CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
Truyền thống dân tộc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:46' 05-04-2024
Dung lượng: 656.1 KB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:46' 05-04-2024
Dung lượng: 656.1 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Tác giả: Lê Văn Siêu
Nhà xuất bản: Hoàng Đông Phương
Năm xuất bản: 1968.
Giấy phép XB: 1/623/BTT/NT/NHK.
Loại thể: Lịch sử.
Số trang: 158.
Những người tham gia:
- Nguồn sách: @Nguyễn Thanh Tuấn
- Scan, OCR: @Nguyễn Thanh Tuấn
- Soát lỗi, biên tập và hiệu đính: @teacher.anh
- Soát lỗi lần 2: @Lười Đọc Sách
- Tạo eBook: @tamchec
Ngày hoàn thành: 15/06/2016
https://thuviensach.vn
Mục lục
VỀ TÁC GIẢ
THAY LỜI DẪN
QUAN NIỆM NHÂN SINH
1. SỐNG LÀ CHỊU ĐỰNG
2. SỐNG LÀ SỬA SOẠN CHO CÁI CHẾT
3. PHÚC VÀ ĐỨC
4. ĐỜI SỐNG TÌNH NGHĨA
5. NHÀ Ở
6. CUỘC SỐNG THANH THẢN
7. ĐỜI SỐNG GIẢN DỊ
8. TRIỂN VỌNG
https://thuviensach.vn
VỀ TÁC GIẢ
Lê Văn Siêu là Nhà văn, nhà báo, sinh năm 1911 ở thành
phố Hà Nội, có sách ghi năm sinh ông 1912.
Thuở nhỏ học ở Hà Nội, tốt nghiệp trường Công nghệ
thực hành ở Hải Phòng, năm 1932 làm việc tại sở công chánh
Hà Nội (Đốc công nhà máy gạch Đáp Cầu). Những năm 40
cộng tác với nhóm Hàn Thuyên của Nguyễn Đức Quỳnh,
cùng Trương Tửu, Đặng Thái Mai... Viết báo Tiếng Trẻ và
một số sách về thanh niên và thực nghiệp do nhà Hàn
Thuyên xuất bản trước Thế chiến II. Năm 1934 - 1936 làm
chánh văn phòng nghiên cứu kĩ thuật Sở Hỏa xa Hồ Nam Quảng Tây (TQ).
Khoảng các năm 1938-1944 ông chuyển về làm việc ở sở
công chánh Hà Nội. Thời gian này ông hợp tác chặt chẽ với
nhóm Hàn Thuyên viết các loại sách Tân văn hóa, giữ chức
trưởng ban khánh tiết Hội truyền bá quốc ngữ Hải Phòng.
Sau toàn quốc kháng chiến, tản cư ra vùng Tự do tham gia
Hội đồng chuyên môn sản xuất kĩ nghệ ở liên khu III... Năm
1947 bị Pháp hành quân bắt về Hà Nội. Năm 1949 chuyển
vào sống ở Sài Gòn với nghề thầu khoán, đến năm 1952 ông
làm chủ bút báo Mới của Phan Văn Tươi, rồi tuần báo
Phương Đông cho đến hiệp định Genève. Từ năm 1959 chủ
bút các báo Cách mạng Quốc gia, nguyệt san Sáng dội Miền
https://thuviensach.vn
Nam. Năm 1967 ông được mời dạy một số giờ tại Đại học
Vạn Hạnh, Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm ở Sài Gòn...
Ông mất năm 1995 tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
Minh.
Tác phẩm
Các tác phẩm chính đã xuất bản:
Hợp lí hóa Taylor (Hàn Thuyên, 1940).
Thanh niên và thực nghiệp (Hàn Thuyên, 1940)
Luân lí và thực nghiệp (nt, 1941)
Tương lai kĩ nghệ Việt Nam (nt, 1942)
Học để làm gì? (1957)
Văn minh Việt Nam (1954, Sài Gòn)
Nguồn gốc văn học (Thế giới, 1956 Sài Gòn)
Tân Xuân tùy bút (Nguyễn Đình Vượng, 1960)
Giai nhân kì ngộ (Phan Châu Trinh, chú thích, 1958 Sài
Gòn)
Văn học đời Lý (1957, Sài Gòn)
Nếp sống tình cảm của người Việt Nam (1955, Sài Gòn)
Việt Nam văn minh sử cương (1967)
https://thuviensach.vn
Quốc sư Vạn Hạnh (kịch, 1967)
Văn học sử thời kháng Pháp (1973, Sài Gòn)
Sửa đổi lề lối làm việc (1958)
Việt Nam văn minh sử lược khảo (1972)
Truyền thống dân tộc (1968)
EBook này sẽ được thực hiện nhằm chia sẻ, phục vụ cộng
đồng, góp phần nhỏ trong việc nâng cao dân trí, thúc đẩy
văn hóa Đọc cho các bạn không có điều kiện mua sách giấy.
Khi bạn có khả năng, hãy mua sách giấy để ủng hộ tác giả
và Nhà xuất bản!
Xin chân thành cảm ơn bạn @Nguyễn Thanh Tuấn đã chia
sẻ một nguồn sách quý.
Do chúng tôi chưa thể liên hệ được với gia đình tác giả để
xin phép nên rất mong gia đình tác giả và bạn đọc thông
cảm.
Cảm ơn các bạn đọc, những người giúp chúng tôi có động
lực thực hiện số hóa cuốn sách này.
https://thuviensach.vn
THAY LỜI DẪN
CUỘC ĐÀM ĐẠO VỀ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Tại trường Thanh Niên Phụng sự xã hội.
Thưa quý bạn.
Câu chuyện tôi nói với quý bạn hôm nay chắc sẽ dài.
Không dài sao được khi đề cập đến những truyền thống của
cả một dân tộc đã có gần năm ngàn năm lịch sử?
Tôi biết rằng quý bạn sẽ không xem xét vấn đề này theo
con mắt của những nhà khảo cứu văn hóa. Mà sẽ chỉ cần biết
những đặc tính cố hữu của nhân dân, để mai mốt đây có dịp
tiếp xúc với nhân dân thì quý bạn không đến nỗi ngỡ ngàng
như những người ngoại quốc, và công tác phụng sự xã hội
của quý bạn mới có hy vọng nào chắc chắn thành công.
Nhưng cũng bởi ý muốn của quý bạn là như thế, nên tôi
lại thấy cần phải trình bầy vấn đề cho thật giản dị và khúc
chiết để không có gì ngộ nhận được nữa. Hễ ngộ nhận thì lạc
đường. Hễ lạc đường thì thất bại và tai hại.
