lo chia 6 tỉnh cũ ra làm 20 hạt mới, rồi đặt quan Tham biện ở mỗi hạt đặng sắp đặt cơ quan
    hành chánh cho phù hạp với cách cai trị mới mà không đụng chạm đến phong hoá cổ truyền;
    - Lo xây dựng an ninh cho nhơn dân được lạc nghiệp an cư, từ thành thị vô tới đồng bái;
    - Lo tổ chức đường giao thông cho tiện bề mậu dịch.

    Tuy phải gấp rút xây nền hành chánh, người Pháp cũng không bỏ dẹp vấn đề thâu phục nhơn
    tâm. Những người sống trong nấy năm cuối cùng của thế kỷ 19, là khoảng từ năm 1895 tới
    năm 1900, ai cũng nhận Pháp mới chiếm trị Nam Việt có 30 năm mà đã khởi công xây dựng
    một nền văn hoá mới để hướng dẫn tâm hồn Việt Nam quay về phía Âu Tây.
    Mới lúc ấy mà đã:
    a) Có mấy người việt thông minh được chọn lựa đem qua Pháp mà giáo hoá. Ấy là các cụ Diệp
    văn Cường, Trương Minh Ký, Bùi quang Nhơn, Bùi quang Chiêu, Nguyễn trọng Quảng.
    b) Cho xuất bản Gia Định Báo với Thông Loại khóa trình, lại còn cho in nhiều loại sách để
    phổ thông chữ quốc ngữ, do các cụ Trương Vĩnh Ký, Trương Minh.Ký và Huỳnh Tịnh Của chăm
    nom.
    c) Mở trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) để cho những cụ đi học bên Pháp trở về
    hiệp với mấy cụ nho học uyên thâm dạy các quan Tham Biện, các nhân viên hành chánh và các
    sĩ quan trong Hải Quân và Lục Quân học tiếng Việt, mà cũng dạy luôn sử ký cùng phong hoá
    của người Việt nữa.
    Mà điều cần yếu của người Pháp trong lúc ấy là phải có nhiều người bổn thổ phụ sự trong
    chức vụ thông ngôn, ký lục, để giúp các ngành hành chánh cùng công thương. Muốn cho được
    thỏa mãn nhu cầu khẩn cấp này, người ta phải lo lập liền:
    a) Một trường sư phạm trung đẳng tại Sài gòn để đào tạo giáo viên đay các trường sơ đẳng ở
    mấy hạt.
    b) Một trường trung học phổ thông, phân làm hai chặng, bắt đầu học tại Mỹ Tho hai năm rồi
    lên Sài gòn học tiếp hai năm nữa mới được bổ dụng làm thông ngôn, ký lục. Học sinh hai
    trường này đều được hưởng học bổng, nghĩa là được nhà trường nuôi ăn, ngủ và phát quần áo,
    giày nón, khỏi trả tiền chi hết.
    c) Lần lượt mở trường sơ đẳng Pháp Việt tại châu thành các hạt để cung cấp cho trrường
    Trung học Mỹ Tho.
    Nhà trường Pháp thì sốt sắn xây nền giáo dục mới, nhưng nhơn dân Nam Việt coi bộ hẫng
    hờ[1] , chưa quyết yểm cựu nghinh tân. Vì dân trí còn lơ lửng như vậy, nên những trường tân
    học mở ra không được dân chúng hoan nghinh cho lắm, thành thử nhà nước tốn công tốn của
    rất nhiều, mà mỗi năm trường sư phạm chỉ đào tạo chừng 30 giáo viên, còn trường Trung học
    Chasseloup-Laubat đào tạo lối 50 thông ngôn, ký lục.
    Không phải người Việt Nam không ham học nên trường tân học lập ra không được thạnh
    phát. Không phải vậy. Người Việt ham học lắm chớ. Họ hẫng hờ với tân học nhưng họ vẫn hăng