KHÔNG THỂ TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Ở NHỮNG VẬT THỂ THUỘC HÌNH THỨC
Chẳng hạn như người Việt mình xưa, đàn ông nho sĩ thì
để móng tay dài uốn cong lên, lưa thưa vài sợi râu ở cầm và
https://thuviensach.vn
mép, đầu búi tóc, quấn khăn, còn đàn bà thì răng đen, chít
khăn, tóc để đuôi gà, vận áo tứ thân mầu nâu non, vá vai, lại
mặc yếm và váy.
Nếu bảo rằng Y phục ấy ở hình thức là truyền thống rồi,
thì hết thảy người mình hiện nay đã xa lìa truyền thống rồi
hay sao? Vả chăng đã lấy đâu làm chắc những y phục trang
phục ấy đã hoàn toàn là của mình từ nguồn gốc, khi nhớ lại
rằng từ đời Minh (đầu thế kỷ XV) kẻ giặc mạnh đã từng bắt
người mình phải ăn vận theo họ. Và nếu chịu khó tìm tòi
đến tận hồi không bị ảnh hưởng ngoại lai, thì y phục cũ của
chúng ta phải là y phục thiên nhiên mới đúng, như hết thảy
mọi giống dân khác.
Lại chẳng hạn như những món ăn uống: miếng trầu, điếu
thuốc lào, chén nước mắm, bát phở, mắm cá, mắm tôm v.v...
có thể rằng gần như cả toàn dân tộc đã quen giọng để nhìn
nhận những món ấy là ngon, là thú. Nhưng không thể nói
đùa dai để người ta tưởng thật rằng đấy là dân tộc tính, đấy
là cái gì bất biến trong thị hiếu của người Việt Nam. Bởi có
nhiều món, nhiều địa phương và nhiều người không dùng.
Chẳng lẽ dân tộc tính lại không có ở địa phương và những
người ấy. Huống chi các món ăn uống không phải có người
Việt Nam trên trái đất này là có liền ngay theo thể cách mà ta
thấy. Nó đã được hình thành qua rất lâu đời và chịu cũng đã
rất nhiều ảnh hưởng. Nó thực là nguyên nhân để uốn nắn thị
hiếu nhưng nó vẫn là kết quả của thị hiếu nữa. Giá trị của nó
là những gì lạ miệng để giới thiệu cho những du khách. Còn
nói rằng nó là dân tộc tính, ấy là nói đùa, và đùa trong khi
https://thuviensach.vn
người ta thao thức đi tìm truyền thống dân tộc, ấy là đùa
mỉa.
Quan trọng hơn nữa là nhà ở. Nhà ở có biểu thị một lề thói
sống chung của đông đảo nhân dân, cả về vật chất lẫn tinh
thần và tâm linh, biểu thị một khả năng kỹ thuật, kinh tế, xã
hội, và biểu thị cả những ước vọng của người ta nữa. Nó là
cái áo của một gia đình, áo dùng cho tất cả 4 mùa và thật lâu
dài, năm này qua năm khác, dùng cho tất cả mọi người, già
trẻ lớn bé, cả sống và chết nữa, dùng cả ban ngày lẫn ban
đêm, cả ngày thường lẫn ngày giỗ Tết, vừa bền bỉ, vừa cần
đẹp mắt, vừa cần thoải mái. Tất nhiên nó chứa đựng trong
nó cả một kho tàng đặc tính dân tộc.
Nhưng bởi cuộc sống trong dòng dài lịch sử có chịu nhiều
ảnh hưởng ngoại lai, mà cái nhà lại trực tiếp chịu đựng
nhiều hơn và trước hơn cái gì khác, nên khó mà phân biệt
nổi những đặc tính cá biệt nào của mình trong một bộ phận
nào của cái nhà.
Vả chăng, như hiện nay, có thiếu gì người không ở trong
những nhà kiểu cũ nữa. Liệu dễ thường họ không còn dân
tộc tính trong người sao? Và mai mốt đây có thể kỹ thuật đồ
nhựa thay thế được đồ gỗ, đồ sắt, cái nhà có thể sẽ khoác
một hình thức khác hẳn đi, thì liệu lúc ấy mình sẽ hết dân
tộc tính chăng?
Thưa quý bạn.
https://thuviensach.vn
Đặc tính dân tộc có thấm nhuần những vật thể, nhưng
không phải là chỉ căn cứ vào những vật thể ấy mà thấy ra
được toàn bộ đặc tính ấy. Nó là những giòng máu chu lưu
dưới nhiều lớp da. Nó là luồng nhựa sống vận hành trong
não tủy. Tuỳ lúc và tuỳ hoàn cảnh mà nó biểu hiện ra theo
chiều thuận hay chiều nghịch, biểu hiện ra một phần hay
toàn bộ và biểu hiện ra với người này hay với người khác.
Cho nên, tìm hiểu truyền thống dân tộc là tìm hiểu một cái
gì tinh tế hết sức, ở phạm vi tinh thần nhiều hơn.
NHƯNG TA CŨNG KHÔNG THỂ THẤY RÕ NÓ QUA
SỰ NGHIÊN CỨU TẬP QUÁN PHONG TỤC.
Phong tục tập quán là ước lệ của cuộc sống chung trong
cùng một hoàn cảnh lịch sử và địa dư, hễ hoàn cảnh đổi thì
phong tục tập quán cũng không còn giữ được nguyên chất
nữa. Thí dụ tục chơi múa lân vào rằm tháng tám ở miền Bắc,
không mưa, trời đẹp, trăng sáng, chuyển vào miền nam, gặp
tháng tám mưa nhiều đã không còn trò múa lân nữa, mà đến
dịp tết Nguyên đán mới có. Lại thí dụ tục để của gia tài cho
con, ở Bắc và ở Trung thì tất cả cho người con trưởng để gìn
giữ ngôi nhà thờ họ, đời này qua đời khác. Người Việt vào
đến miền Nam đất rộng người thưa phải mong cho con
chóng lớn, lấy vợ cho, rồi cho ở riêng liền, để chiếm mau lấy
ruộng đất, người ta giải quyết dần từng đứa con một như
thế, đến đứa con út thì cho được hưởng nhà đất mà cha mẹ
già để lại. Và đứa con út ấy muốn giữ thì giữ, muốn bán thì
bán. Việc cúng giỗ mỗi con giữ giỗ một người quá cố và
https://thuviensach.vn
cúng tại nhà mình. Không còn ngôi nhà thờ họ đến mấy thế
hệ người như ở miền Bắc và Trung nữa.