    hái với nho học luôn luôn. Ấy là họ thỏa thích món ăn tinh thần cũ của họ xưa nay, họ say mến,
    họ quí trọng, họ không đành bỏ mà dùng món ăn tinh thần khác, chưa chắc cái khác đó mà
    ngon ngọt béo bùi hơn cái của họ đã có sẵn.
    Để nói riêng tình hình giáo dục trong hạt Gò công hồi cuối thế kỷ 19, thì đủ biết lúc ấy trong
    mấy hạt khác cũng vậy.
    Trong khoảng đó, người ta nhận thấy tại châu thành Gò công nhà nước có một trường sơ
    đẳng học, gồm năm lớp, có một quan Đốc học, người Pháp với năm giáo viên người Việt. Từ lớp
    nhứt đến lớp tư thì dạy Pháp văn nhiều hơn Việt văn, còn lớp năm là lớp chót thì giao cho một
    thầy nho biết chữ quốc ngữ dạy trẻ đồng ấu học vần xuôi, vần ngược; rồi tập đọc, tập viết quốc
    văn.
    Học trò cả thảy chừng một trăm rưỡi, lớp chót được lối 50 trò, còn mấy lớp trên chừng vài ba
    chục, tới lớp nhứt chỉ còn từ 10 đến 15 là nhiều. Lại học trò toàn là con trai chớ không có con
    gái, cha mẹ ở tại chợ, hoặc trong mấy xóm làng xung quanh, cách chợ lối vài ba ngàn thước.
    Muốn lấy lớp trên có thêm học trò đông, lại cũng muốn Pháp ngữ được thông dụng trong
    mấy làng xa, Tham Biện mới mở tại bốn chợ trong bốn tổng mỗi chợ một trường dạy Pháp văn
    gọi là trường tổng gồm hai lớp: lớp nhỏ chuyên dạy cho biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, rồi lên
    lớp lớn bắt đầu dạy Pháp văn. Trong lúc nói đây trong hạt có bốn trường tổng đặt tại bốn chợ:
    Rạch Giả (Đồng Sơn), Giồng Ông Huê (Vĩnh Lợi), Cửa Khâu ( Tăng Hòa) và chợ Tổng Châu (Tân
    niên Tây).
    Mặc dầu có huấn lịnh dạy Hương giáo mấy làng chung quanh chợ ép buộc mấy người có con
    phải cho đến mấy trường tổng đó mà học, lại mặc dầu mỗi năm, trước khi khai trường, có gom
    học trò lớp lớn của mấy trường tổng về châu thành mà thi chung; mấy chục trò giỏi được
    hưởng học bổng mỗi tháng năm đồng bạc để ở ăn cơm quán tại châu thành tiếp học thêm mấy
    lớp trên của trường sơ đẳng học.
    Thế mà trong bốn trường tổng số học trò cũng không được đông; ở chợ lớn như chợ Giồng
    Ông Huê thì được 40 đến 50, còn ở mấy chợ nhỏ thì vài ba chục mà thôi,
    Có một điều đáng để ý là lúc ấy ở châu thành cũng như ở mấy chợ, đã có trường tổng mà lại
    có trường tư dạy chữ nho; ở chợ người ta thấy có tới hai ba trường trai gái học chung kể đến
    bốn năm chục
    Còn trong các làng chưa kiếm được giáo viên dạy chữ quốc ngữ, thì hương chức rước một
    thầy nho để dạy trẻ em tại đình học chữ nho. Ở mấy xóm đông, có trẻ em nhiều, thì người có
    cơm tiền, có nhà rộng, cũng nuôi một thầy nho để dạy con cháu. Người trong xóm thường cho

    con tựu lại đó mà học chữ nho, mỗi tháng đền ơn cho thầy hoặc một hai quan tiền, hoặc một
    quảu gạo, hoặc bánh trái hay tôm cá.
    Hạng già cả nghe nhắc tới khoảng nầy sẽ cảm xúc mà nhớ bộ tịch tèm lem dơ dáy của đám
    trẻ em mỗi ngày băng đồng lội rạch, trải nắng đầm mưa đi đến mấy trường làng và trường xóm
    mà học chữ nho hồi đời đó. Sớm mơi ăn cơm rồi mới đi học đến gần nửa buổi chiều mới trở về
    nhà. Mỗi trò đem theo một cái ống tre, có dây buộc hai đầu để mang vào vai, đặng đựng sách
    vở, viết mực dầu mắc nưa hay lội sông cũng khỏi ướt.
    Mấy trò nhỏ mới tập viết, không có tiền mà mua giấy mực xối xả như bây giờ, thì có sắm sẵn
    để tại trường, một tấm ván, một cái ghè đựng nước, vài cây cọ đẽo bằng tre với ít cục đất sét
    nhồi nắn rồi phơi khô. Hễ tập viết thì chấm đầu cục đất sét vào ghè nước mà thoa trên tấm ván
    rồi cầm cây cọ mà viết. Hễ viết rồi chữ đó thì lấy cục đất mà chà lên đặng bôi bỏ mà viết chữ
    khác. Với cách tập viết tiện tặn như vậy nên trẻ em mới học thì tay chưn, quần áo bị bùn lấm
    lem, dơ dáy hết sức.
    Phải con nhà giàu, lại phải biết viết rồi, được lên hạng tư hạng năm và hạng sáu, nghĩa là mỗi
    trương giấy bạch viết được bốn, năm hoặc sáu hàng rồi, thì mới bỏ cọ, bỏ ván mà cầm viết
    đặng viết trên giấy.
    Mà thầy giáo chấm vở và chấm sách cho học trò, cũng không có mực đỏ như bây giờ. Người
    ta kiếm đá ong trải trên lộ, lựa cục nào màu đỏ nhiều thì lượm đem về, rồi lấy dĩa đổ chút nước
    mà mài thành son để thầy giáo chấm vở và khuyên mấy chữ viết tốt.
    Hiện giờ đòm thấy trẻ em đi học quần áo đẹp đẽ, giày nón vẻn vang, tay ôm cặp da, túi vắt
    viết máy, người ta nhớ lại tình cảnh của lọc trò hồi 60 năm về trước, người ta chẳng khỏi
    thương tâm, tội nghiệp cho trẻ xưa cực khổ cam go, nhưng cũng rán là học, học đặng biết
    nghĩa, biết nhân, biết thảo, biết thuận, biết quấy, biết phải, biết cao, biết thấp.
    Xây nền tân học, người ta khuyên dụ, vừa ép buộc, mà người Việt cứ dụ dự và đeo đuổi theo
    nho học nó sẽ đưa mình đến chỗ nào, còn tân học thì mịt mù không hiểu nó sẽ dắt mình đi đâu,
    sợ e nó sẽ phân rẽ mình với tổ tiên nó sẽ làm cho mình quên cả ơn nhà nợ nước.
    Sự dụ dự đó không phải vô lý.
    Ai hiểu biết tâm hồn của người hồi đời đó thì không dám chê lù mù.
    Mà dầu tiền nhơn lù mù đi nữa, người ta cũng có tâm, có chí, có nghĩa, có tình, lại tâm chí,
    nghĩa tình của người ta bền vững khư khư chớ không phải thứ tâm chí xây chiều theo luồng
    gió, hay là thứ nghĩa tình phát sanh vì mối lợi.
    Vì vậy nên lúc tân cựu giao thời đó cũng gây trong dân gian lắm chuyện thắc mắc, có chuyện