Nhưng không thể vì tục lệ khác ấy mà cho rằng không còn
truyền thống dân tộc ở miền Nam.
Giả dĩ, ngay cả những thể chế chính trị khác hẳn trước để
uốn nắn sự sống của con người như ở miền Bắc hiện nay,
cho là uốn nắn được thực nhiều thế hệ, cũng không thể vì
thế mà bảo rằng truyền thống dân tộc không còn chảy trong
giòng máu của người dân Việt miền Bắc nữa. Bởi bản chất
của người được tạo thành do nhiều yếu tố vật chất, tình cảm
tinh thần, của cả một quá khứ dài dặc, trong hoàn cảnh thiên
nhiên và xã hội có cùng, thông, biến, hóa như để luyện cho
tinh thục cái năng khiếu và phản ứng ở tiềm thức, khiến sự
sống càng bộn bàng, phức tập, gay go, nguy hiểm, thì tinh
thần thích ứng lại càng linh động mẫn tiệp.
Cũng như đối trước tình cảnh xã hội hỗn tạp hiện nay ở
miền Nam, nào là ảnh hưởng của phim ảnh, của cuộc sống
vội vàng trong thời chiến, nào là ảnh hưởng của sự thèm
khát nhu yếu vật chất, thèm khát thỏa mãn dục vọng khiến
nảy ra những tục lệ mới làm đảo lộn hết các giá trị tinh thần.
Ai trông thấy mà chẳng đau lòng muốn khóc lên là truyền
thống dân tộc chạy trốn đâu mất rồi? Nhưng tôi tưởng
chúng ta vẫn có thể vững tâm, vì truyền thống dân tộc thực
quả không phải chỉ là những gì hời hợt ở bề ngoài dễ trông
thấy.
★
https://thuviensach.vn
NGAY CẢ NGÔN NGỮ CŨNG KHÔNG DÙNG LÀM
CĂN CỨ ĐƯỢC ĐỂ TÌM TÒI
Ngôn ngữ là phương cách biểu thị tâm tình, ý chí tinh thần
của con người và của dân tộc, tinh tế lắm, với năng lực giáo
hóa của nó cũng hiệu quả lắm, cho đến đỗi người Do Thái
hồi tiền chiến vẫn nói rằng: “chúng tôi tuy không có nước,
nhưng chúng tôi còn tiếng nói thì còn dân tộc và rồi dân tộc
chúng tôi sẽ trở về nước tổ”. Việc ấy quả nhiên đúng, cũng
như Trung Hoa đô hộ ta cả ngàn năm để lỏng lẻo không
đồng hóa được tiếng nói, mà khi ta có dịp bứt xiềng đô hộ
thì ta lại vẫn là một nước riêng biệt.
Tuy vậy, ngôn ngữ chỉ nên kể là một yếu tố quan trọng
chứa đựng và chuyên chở truyền thống dân tộc, mà không
nên nhìn nó đã là truyền thống dân tộc.
Vì cả những hình ảnh trong ngôn ngữ, những lối nói, lối
nghĩ những ca dao, đồng dao, tục ngữ cách ngôn, cả những
ngữ pháp, những tiếng tân tạo (bởi là sinh ngữ) cũng uyển
chuyển chịu ảnh hưởng qua lại của ngoại ngữ cả về tiếng lẫn
ngữ pháp, lẫn cách hành văn. Một người vào lớp Phạm
Quỳnh chết đi năm 1920 bây giờ 1967 có sống lại, chưa chắc
đã nghe hiểu nổi 7 phần 10 câu chuyện của người đương
thời nói. Nếu người ấy bảo rằng: ồ, bây giờ ta mất gốc rồi,
hết truyền thống dân tộc rồi thì chẳng hóa ra oan lắm hay
sao? Mà ngược lại những người cứ lôi mớ ca dao tục ngữ ra
mổ xẻ để khai thác tìm truyền thống dân tộc thì chẳng hóa ra
không sợ mang tiếng là làm chuyện hồ đồ hay sao?
https://thuviensach.vn
TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC LÀ CÁI BẢN CHẤT
NGƯỜI RIÊNG BIỆT CỦA DÂN TỘC CÓ SINH
TRƯỞNG TIẾN HÓA
Trên những thồ ngơi khí hậu (nói chung là hoàn cảnh địa
dư) trong những điều kiện sống chung của mọi bước thăng
trầm may rủi (nói chung là hoàn cảnh lịch sử), sự chịu đựng
những hoàn cảnh (như những cộng nghiệp cũ) của cả dân
tộc để vật lộn, thích ứng, chống chọi, dung hòa mà sống và
tiến hóa (như tạo những cộng nghiệp mới) mỗi dân tộc lại có
một sắc thái riêng (như phản ứng của cá nhân riêng rẽ đối
với những bất trắc của cuộc sống).
So đọ mà kể với không gian vô biên và thời gian vô tận thì,
những khó khăn thử thách gay go, có khi lại là những gì
đáng nên mong ước cho dân tộc chóng khôn lanh. Bởi nó
trui rèn thêm đức tính, nó giúp thêm nhiều kinh nghiệm và
nó dậy thêm nhiều hiểu biết. Chẳng hạn như mới từ 1945
đến nay, 22 năm, những biến cố dồn dập đã làm người ViệtNam khôn ra gấp mấy trăm năm trước. Và thời cuộc đi càng
nhanh, các vấn đề càng gay gắt thì phản ứng của người ta lại
càng mẫm nhuệ.
TUY NHIÊN CÓ SINH TRƯỞNG THÌ TRUYỀN
THỐNG CŨNG CÓ TỒN VONG
Nhưng từng đã có khá nhiều nền văn minh bị tàn tạ, khá
nhiều dân tộc đi dần đến tiêu vong. Ấy là khi gặp bất trắc,
tiến không biết tiến lui không biết lui, bản chất chính của
https://thuviensach.vn
mình không biết giữ, nên bị cuốn hút và hóa theo những dân
tộc văn minh lớn khác để dần dần không còn chân đứng
dưới bóng mặt trời nữa. Cũng có thể rằng trong hoàn cảnh
đen tối vẫn còn một ít người giữ được những truyền thống
cũ (như người mọi da đỏ Mỹ Châu, hay người Chàm ở Việt
Nam chẳng hạn) nhưng một vài con én không thể tạo được
mùa xuân.
Cho nên điều chúng ta thao thức băn khoăn, chiêm
nghiệm qua những tấm gương ấy, là điều rất cần trong lúc
này, nhất là trong lúc này.