    thật thà nghĩ lại bắt tức cười, mà cũng có chuyện éo le nhớ tới ứa nước mắt. Hồi đó cũng có
    nhiều cuộc bèo mây tan hiệp, hiệp tan làm cho con người khi đau đớn, khi vui cười, nhưng có
    cuộc tình duyên nầy nó trắc trở dị kỳ, nếu nhắc lại nghe chơi dầu không đến nỗi tức cười hay là
    muốn khóc, thì có lẽ cũng giúp cho người đời nay biết được tâm hồn của người thuộc thế hệ
    trước, thế hệ vừa mới qua trong năm sáu mươi năm nay.
    Chú thích:
    [1] hững hờ

    HỒ BIỂU CHÁNH - TƠ HỒNG VƯƠNG VẤN

    PHẦN I - CHƯƠNG 2
    Lúc ấy trong hạt Gò Công, tại chợ Giồng Ông Huê, mà bây giờ người ta gọi tắt là chợ Giồng,
    mặc dầu nhà nước Pháp đã có mở một trường tổng trong một tòa nhà cất bằng gạch ngói đẹp
    đẽ, đàng hoàng, và có bổ hai giáo viên dạy một lớp chữ quốc ngữ và một lớp xen nhiều giờ chữ
    Pháp, mà trường tư của ông Giáo Huân cũng vẫn có học trò học đông hoài.
    Ông giáo Huân là một nhà nho học hoạt bác, thông sử kinh rành nghĩa lý, giảng sách dễ hiểu,
    viết chữ có gân, tuổi đã quá năm mươi mà sức khoẻ còn đầy đủ. Cách mười năm trước vợ ông
    chết để lại cho ông một thướt vườn trong làng Vĩnh Hựu và môt đứa con trai 20 tuổi. Ông phải
    cưới vợ sớm cho con đặng có dâu lo việc cơm nước trong nhà, rồi ông chấp nối tóc tơ với thím
    Hằng là một góa phụ ở ngoài chợ Giồng.
    Thím Hằng nầy hồi trước vốn là vợ của một người khách trú, thuộc bang Triều Châu tên Hứa
    Thêm có một tiệm bán trà và bánh in, thèo lèo ở chợ Giồng. Vợ chồng sanh được đứa con trai
    đặt tên là Hứa Mỹ. Khi Hứa Mỹ được 7 tuổi, Hứa Thêm buôn bán khá, có tiền dư nhiều mới giao
    tiệm cho vợ rồi đem con về Tàu đặng để nó ở với bà nội mà học chữ. Rủi thay, Hứa.Thêm dắt
    con đi vừa được một tháng thì thím Hằng được thơ của bà mẹ chồng cho hay Hứa Thêm đau
    nên chết, bà giữ Hứa Mỹ lại đặng trông nom cho nó ăn học, chừng khôn lớn rồi bà sẽ cho nó trở
    qua.
    Thím Hằng buồn rầu về sự mất chồng, lại xa con, thím hết muốn buôn bán nữa. Thím sang
    tiệm bánh cho người khác, tom góp vốn liếng được gần ba ngàn. Thím mua một nhà ngói ba
    căn, vách ván, phía trước có sân, phía sau có một miếng vườn nhỏ nhỏ. Sân thì thím để chất
    đống củi đòn trữ mà bán lẻ, còn phía sau thím cất thêm một thà lá ba căn cao ráo, khoảng
    khoát, để trữ cá khô và nước mắm mà bán cho bạn hàng. Buôn bán thế nầy thím đã thảnh thơi
    mà lại có lợi nhiều. Chẳng bao lâu thím chấp nối tóc tơ với ông Giáo Huân, vợ chồng toan tính
    với nhau, mới đóng vách mà ngăn một căn trong nhà lá phía sau để trữ nước mắm với cá khô,
    còn hai căn thì đóng bàn ghế dọn thành một trường học cho ông giáo dạy chữ nho.
    Trường học của ông Giáo Huân ở gần chùa Ông Quan Đế, dựa bên lộ từ phía cây Me lớn đi lên,
    trước chùa Ông, sau nhà việc Vĩnh Lợi, rồi đi thẳng vô Vĩnh Hựu.
    Trường mở dạy đã bảy năm rồi, trai gái học chung, số học trò luôn luôn không dưới 40. Học

    trò ở chợ quần áo sạch sẽ chớ không phải tèm lem như trẻ em ở đồng, ở rẫy. Mới tập viết thì
    dùng giấy dùng viết chớ không phải dùng đất mà viết trên ván rồi bôi.
    Học trò phân nhiều lớp. Lớp mới học vỡ lòng, la rùm: Thiên trời, địa đất, nhơn người, rồi tập
    viết chữ lớn bằng khu tô, thì đóng tiền trường mỗi tháng hai cắc bạc.
    Lớp đã viết được rồi, dầu còn viết hàng ba thì phải đóng tiền trường năm cắc.
    Còn lớp nghe giảng sách, bất luận học Minh Tâm Bửu Giám hay Ấu Học Tầm Nguyên, hay Tứ
    Thơ Thể Chú, thì phải đóng chẵn một đồng.
    Nhờ vậy nên mỗi tháng ông Giáo Huân kiếm vài chục đồng bạc, uống trà hút thuốc không
    hết, huê lợi trong vườn trong Vĩnh Hựu ông giao hết cho con với dâu ăn xài thong thả.
    Thời dụng biểu trong trường ông giáo Huân không giống với trường nhà nước. Sớm mơi ăn
    cơm rồi ngoài 9 giờ thì bắt đầu dạy. Gần 12 giờ thầy nghỉ trưa. Luc ấy học trò tự do, nhưng
    không được cười giỡn làm rầy; muốn về nhà thì về muốn đi chơi cũng được, hay là muốn ở đó
    mà học ôn hoặc tập viết tuỳ ý. Thường thường mấy trò trộng tuổi, nghe sách, thì ở luôn mà
    học, duy có mấy trò nhỏ hay đi chơi hoặc ra chợ mua bánh mà ăn.
    Hôm nay, quá 9 giờ rồi, học trò rải rác đi học, vô sân rồi thì đi dọc theo đường bên hè mà vô
    trường ở phía sau.
    Ông Giáo Huân ăn cơm uống nước rồi, ông đứng tại cửa giữa vấn thuốc mà hút. Ông ngó ra lộ
    thấy có một cậu trai chừng 15, 16 tuổi, đương đi thơ thẩn, thì ông kêu:
    - Xuân, vô đây cho thầy hỏi thăm một chút coi.
    Cậu trai ấy nghe kêu thì xâm xâm đi vô, tới thềm thì chấp tay cung kỉnh xá thầy. Ông Giáo
    Huân hỏi dồn dập: "Cháu còn đi học chữ Tây hay không ? Học đến bực nào rồi ? Nói tiếng Tây
    được hay chưa ? Thôi học hay sao nên thả đi chơi vậy hứ?".
    Không đợi người ta trả lời, ông liền tiếp xây lưng đi vô nhà, và đi và nói tiếp: "Vô đây, vô nói
    chnyện cho thầy nghe thử coi".
    Ông Giáo kéo ghế ngồi dựa cái bàn. Cậu Xuân thấy thím Hằng đương ngồi trên bộ ván ngang
    đó têm trầu mà ăn, cậu xá thím rời đứng xớ rớ, tay vịn cây cột.
    Ông Giáo Huân hỏi lại:
    - Cháu còn học dưới Gò hay không ?
    - Thưa còn.
    - Còn học sao lại được về mà đi chơi ?

    - Thưa, bãi trường từ hôm qua con về.
    - À! Bãi trường. Nghỉ tới chừng nào mới học lại ?
    - Thưa nghỉ lới 25 tháng giêng.
    - Dử hôn ! Nghỉ hơn hai tháng, học trò quên chữ hết còn gì!
    - Thưa, bãi trường lớn nên nghỉ lâu.
    - Cháu xuống Gò học đã được hai năm rồi. Bây giờ lên tới cấp nào ? Còn học bao lâu nữa mới
    rồi ?.
    - Thưa hồi mới xuống con ngồi học lớp ba học một năm. Năm nay con học lớp nhì mãn rồi.
    Ra giêng khai trường, con sẽ lên lớp nhứt, học thêm một năm nữa thì cuối năm đi thi.
    - Thi thì chắc cháu đậu, vì thầy biết cháu ham học lại siêng năng, nên chữ gì cũng vậy, hễ
    cháu học thì chắc cháu giỏi hơn chúng bạn. Mà qua năm nay cháu thi đậu rồi cháu được làm
    ông gì hay thầy gì nè ?
    - Thưa thầy, con nghe người ta nói, hễ học lớp nhứt mà thi đậu, như mình thôi học thì nhà
    nước cho làm thầy giáo và bổ đi dạy mấy trường công hoặc trường làng. Còn nếu mình chịu đi
    học thêm cho học lực được cao, thì nhà nước nuôi cơm nước áo quần cho mình học hai năm tại
    trường lớn Mỹ tho rồi lên Sài gòn học tiếp thêm hai năm nữa. Mãn bốn năm thì ra trường sẽ
    được bổ làm thông ngôn, ký lục trong các sở, hoặc làm giáo viên dạy mấy trường sơ học.
    - Nếu qua sang năm thi rồi cháu thôi học để đi làm giáo làng hoặc giáo tổng, mỗi tháng lãnh
    lương 9, 10 đồng có nghĩa gì, sợ không đủ cơm áo cho cháu, đâu có dư mà nuôi chị Hương Văn
    được. Phải rán học thêm bốn năm nữa đặng làm thông ngôn, ký lục mới khá. Cha chả, mà chị
    Hương Văn nghèo chỉ đủ sức cho cháu học đến bốn năm hay không ?
    - Thưa, con chưa nói chuyện đó cho má con biết. Bụng con thì muốn học nữa, ngặt con thấy
    má con cực khổ quá, nên nên con không nỡ lo tương lai cho phận con, mà để cho má con cực
    khổ thêm tới bốn năm nửa. Có lẽ con học thêm một năm lớp nhứt nữa rồi con xin đi làm giáo
    làng đặng con giúp đỡ má con.
    - Cháu biết thương mẹ như vậy thì cháu là con có hiếu. Ngặt hồi trước cháu học với thầy,
    cháu thông minh mẫm cán, học được Đại Học, Trung dung, Luận Ngữ rồi kế cháu bỏ để qua học
    chữ Tây. Học thêm đã mấy năm rồi nếu ra làm giáo làng thì uổng công phu của cháu quá. Chớ
    chi hồi đó cháu học luôn chữ nho, thì bây giờ cháu đủ sức mở trường tư mà dạy học như thầy,
    lương hướng hơn giáo làng mà được thong thả, khoẻ khoắn. Hồi cháu từ biệt thầy đặng qua
    trường tổng mà học chữ tây, thiệt thầy buồn quá. Người Nam thì học chữ Nam, đặng ăn ở theo