SONG MUỐN TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
ĐỂ GÌN GIỮ TA CẦN TÌM Ở ĐÂU?
A.— Phải tìm ở những điều kiện thực tế về địa dư, khí
hậu, những điều kiện mà bất cứ một giống người cổ sơ, du
mục nào tình cờ đến định cư trên địa bàn ấy, cũng đều tự
nhiên phải có những đặc tính của địa bàn ấy để thích ứng và
tồn tại. Thí dụ như người Tàu ưa khạc nhổ gớm ghiếc, là do
sự quen thói của giống Bắc Phương gần sa mạc Gô Bi, gió
thổi, có lẫn cát làm cho khô cổ và vướng từ cuống họng
khiến không khạc nhổ không chịu được. Lại thí dụ như
người Ấn ưa vào rừng tọa thiền và trầm tư là vì 6 tháng
nóng của địa bàn Ấn Độ là cái nóng không thể làm cách gì
để tránh được.
Những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu vừa nói ấy, tự
nhiên có với nó những khoáng vật, thực vật, thảo mộc, sinh
vật như thế nào thì cũng tự nhiên có với nó những con
https://thuviensach.vn
người riêng biệt như thế. Dân ở hải đảo khác với dân ở
duyên hải, đồng bằng, ở sơn cước, ở sa mạc. Đó là điều ai
cũng công nhận. Nhưng phải công nhận thêm, khi đã khác
như vậy rồi, ở khởi thủy thì càng về sau dù có sự tiến hóa để
hoà đồng với nhau, người ta cũng vẫn còn phần nào cái bản
chất cố hữu.
Cho nên người ta không sợ lầm lạc khi tìm truyền thống
dân tộc trong những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu ấy.
Đó là điều mà người xưa gọi là khí thiêng sông núi. Còn
người nay thì gọi là điều kiện khách quan của hoàn cảnh địa
dư.
B.— Ngoài ra lại phải tìm những điều kiện thực tế khác ở
sự sống chung trong dòng dài lịch sử, khi vinh, khi nhục, khi
may, khi rủi, khi sướng, khi khổ, khi vui, khi buồn. Nó như
những lượn sóng thủy triều của vận hội chung mà các cá
nhân đã khó cưỡng lại nổi. Cho nên gọi là những bó thắt lịch
sử. Nó bó thắt cho đến độ thành quả hiện tại của xã hội, chỉ
có thể đến một mức tiến hoá khác; sức người dù mong muốn
hơn cũng không sao được. Ấy là điều mà người xưa gọi
công nghiệp.
Điều này dễ nhận ra khi so sánh những nước chậm tiến Á
Phi với những nước Âu Mỹ sẵn điều kiện xã hội để tiến hóa
văn minh vật chất hơn.
C.— Chúng ta tìm như thế để nhận định cái phản ứng
chung ở tiềm thức của dân tộc đối với những biến cố và để
nhận định chiều hướng cùng ước định cao độ những tư trào
https://thuviensach.vn
của các lượng sống lịch sử, mà người ta quen gọi là hằng
tính lịch sử vậy.
Hai điều trên là hai yếu tố có giá trị quy định. Điều dưới là
yếu tố có giá trị tổng kết.
Chúng ta tìm theo đường hướng này thì sẽ thấy rõ từ gốc
đến ngọn ngành. Vậy chúng ta hãy đi sâu vào chi tiết.
Địa bàn nơi gốc tổ: theo các sách sử thì địa bàn ấy của ta là ở
Phong Châu, nơi đóng đô của dòng vua Hùng Vương đầu
tiên trong lịch sử. Nhưng xét kỹ ra thì có lẽ Phong Châu chỉ
là cái gốc thứ hai. Còn gốc chính và đầu tiên phải là vùng
đồng bằng sông Mã với dẫy núi Hồng Lĩnh mới chắc đúng.
A.— Phong Châu là khu vực đồng bằng sông Nhị Hà gồm
Sơn tây, Phú thọ, Việt trì, Hưng hóa, ngoài lăng miếu cổ của
họ Hùng Vương không còn bao nhiêu di tích lịch sử quan
trọng khác.
Còn Thanh Hóa với khu vực đồng bằng sông Mã, thì đã có
hết sức nhiều di tích lịch sử. Từ những đền thờ của Thục An
Dương Vương, Triệu Ẩu, Khương công Phụ, Triệu Quang
Phục, Lê Đại Hành, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Tô hiến
Thành, Trần khát Chân,... đến thành nhà Hồ, thành Lê
Chích, phủ An Trường, Lam Kinh của nhà Lê, Đầm Tôm của
nhà Trịnh, nền nhà cũ của Nguyễn Kim,... đến những lăng
miếu của các dòng họ Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn,…
người ta phải công nhận rằng đây là nơi nhiều khí linh tú
https://thuviensach.vn
nhất trong nước, đào tạo nên những anh hùng hào kiệt, thời
nào cũng có, ngay cả thời này.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ca tụng:
“Đông liền lớn, Tây cắp rừng dài, phu lãnh thủy chặn ở phía
Nam, Núi Tam Điệp ngăn về phía Bắc. Non cao thì có Thiên tôn
và Na Cù. Sông lớn thì có Lương Mã và Ngọc Giáp. Núi sông
quanh bọc, cao thấp lẫn xen. Hội Trào và Y Bích là khóa then mặt
biển. Lôi Dương và Vĩnh Lộc là xung yếu đường trên.
Hồ Công, Bích Đào nảy ra những động Linh Kỳ, Hoàng Mỹ,
Nông cống đều là những nơi lầy lốt. Hình thế hùng tráng, các tỉnh
miền Trung không đâu sánh kịp.
Còn như Tống Sam, Quí Huyện, là nơi xương sống Càn Long.
Muôn non nghìn núi, điệp điệp trùng trùng; bốn mặt quay về, non
xanh nước sáng đầy rẫy khí thiêng. Ấy là nơi phát tường của quốc
gia ta, cùng với Lam Sơn của nhà Lê riêng nên phúc địa. Cũng
không khác gì đất Mân đất Kỳ của nhà Châu và đất Phong đất Bái
của nhà Hán vậy.”
Pierre Pasquier cũng đã có những nhận xét sau đây:
“Thanh Hóa không phải là một khu vực hành chính mà là một
Quốc thổ. Nó như một tấm kính thu nhỏ của toàn xứ Bắc. Cũng có
một vùng đồng bằng đông đúc phì nhiêu, một vùng trung du cỏ
mọc những lượn sóng và một vùng cao nguyên rừng già âm u.
Sau bờ biền hiểm trở, dọc theo những dòng sông rộng và sâu, gần
những sườn núi chỗ nào cũng có hang động và trong những
thung lũng kín đáo, giống người Việt-Nam đã tìm thấy ở đây một
https://thuviensach.vn
mảnh đất trời cho để dùng làm trạm nghỉ chân, mà trải nhiều thế
kỷ dân tộc ấy đã sửa soạn bước Nam Tiến của mình cũng sửa soạn
và tập trung lực lượng để hoàn thành vận mệnh của mình. Trong
những giờ phút thử thách của lịch sử, Thanh Hóa đối với miền
trung hơn hẳn Hà-Nội, đã là linh địa bảo tồn tất cả những kỳ vọng
của giống nòi. Từ những mảnh đất Thánh này hiện còn những hài
cốt tổ tiên các giòng vua của đất nước, đã nẩy sinh ra những vị
anh hùng hào kiệt vào hạng thượng thặng...”
Đó là nói chung về địa thế.
B.— Về phương diện khảo cổ thì người ta đã tìm thấy
trống đồng Đông Sơn tại đây lẫn với một ít tiền đồng của
đời Hán bên Tầu. Nhờ thế mà có thể định được niên đại là
trống được chế tạo ít ra cũng vào trước kỷ nguyên.
Các Hậu Hán Thư quyển 54 có chép: Mã Viện cỡi ngựa khéo
phân biệt ngựa có danh tiếng, khi đi đánh Giao Chỉ lượm được
trống đồng Lạc Việt bèn đúc làm con ngựa kiểu. Tỏ rằng người
Trung Hoa đời Tần, Hán không có trống đồng. Các đồ đồng
cũ của họ cũng không thấy có gì giống với trống đồng. Đến
cácdân tộc lân cận trong vùng Đông Á cũng không thấy có
sự chế tạo trống đồng nữa. Nó là một sản phẩm riêng biệt
của người Việt ở Đông Sơn. Cho nên di tích trống đồng là di
tích văn minh Đông Sơn, và vùng đồng bằng sông Mã phải
là gốc tổ xưa hơn vùng Phong châu ở đồng bằng sông Nhị.
C.— Về phương diện nhân chủng học, người ta thấy dân
Dayak trên đảo Bornéo ở Nam Dương cũng có những
thuyền giống như hình thuyền vẽ trên trống đồng Đông Sơn,
https://thuviensach.vn
dùng làm thuyền Bát Nhã để đưa linh hồn người chết sang
đảo Cực Lạc, và những tục lệ ma chay cũng giống như hình
vẽ trên mặt trống, thêm đồ đồng khai quật được ở Đông Sơn
cũng có quan hệ với đồ đồng ở Nam Dương. Các nhà cổ học
đã kết luận “Dân Mã Lai cùng các chủng tộc ở Đông Dương
thuộc về cùng một chủng tộc”. Và Ông L.Finot đã chủ trương:
“Những đồ đồng xưa phô bày hình ảnh một dân tộc canh nông,
săn bắn, thủy thủ thờ vật tổ mà cách ăn mặc không còn thấy ở
Đông Dương, nhưng trái lại, lại thấy trên các hải đảo Thái Bình
Dương, phải chăng chính đấy là dân tộc Indonésien mà về ngôn
ngữ chủng tộc đã từng sống trên bán đảo Đông Dương rồi bỏ bán
đảo lại cho dân mới để đi sang những quần đảo Thái Bình Dương?
Trên bán đảo Đông Dương chỉ còn lại dấu tích về ngôn ngữ cùng
phong tục mà chúng ta quên dần đi.”
Như vậy, càng là một bằng chứng có thể tin được rằng
trước khi tiếp xúc với văn minh miền Nam Trung Hoa,
người Việt Giao chỉ đã định cư tại khu vực đồng bằng sông
Mã.
D. — Khảo thêm về ngôn ngữ, ta thấy người Thanh Nghệ
Tĩnh do hoàn cảnh sinh hoạt và tính chất sinh lý đã có xu
hướng bảo thủ ngôn ngữ, họ giữ nhiều giọng xưa, âm xưa,
tiếng xưa, và tiếng nói của họ nặng nề khắc khổ, ít bị pha
trộn vì ảnh hưởng của tiếng Trung Hoa, và gần với âm
hưởng của tiếng Mường, Polynésien ngày nay còn ở vùng
núi Thanh Hóa.
https://thuviensach.vn
Kết luận: Giả thuyết mà tôi nêu ra trong sách Việt Nam
Văn Minh Sử Cương (Lá Bối xuất bản) đã có phần nào có thể
nhận được rằng:
1. Đồng bằng sông Mã là nơi tứ chiếng quần cư của nhiều
bộ lạc từ Nam Hải theo gió mùa ngược thuyền lên cũng có,
từ Bắc Hải theo gió mùa xuôi thuyền xuống cũng có, và từ
các dẫy núi cao đi lần tới cũng có nữa.
2. Khi định cư, mỗi bộ lạc chiếm một hay nhiều hang động
thiên nhiên, hiện nay vẫn còn lại rất nhiều, rồi lai giống với
nhau, tranh giành nhau quyền lợi, xung đột với nhau.
3. Nhóm bộ lạc yếu thế chạy rút về phía bắc đến vùng
đồng bằng sông Nhị ở Phong châu định cư, và được một nơi
an toàn đề lập quốc, vì đường từ biển vào khó đi thuyền,
đường từ vùng sông Mã lên phải qua núi qua sông và rừng
rất nhiều.
4. Nhóm bộ lạc mạnh thế ở lại chỗ cũ, nhưng luôn luôn bị
giặc bể vào cướp phá nên thiếu hẳn điều kiện để phát triển
cho có bề thế của một quốc gia.
Bởi những lẽ ấy, chúng ta cần nhận định dứt khoát không
nên có một ý tự tôn quá đáng, trong việc này, để tìm truyền
thống của một dân tộc hùng cường, hiếu chiến, thích đánh
đông dẹp bắc, thích xâm lăng các nước láng giềng. Mà
ngược lại, sự thực dân tộc ta chỉ là một dân yếu đuối, và chỉ
thích sống hòa bình yên ổn với xung quanh.
https://thuviensach.vn
Đây là một giống dân lai nhiều giòng máu. Nhờ lai nên
khôn, không cố chấp, và lúc nào cũng sẵn sàng dung hòa
quyền lợi với mọi người để mềm mỏng tiếp nhận mọi ảnh
hưởng văn minh mà tiến hóa. Đó là điều mà lịch sử đã có rất
nhiều sự kiện để minh chứng. Ta sẽ xét sau. Đây hãy nói về
hoàn cảnh dịa dư của hai nơi phát nguyên ấy.