    định nghĩa của mình. Học theo người ta làm chi. Thứ học để làm tôi mọi, thà dốt rồi làm ruộng
    hoặc lập vườn mà nuôi thân cũng còn vinh quang hơn nhiều. Thầy thương cháu lắm. Hồi trước
    cháu là ngôi sao xán lạng trong trường của thầy. Thầy chắc thầy sẽ truyền đạo học của thầy
    cho cháu được, bởi vậy cháu bỏ mà đi ngả khác, thầy tiếc hết sức.
    - Thưa thầy, tại cha con mất, má con nghe lời cậu Ba con, ép con phải qua trường tổng mà
    học cho khỏi tốn tiền thầy, rồi sau được làm giáo viên. Vì vậy nên con mới đi học chữ Tây, chớ
    thôi học chữ nho thiệt con cũng buồn lắm.
    - Nếu anh Hương Văn còn sống, chắc thầy cản ảnh, thầy không để ảnh cho cháu bỏ nho mà
    học chữ Tây. Mà bây giờ bãi trường nghỉ tới hai tháng cháu ở nhà làm cái gì ? Không lẽ mỗi
    ngày ăn no rồi thả đi chơi hoài.
    - Thưa, con coi bài vở cũ lại, chớ không có làm chi hết.
    Ông Giáo Huân lơ lửng mà suy nghĩ. Ông mở cái hộp thuốc ra và lấy thuốc vấn mà hút nữa.
    Thím Hằng nói: "Thiếu gì con nhà giàu có, bạc tiền dư dã mà họ lại không chịu đi học. Còn
    cháu Xuân đây ham học, lại có khiếu thông minh, mà nhà thì nghèo, mẹ góa con côi, đi học
    không được. Ông trời trớ trêu quá. Chớ chi ông cho cháu Xuân sanh trong một nhà giàu có lớn,
    thì cháu sẽ học giỏi biết chừng nào".
    Ông Giáo nói:
    - Ở đời phải có trặc trẹo như vậy mới có chuyện mà nói chớ. Có lẽ tạo hoá gây cuộc khó khăn
    để trui gan, thử chí con người, bởi vậy gặp khó khăn mà lướt qua mới thiệt là giỏi.
    Thím Hằng hỏi Xuân:
    - Chị Hương Văn lúc nầy còn bán ngoài chợ hay không cháu? Hết mùa bắp, khoai rồi, chị bán
    thứ gì ?
    - Thưa, má con bán xôi với bánh bèo.
    - Bán xôi, bánh mà lời lóm bao nhiêu ?
    - Thưa, mỗi bữa lời năm ba cắc cũng đủ ăn.
    - Sự sống bắt buộc phải tốn hao nhiều thứ, như nhà cửa, áo quần, thuốc men, chớ có phải tốn
    cơm, cá mà thôi đâu cháu.
    Ông giáo nói:
    - Nhà nghèo phải chịu nhiều nỗi khổ, nói sao cho xiết. Mà khó khăn cho mấy người ta cũng
    sống được, có sao đâu mà lo. Nếu có lo là lo đừng vì chữ bần hàn mà làm trái đạo nghĩa, làm