HOÀN CẢNH ĐỊA DƯ
Hồi cách đây khoảng ba bốn ngàn năm, ta nhớ rằng đồng
bằng sông Mã và sông Nhị chưa được bồi xa đến như ngày
nay, Các hang động núi non ở Thanh Hóa vốn xưa là những
hải đảo hay bán đảo và biển đông còn lênh láng tới Việt Trì
bây giờ.
A.— Đất để trồng trọt cầy cấy còn hiếm hoi lắm. Nhất là ở
sông Mã chỉ thuận tiện cho việc chài lưới, đi biển, cùng tiện
cho các thuyền ngược xuôi ngoài biển ghé vào. Hoặc để mua
các thổ sản, như dưa hấu của An Tiêm (mà hiện hãy còn bãi
An Tiêm) hoặc để bán các hải sản, hoặc nữa để cướpbóc
đánh phá. Bất cứ một vùng duyên hải và hải khấu nào ở thời
xưa cũng đều phải chịu đựng cảnh ngộ ấy. Bởi thuyền đi
lênh đênh ngoài biển mà thiếu lương thực thì người không
muốn ăn cướp cũng thành hải khấu, nếu lại không mua
được lương thực của người trên bờ. Và người trên bờ vì lẽ
không dư dật, cũng phải chiến đấu dữ dội để bảo vệ lương
thực và tài sản của mình.
Do đó mà người ở vùng Hồng Lĩnh, sông Mã đã có tinh
thần chiến đấu bền bỉ để truyền thống còn mãi đến ngày
https://thuviensach.vn
nay.
Những hang động rất nhiều: Hồ Công, Từ Thức, Kim Sơn,
Hàm Rồng, Lục Vân, Long Quang... cùng với các núi đủ
kiểu, đủ tên gọi, tới bẩy mươi ba ngọn với đường vào ra hết
sức hiểm trở, xen lẫn với rừng già suối nước, thác ghềnh,
hiện vẫn còn lại để chứng thực những trận chiến ghê hồn đã
có thể diễn ra tại đây, trong thời quá khứ xa xưa.
Thêm ngoài biển lại có những xoáy nước mà nguy hiểm
nhất là của thần phù, đã làm cho người ta sợ hãi cho đến tận
hồi gần đây với câu ca dao : “Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm”. Cửa bể ấy hẳn đã đánh đắm
nhiều thuyền bè và dìm sâu nhiều sinh mạng của dân định
cư địa phương cũng có, mà dân ngoài muốn tấp vào bờ cũng
có.
Ta thấy người xưa ở đây từng phải chiến đấu vừa với kẻ
thù nghịch, vừa với thiên nhiên, lại vừa với thú dữ, nên bảo
rằng khí thiêng sông núi ở đây đã tạo nên nhiều anh hùng
hào kiệt thì sợ có người cho là nói mơ hồ, chứ thực thì hoàn
cảnh địa dư ấy nhất định phải làm nảy sinh những nhân vật
ấy để thích ứng và tồn tại.
B.— Còn vùng đồng bằng sông Nhị, căn cứ mới của nền
văn minh nông nghiệp Văn Lang ở Phong Châu, thì tuy hồi
ấy cũng là khu đất ven biển, cũng có nhiều núi non, nhưng
không hùng vĩ bằng vùng sông Mã, lại có ruộng đất nhiều
để trồng trọt cầy cấy hơn. Đường đi từ biển sâu vào lầy lội
rất khó đi vì phù sa bồi đắp. Khi nước triều lên thì lênh láng
https://thuviensach.vn
khắp cả không biết chỗ nào nông sâu để đi vào. Khi nước rút
thì các cây xú cây bần (giống cây mọc ở vùng nước mặn) sẽ
trồi cả lên. Đó chính là những phòng ngự thiên nhiên chống
với giặc biển muốn xông vào cướp phá. Phần những bộ lạc
thù nghịch ở phía Nam cũng không vượt núi băng rừng để
tới tận đấy làm gì. Phần những bộ lạc khác ở rừng núi phía
Bắc cũng còn thưa thớt. Nhờ vậy mà khu vực Phong Châu
thành khu vực an toàn để lập quốc, và con người sống yên
ổn nhàn hạ, nhũn nhặn với nghề nông trong những thời gian
hết sức dài.
Đất phù sa càng bồi thêm thì ruộng đồng càng mở rộng
dần để đời sống càng sung túc. Con người không lúc nào
phải chiến đấu chống thiên nhiên cả. Họ chưa có kỹ thuật
ngăn nước mặn và rửa đất phèn để mở rộng đất canh tác ra
thật nhanh, nên cả khu vực đất tân bồi còn lầy lội và nhiều
hơi độc, vẫn bị bỏ hoang[1].
Nhưng khu vực đất đã thuộc, vẫn dư sức cung cấp lương
thực nuôi một số dân chưa lấy gì làm đông đảo quá.
Sợ rằng, ở hồi đầu này, kỹ thuật canh tác cũng chỉ mới là
lối trồng lúa tỉa mà người miền Thượng còn giữ để trồng ở
các sườn đồi. Cho tới khi có đoàn người miền Nam Trung
Hoa tràn tới, mang theo một kỹ thuật canh tác tiến bộ hơn,
thì bấy giờ mới có việc cầy ruộng và cấy lúa.
Mặc dầu vậy, dưới sự ưu đãi của thiên nhiên, người Giao
Chỉ Văn Lang vẫn đã rất an nhàn sung sướng để sẵn sàng
sống rất cởi mở với hết thảy mọi giống dân khác.
https://thuviensach.vn
KHÍ HẬU
Khí hậu bốn mùa rõ rệt, nói chung là dễ chịu.
— Mùa xuân thì ấm áp hơi lạnh về đêm, còn suốt ngày dịu
mát Mặt trời không nắng gắt lắm. Thỉnh thoảng loe ra vào
buổi trưa một lúc rồi lại có mây mờ dầy đặc che phủ. Ngày
có gió nồm đầy hơi nước từ miền Nam tới thì không khí ẩm
ướt. Ngày có gió bấc nối tiếp mùa đông từ một chạp thì khô
và lạnh làm cho nẻ mặt và xước măng dô ở ngón tay. Mưa
lất phất không đủ ướt đất, tưới nhẹ cho cây cối. Trong khi
đất ruộng khô nứt ra, vì từ tháng mười không còn những
trận mưa lớn, lại qua một mùa đông lạnh gió hút hết hơi
nước trên mặt đất.
Cây cối ra hoa và lá non. Nhưng ruộng đồng nứt nẻ thì
đành chịu, không cầy và đập đất mệt nhọc quá được, nên
không cấy được vụ chiêm.
Vì vậy bắt buộc “tháng giêng phải là tháng ăn chơi”. Người
siêng năng mấy cũng chỉ cuốc và đập đất ở những mảnh
ruộng nhỏ để trồng đậu, trồng khoai, trồng cà về tháng hai.
— Mùa hạ bẳt đầu khoảng giữa tháng tư. Trời ít mây. Mặt
trời le lói từ sáng đến trưa thì nắng gắt, và càng về chiều
nắng xiên khoai lại càng khó chịu. Trời oi ả, thỉnh thoảng
mới được một ngọn gió nam mát mẻ còn thường gió tây
nóng bức hầm hập như trong lò lửa. Nhưng cách vài ngày
thì lại có mây đen với mưa rào thật là nhiều nước, ngập các
ruộng đồng cho đất mềm ra. Để: “tháng tư đi tậu trâu bò, để ta
https://thuviensach.vn
sắp sửa làm mùa tháng năm” ấy là vì không có mưa rào đất
không mềm thì không cầy được.
Nhưng vì mưa bất thần, điều kiện thì giờ làm việc đồng
áng phải từ hết sức sớm, để khi mặt trời lên khỏi ngọn tre là
nghỉ, rồi đến chiều tà nhạt nắng xiên khoi, mới lại làm cho
đến tối. Nên ruộng đồng bắt buộc phải gần nhà, chỉ chu vi
ba bốn cây số là nhiều, thêm phải có cái quán giữa đồng hay
cây đa để trú mưa và nghỉ trưa. Nên văn minh nông nghiệp
của người Giao Chỉ Văn Lang, có cái quán giữa đồng, cái cây
đa đầu làng ấy là một đặc điểm vậy.
— Mùa thu vào khoảng cuối tháng bẩy với những trận
mưa ngâu tầm tã, không lớn nhiều nhưng dai dẳng đến nửa
ngày có khi cả ngày để sau đó thì trời dịu mát và thỉnh
thoảng có những trận mưa nhỏ nhỏ là mùa rươi.
Ngày thì trời quang, đêm thì trăng sáng. Nhất là vào rằm
tháng tám, trời không có một vẩn mây, trăng sáng rực như
ban ngày. Vào dịp này người ta gọi “Tháng ba ngày tám” là
những ngày mà nhà nông rảnh rang công việc đồng áng, chỉ
ngồi nhà thảnh thơi chờ lúa chín thì gặt, người ta chơi tết
Trung Thu. Nhưng cũng vẫn phải lo sợ nước lũ từ trên
nguồn trên về làm ngập lụt mất mùa, hay những cơn bão
làm đổ cửa đổ nhà.
Qua mùa đông, gặt hái rồi thì mới chắc dạ. Mùa đông bắt
đầu khoảng cuối tháng mười, hết mưa lớn, nhưng thỉnh
thoảng có mưa phùn. Nắng nhạt không gay gắt nhưng hanh,
https://thuviensach.vn
vì gió bắc không mang hơi nước lại. Đất ruộng sau vụ gặt
khô và nứt nẻ dần. Nước sông ngòi cũng cạn dần.
Công việc của nhà nông chỉ còn là gặt lúa, mang về nhà
đập và phơi rồi cất lúa vào bồ và nghỉ ngơi, sửa soạn ăn tết
và đón xuân, mà bắt đầu lại một vòng tuần hoàn như cũ.
Tuy có rét lạnh, nhưng thường cũng khoảng lạnh nhất là 7,
8 độ trên không độ mà nóng thì cũng độ 30 - 32 độ không
đến nỗi lạnh quá hay nóng quá không chịu nổi.
Khí hận ấy, cùng với điều kiện làm việc như đã kể, đã
khiến người Giao chỉ Văn lang sống định cư thành làng, ở
giữa một vùng đồng ruộng khoảng ba bốn cây số là nhiều,
nếu phải du canh theo lối diện tích đất ruộng mở rộng thêm
của phù sa bồi đắp, thì người ta cũng du canh đến đặt một
cái làng mới vào giữa khu đất ruộng ấy.
Cái làng với tổ chức của nó chính là một đặc điể...
TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Tác giả: Lê Văn Siêu
Nhà xuất bản: Hoàng Đông Phương
Năm xuất bản: 1968.
Giấy phép XB: 1/623/BTT/NT/NHK.
Loại thể: Lịch sử.
Số trang: 158.
Những người tham gia:
- Nguồn sách: @Nguyễn Thanh Tuấn
- Scan, OCR: @Nguyễn Thanh Tuấn
- Soát lỗi, biên tập và hiệu đính: @teacher.anh
- Soát lỗi lần 2: @Lười Đọc Sách
- Tạo eBook: @tamchec
Ngày hoàn thành: 15/06/2016
https://thuviensach.vn
Mục lục
VỀ TÁC GIẢ
THAY LỜI DẪN
QUAN NIỆM NHÂN SINH
1. SỐNG LÀ CHỊU ĐỰNG
2. SỐNG LÀ SỬA SOẠN CHO CÁI CHẾT
3. PHÚC VÀ ĐỨC
4. ĐỜI SỐNG TÌNH NGHĨA
5. NHÀ Ở
6. CUỘC SỐNG THANH THẢN
7. ĐỜI SỐNG GIẢN DỊ
8. TRIỂN VỌNG
https://thuviensach.vn
VỀ TÁC GIẢ
Lê Văn Siêu là Nhà văn, nhà báo, sinh năm 1911 ở thành
phố Hà Nội, có sách ghi năm sinh ông 1912.
Thuở nhỏ học ở Hà Nội, tốt nghiệp trường Công nghệ
thực hành ở Hải Phòng, năm 1932 làm việc tại sở công chánh
Hà Nội (Đốc công nhà máy gạch Đáp Cầu). Những năm 40
cộng tác với nhóm Hàn Thuyên của Nguyễn Đức Quỳnh,
cùng Trương Tửu, Đặng Thái Mai... Viết báo Tiếng Trẻ và
một số sách về thanh niên và thực nghiệp do nhà Hàn
Thuyên xuất bản trước Thế chiến II. Năm 1934 - 1936 làm
chánh văn phòng nghiên cứu kĩ thuật Sở Hỏa xa Hồ Nam Quảng Tây (TQ).