    nhục tổ tiên mà thôi.
    Ông Giáo xây câu chuyện qua địa hạt phong hoá, thím Hằng không muốn theo, nên thím làm
    lơ. Ông giáo mới nói với cậu Xuân:
    - Xuân, thầy giảng Tứ Thơ cho cháu vừa hết bộ Luận Ngữ thì cháu thôi học. Cháu còn thiếu bộ
    Mạnh Tử, chưa nghe. Bữa nay thầy bắt đầu giảng Mạnh Tử cho con Cúc Hương học.
    - Chà! Cô Cúc Hương đã học xong Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, bây giờ cô nghe tới Mạnh
    Tử lận ? Giỏi quá !
    - Nó thông minh lắm, lại siêng năng cũng như cháu hồi trước vậy. Nó cũng lớn rồi, cha mẹ nó
    muốn bắt nó ở nhà đặng tập buôn bán. Nghe giảng sách tay đôi, một thầy một trò thiệt buồn
    quá. Ngặt Cúc Hương cứ năn nỉ xin thầy dạy dùm Mạnh Tử nữa cho nó học đủ bộ Tứ Thơ rồi nó
    sẽ ở nhà mà buôn bán. Vì vậy nên thầy phải rán dạy dùm cho nó đặng nó khỏi thiếu sót. Thầy
    nghĩ đất Gia Định mình bây giờ không còn thi cử gì nữa. Người mình cần học nho để tu tâm,
    dưỡng tánh mà ở đời vậy thôi. Mà xuất thân làm ăn, nếu không học Mạnh Tử thì như đi chiếc
    thuyền không có bánh lái. Cúc Hương tính buôn bán, nó muốn học Mạnh Tử là phải lắm. Đó là
    thêm một lý thầy phải dạy nó nữa. May gặp dịp bãi trường, cháu ở không tới hai tháng, thầy
    muốn cháu thừa cơ hội mà học luôn Mạnh Tử với Cúc Hương. Có thêm một trò nữa thì thầy
    mới sốt sắng. Cháu chịu hay không ?
    Xuân dụ dự rồi đáp:
    - Thưa, để thủng thẳng con suy nghĩ coi.
    - Suy nghĩ làm chi ? Có điều chi trắc trở đâu mà suy nghĩ.
    - Con phải thưa cho má con hay coi má con có bằng lòng lay không.
    - Á! Cháu sợ phải đóng tiền chớ gì. Không. Thầy dạy giùm cho cháu, cháu khỏi đóng tiền học.
    Bãi trường, cháu học thêm Mạnh Tử cho có đủ nhân nghĩa mà xử sự, có ích quá. Ở không mà
    thả rều có ích gì đâu. Cháu bắt đầu học liền bữa nay đi. Chiều về sẽ nói lại cho chị Hương Văn
    hay, nói thầy dạy giùm, thầy không đòi tiền. Mà cháu ăn cơm sớm mơi rồi hay chưa ?
    - Thưa, rồi.
    - Vậy thì đi xuống trường với thầy. Bây giờ chắc học trò đã tới đủ rồi.
    Ông giáo dắt Xuân vô trong rồi đi cửa sau mà xuống nhà dạy học. Đi dọc đường ông hỏi:
    - Bộ sách Tứ Thơ của cháu hồi trước cháu còn đủ hay không ?
    - Thưa, còn đủ hết. Đi học thì con gói cất trong tủ. Bãi trường con mới đem ra mà đọc lại. Con
    mới lấy ra hồi hôm nầy.

    - Được lắm. Vậy mai cháu đem Mạnh Tử theo mà học. Bữa nay cháu dò chung sách của Cúc
    Hương. Chừng thầy giảng giải rồi, thầy sẽ cho cháu mượn sách của thầy đặng cháu học đỡ.
    Ông giáo bước vô nhà học, sau lưng có Xuân đi thẹo. Học trò ngồi chật ba cái bàn thấp mà
    dài, cả thảy đồng đứng dậy chấp tay xá thầy. Ông giáo khoác tay biểu ngồi xuống và ông đi
    ngay lại chỗ Cúc Hương ngồi mà nói: Cúc Hương, thầy lại kiếm thêm một trò xin nghe giảng
    sách Mạnh Tử nữa đây, đặng cháu học cho có bạn. Cháu biết Xuân mà".
    Cô Cúc Hương ngó Xuân, miệng chúm chím cười mà đáp: "Thưa biết, anh Xuân là học trò cũ
    của trường nầy. Anh Bỏ đi học chữ Tây mấy năm nay . Xuân biết ý Cúc Hương muốn mở hơi
    bao biếm, nhưng nghĩ không phải chỗ biện bạch quấy phải, nên cậu cũng chúm chím cười chớ
    không nói chi hết.
    Ông giáo biểu mấy trò dồn xuống một chút đặng trống ở đầu bàn giữa một chỗ cho Xuân
    ngồi ngang mặt với Cúc Hương ngồi phía bên kia. Ông Giáo đi qua hai bàn hai bên mà chỉ đạo
    cho học trò học.
    Xuân ngồi ngó tứ phía thì thấy ván, bàn, ghế, võng, đều còn y như mấy năm trước, không dời
    đổi chút nào hết. Phía trong lót bộ ván gõ nhỏ để cho thầy nằm ngồi. Trước bộ ván thì để một
    cái ghế nghi, trên ghế có một bình trà, hai chén nhỏ, một hộp thuốc, một lư lửa với một cặp
    kiếng, để cho thầy mang mà xem sách. Một bên lại có để ba chồng sách thấp thấp, sách cũ mà
    bìa cứng quành. Trên ván có gối dựa, có gối đầu, có quạt lông, lại có một ngọn roi mây để khi
    nào học trò nhỏ làm rầy lúc thầy giảng sách, thì thầy nhịp trên ván mà biểu im lặng.
    Thầy đã có chỗ nằm ngồi thong thả, mà ngang với bộ ván lại có giăng một cái võng bố để lúc
    thầy dạy mệt thì nằm đưa nhúc nhích cho mát.
    Còn ba dãy bàn của học trò ngồi học, thì hai dãy hai bên toàn là học trò nhỏ cộng chung với
    lối 30 trò, một bên học Tam Tự Kinh, một bên học Tam Thiên Tự, bàn nào học theo bàn nấy
    nên la rùm. Bên nây học: "Phụ cha, mẫu mẹ, sư thầy, quân vua", thì bên kia lại la: "Thiên Trời,
    Địa Đất, thất mất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước,…".
    Xuân ngồi mắt ngó trước sau, tai nghe inh ỏi, quang cảnh cách lấy năm trước diễn lại trước
    mắt, xưa nay cũng vậy, cậu xúc động nên liếc Cúc Hương mà cười. Tại bàn giữa chỗ cậu ngồi,
    chỉ có mười trò, 3 gái 7 trai, toàn là học trò nghe sách duy có Cúc Hương, 15 tuổi, học Tứ Thơ,
    còn 9 trò kia, gái cũng như trai, còn học sách Minh Tâm, tuổi tác xấp xỉ với nhau, lối 13 hoặc
    14.
    Ông Giáo Huân lần lượt dạy giáp hai bàn hai bên rồi ông nhịp roi biểu nín hết đặng ông giảng
    sách cho học trò lớn. Nhờ tập quen kỷ luật nhiều năm, bởi vậy vừa nghe nhịp roi thì học trò nín

    êm, chỉ có ít học trò lầm thầm trong miệng.
    Ông Giáo lại ghế nghi lấy cuốn sách Minh Tâm với cặp mắt kiếng rồi đi ra mà ngồi cái ghế để
    tại đầu bàn giữa phía ngoài cửa, dỡ sách ra đọc chữ rồi cắt nghĩa từng chữ, từng câu cho học
    trò nghe. Cậu Xuân cũng như Cúc Hương day lại phía trò ngồi gần liếc mắt dòm vào quyển sách
    mà dò chung với bạn.
    Ông Giáo cắt nghĩa được hai tờ sách rồi ông xếp lại mà nói: "Thôi bữa nay giảng bao nhiêu đó
    đã nhiều rồi. Bây học đi, có câu nào chưa hiểu rõ thì sẽ hỏi lại. Bây giờ để thầy giảng Mạnh Tử
    cho cúc Hương. Mấy trò cũng nên lóng nghe lần đặng hiểu chút đỉnh nghĩa lý sau học cho dễ".
    Ông đi lại ghế nghi đổi sách mà lấy "Mạnh Tử thượng quyển rồi kéo ghế ngồi đầu bàn phía
    trong. Ông thấy cậu Xuân ngồi khoanh tay không có sách trước mặt, ông mới biểu trò gái ngồi
    gần Cúc Hương đổi chỗ với Xuân đặng Xuân qua ngồi dựa bên Cúc Hương mà dò chung sách
    của Cúc Hương.
    Xuân vâng lời thầy mà đổi chỗ, không ái ngại chi hết. Cúc Hương đẩy cuốn sách qua phía
    Xuân. Thầy bắt đầu đọc từng câu mà cắt nghĩa xuôi rồi nói tới lý. Hai trẻ cúi mà dòm chung vào
    quyển sách, hai đầu gần đụng nhau, nhưng mắc lo dò cho nhớ chữ và hiểu nghĩa nên không ái
    ngại chi hết.
    Dạy được ba tờ sách rồi ông Giáo nói bữa đầu giảng ít một chút đặng khỏi ngán, quen rồi sẽ
    giảng nhiều hơn. Ông trao quyển sách của ông cho Xuân mượn. Ông lại bộ ván ngồi rót nước
    trà mà uống và lấy cây quạt mà quạt.
    Học trò đứa cầm vở lên hỏi chữ, đứa cầm sách lại hỏi nghĩa, tiếp tục lên xuống không ngớt.
    Xuân gầm đầu vào quyển sách không để ý đến việc chi khác, cũng không tính đổi chỗ ngồi trở
    lại đặng xa Cúc Hương.
    Mặt trời gần đứng bóng, ông Giáo thấy học trò các cấp đều lo học, không còn hỏi chữ nghĩa gì
    nữa, ông lại võng nằm, một hồi rồi bỏ đi lên nhà trên.
    Học trò biết thầy đi nghỉ trưa, tới giờ mình được thong thả nên rủ nhau tốp đi chơi, tốp đi
    chợ mua bánh về ăn. Phần đông thì ra chợ, nhưng đi riêng thì tốp đôi ba trò, chớ không đi
    chung. Trò nào không muốn đi thì gởi tiền cho chúng bạn mua giùm kẹo, cốm hoặc chuối nấu.
    Bây giờ trong trường chỉ còn có mười mấy trò, nhưng dụm nhau từ khóm năm ba trò, con
    trai thì ra sau hè đánh đáo, con gái thì ngồi dưới đất đánh đũa.
    Trên bàn giữa chỉ còn có Xuân với Cúc Hương ngồi êm, chăm chú ngó vào sách mà học, ngồi
    một bên nhau, nhưng không ai nói tới ai.

    Thình lình Cúc Hương kêu mà hỏi: "Anh Xuân, bài đầu ý nói cái gì vậy anh ? Nãy giờ em suy
    nghĩ hết sức mà em hiểu không thấu. Học mà tập luôn luôn thì vui. Vui cái gì ? Bạn ở xa lại thì
    mừng. Sao mà mừng ? Người ta không biết mà nình không hờn, vậy mới là quân tử. Không biết
    giống gì ? Anh hiểu sao đâu, anh làm ơn cắt nghĩa lại cho em nghe thử coi".
    Xuân ngó ngay Cúc Hương và nghiêm chỉnh đáp: "Theo lời thầy dạy hồi nãy thì bài nầy khó
    hiểu là tại chữ "học". Cô phải định nghĩa chữ "học" cho đúng thì tự nhiên cô hiểu hết".
    Cúc Hương cười mà nói:
    - Anh kêu em bằng cô nghe kỳ quá. Anh em học với nhau một trường từ hồi nhỏ, mà anh kêu
    cô thì dường như thuở nay chưa quen biết nhau.
    - Chớ kêu thế nào ?
    - Kêu bằng em.
    - Cô đã lớn rồi. Kêu em sao phải.
    - Anh mấy tuổi mà anh nói em lớn ?
    - Tôi 16 tuổi.
    - Em mới 15, nhỏ hơn anh một tuổi thì làm em là phải lắm chớ. Em muốn từ rày sắp lên anh
    kêu em bằng em cho có tình thân thích một chút, đừng kêu bằng cô nữa nghe hôn.
    - Muốn vây cũng được. Tự ý em.
    - Bây giờ anh cắt nghĩa bài sách lại cho em nghe đi.
    - Chữ "học" đây là học đạo nho, chớ không phải học đặng biết chữ Tàu, như mình học đây
    vậy. Sách nói: "Học nhi thời tập chi, bất duyệt hồ ?". Tôi hiểu nghĩa như vầy: mình được nghe
    giảng về đạo nhân nghĩa của nho giáo; rồi mỗi giờ mổi khắc mình gia công rèn tập, làm y như
    lờI dạy; mình học đã đắc đạo há mình không vui lòng đẹp dạ hay sao ? Chữ "duyệt" là vui đẹp,
    nhưng vui đẹp ở trong chớ không lộ ra ngoài.
    - Anh giải nghĩa như vậy thì đễ hiểu quá. Em hiểu rồi. Hồi nãy em bối rối là tại em không biết
    định nghĩa chữ "học". Để em giải câu thứ nhì cho anh nghe coi trúng hay không. "Hữu bằng tự
    viễn phương lai bất diệc lạc hồ ?" Ý sách nói: có người bạn ở phương xa họ nghe mình học đã
    đắc đạo, họ đến mà bàn luận hoặc học hỏi với mình, được như vậy mình không vui hay sao ?"
    - Em nói như vậy thì trúng lắm. Nhưng em nên nhớ chữ "lạc" nghĩa là vui như chữ "duyệt",
    song vui lộ ra ngoài chớ không phải vui ở trong như "duyệt".
    - Cám ơn anh. Em sẽ nhớ. Còn câu chót, phải như vầy hay không? "Nhơn bất tri nhi bất uẩn

    bất diệc quấn tử hồ ?" nghĩa là: ví dầu người ta không hay, không biết mình tu tập đã đắc đạo,
    nếu không ai tìm tới đặng học hỏi với mình, mà mình cũng không hờn trách, mình ăn ở được
    như vậy không phải là quân tử sao? Cắt nghĩa như vậy trúng hay không anh Xuân?
    - Trúng lắm. Em giỏi quá.
    - May có anh học với em; nên em học dễ mà lại vui nữa. Nếu để em học một mình, chắc em
    bối rối lắm. Anh thôi học chữ Tây hay sao nên trở lại học chữ nho đây anh Xuân.?
    - Lúc nầy bãi trường, tôi được nghỉ tới hai tháng. Hồi nãy tôi ghé thăm thầy. Thầy nói bữa
    nay thầy bắt đầu dạy em học bộ Mạnh Tử. Thầy biểu tôi nhơn bãi trường được ở nhà, tôi nên
    học luôn Mạnh Tử với em đặng thông trọn bộ Tứ Thơ. Tại vậy nên tôi mới học đây, chớ không
    phải tôi bỏ chữ Tây. Chừng khai trường tôi phải đi học thêm một năm nữa cho mãn lớp nhứt
    rồi mới thôi.
    - Nếu vậy thì anh học ở đây tới hai tháng. Em học Mạnh Tử có anh dìu dắt. Em mừng lắm. Em
    học xong bộ Tứ Thơ rồi em cũng thôi , đặng ở nhà tập buôn bán. Anh nhắm coi trong hai tháng
    mình học hết bộ Mạnh Tử hay không ?
    - Thầy nói thầy rán dạy cho hết.
    - Em mừng quá. Mình được học với nhau tới hai tháng. Chừng thôi mình sẽ thôi với nhau
    một lượt. Anh không có sách Mạnh Tử hay sao ?
    - Có ở nhà. Bữa nay tình cờ thầy biểu học, tôi có dè đâu mà đem theo. Ngày mai tôi sẽ có
    sách.
    - Dầu không có, anh học chung sách của em cũng được. Anh học nho giỏi, năm đó anh bỏ nho
    mà học chữ Tây, thầy tiếc quá. Em cũng buồn. Tại sao anh bỏ nho học đặng theo tân học vậy
    anh Xuân?
    - Tại ý cậu tôi muốn như vậy. Cậu nói con người trước hết phải lo cho no cơm ấm áo. Đi học
    phải chú trọng về cơm áo ngày sau. Đời nầy mà còn học nho để dùng vào chỗ nào. Cha tôi mất,
    má tôi nghèo, nên tôi phải nghe lời cậu tôi mà bỏ cũ theo mới.
    - Vì cơm áo nên đi học. Học như vậy em sợ không được cao thượng phải hôn anh ?
    - Phải lắm. Nhưng nhà nghèo, ăn bữa trước phải lo bữa sau làm sao mà nghĩ đến cao thấp cho
    được em. Tôi đi Gò Công mà học hai năm nay, may có hoc bổng tôi học mới được. Nếu không
    có thì tôi cũng ...
     
    Gửi ý kiến