Khoảng các năm 1938-1944 ông chuyển về làm việc ở sở
công chánh Hà Nội. Thời gian này ông hợp tác chặt chẽ với
nhóm Hàn Thuyên viết các loại sách Tân văn hóa, giữ chức
trưởng ban khánh tiết Hội truyền bá quốc ngữ Hải Phòng.
Sau toàn quốc kháng chiến, tản cư ra vùng Tự do tham gia
Hội đồng chuyên môn sản xuất kĩ nghệ ở liên khu III... Năm
1947 bị Pháp hành quân bắt về Hà Nội. Năm 1949 chuyển
vào sống ở Sài Gòn với nghề thầu khoán, đến năm 1952 ông
làm chủ bút báo Mới của Phan Văn Tươi, rồi tuần báo
Phương Đông cho đến hiệp định Genève. Từ năm 1959 chủ
bút các báo Cách mạng Quốc gia, nguyệt san Sáng dội Miền
https://thuviensach.vn
Nam. Năm 1967 ông được mời dạy một số giờ tại Đại học
Vạn Hạnh, Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm ở Sài Gòn...
Ông mất năm 1995 tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
Minh.
Tác phẩm
Các tác phẩm chính đã xuất bản:
Hợp lí hóa Taylor (Hàn Thuyên, 1940).
Thanh niên và thực nghiệp (Hàn Thuyên, 1940)
Luân lí và thực nghiệp (nt, 1941)
Tương lai kĩ nghệ Việt Nam (nt, 1942)
Học để làm gì? (1957)
Văn minh Việt Nam (1954, Sài Gòn)
Nguồn gốc văn học (Thế giới, 1956 Sài Gòn)
Tân Xuân tùy bút (Nguyễn Đình Vượng, 1960)
Giai nhân kì ngộ (Phan Châu Trinh, chú thích, 1958 Sài
Gòn)
Văn học đời Lý (1957, Sài Gòn)
Nếp sống tình cảm của người Việt Nam (1955, Sài Gòn)
Việt Nam văn minh sử cương (1967)
https://thuviensach.vn
Quốc sư Vạn Hạnh (kịch, 1967)
Văn học sử thời kháng Pháp (1973, Sài Gòn)
Sửa đổi lề lối làm việc (1958)
Việt Nam văn minh sử lược khảo (1972)
Truyền thống dân tộc (1968)
EBook này sẽ được thực hiện nhằm chia sẻ, phục vụ cộng
đồng, góp phần nhỏ trong việc nâng cao dân trí, thúc đẩy
văn hóa Đọc cho các bạn không có điều kiện mua sách giấy.
Khi bạn có khả năng, hãy mua sách giấy để ủng hộ tác giả
và Nhà xuất bản!
Xin chân thành cảm ơn bạn @Nguyễn Thanh Tuấn đã chia
sẻ một nguồn sách quý.
Do chúng tôi chưa thể liên hệ được với gia đình tác giả để
xin phép nên rất mong gia đình tác giả và bạn đọc thông
cảm.
Cảm ơn các bạn đọc, những người giúp chúng tôi có động
lực thực hiện số hóa cuốn sách này.
https://thuviensach.vn
THAY LỜI DẪN
CUỘC ĐÀM ĐẠO VỀ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Tại trường Thanh Niên Phụng sự xã hội.
Thưa quý bạn.
Câu chuyện tôi nói với quý bạn hôm nay chắc sẽ dài.
Không dài sao được khi đề cập đến những truyền thống của
cả một dân tộc đã có gần năm ngàn năm lịch sử?
Tôi biết rằng quý bạn sẽ không xem xét vấn đề này theo
con mắt của những nhà khảo cứu văn hóa. Mà sẽ chỉ cần biết
những đặc tính cố hữu của nhân dân, để mai mốt đây có dịp
tiếp xúc với nhân dân thì quý bạn không đến nỗi ngỡ ngàng
như những người ngoại quốc, và công tác phụng sự xã hội
của quý bạn mới có hy vọng nào chắc chắn thành công.
Nhưng cũng bởi ý muốn của quý bạn là như thế, nên tôi
lại thấy cần phải trình bầy vấn đề cho thật giản dị và khúc
chiết để không có gì ngộ nhận được nữa. Hễ ngộ nhận thì lạc
đường. Hễ lạc đường thì thất bại và tai hại.
KHÔNG THỂ TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
Ở NHỮNG VẬT THỂ THUỘC HÌNH THỨC
Chẳng hạn như người Việt mình xưa, đàn ông nho sĩ thì
để móng tay dài uốn cong lên, lưa thưa vài sợi râu ở cầm và
https://thuviensach.vn
mép, đầu búi tóc, quấn khăn, còn đàn bà thì răng đen, chít
khăn, tóc để đuôi gà, vận áo tứ thân mầu nâu non, vá vai, lại
mặc yếm và váy.
Nếu bảo rằng Y phục ấy ở hình thức là truyền thống rồi,
thì hết thảy người mình hiện nay đã xa lìa truyền thống rồi
hay sao? Vả chăng đã lấy đâu làm chắc những y phục trang
phục ấy đã hoàn toàn là của mình từ nguồn gốc, khi nhớ lại
rằng từ đời Minh (đầu thế kỷ XV) kẻ giặc mạnh đã từng bắt
người mình phải ăn vận theo họ. Và nếu chịu khó tìm tòi
đến tận hồi không bị ảnh hưởng ngoại lai, thì y phục cũ của
chúng ta phải là y phục thiên nhiên mới đúng, như hết thảy
mọi giống dân khác.
Lại chẳng hạn như những món ăn uống: miếng trầu, điếu
thuốc lào, chén nước mắm, bát phở, mắm cá, mắm tôm v.v...
có thể rằng gần như cả toàn dân tộc đã quen giọng để nhìn
nhận những món ấy là ngon, là thú. Nhưng không thể nói
đùa dai để người ta tưởng thật rằng đấy là dân tộc tính, đấy
là cái gì bất biến trong thị hiếu của người Việt Nam. Bởi có
nhiều món, nhiều địa phương và nhiều người không dùng.
Chẳng lẽ dân tộc tính lại không có ở địa phương và những
người ấy. Huống chi các món ăn uống không phải có người
Việt Nam trên trái đất này là có liền ngay theo thể cách mà ta
thấy. Nó đã được hình thành qua rất lâu đời và chịu cũng đã
rất nhiều ảnh hưởng. Nó thực là nguyên nhân để uốn nắn thị
hiếu nhưng nó vẫn là kết quả của thị hiếu nữa. Giá trị của nó
là những gì lạ miệng để giới thiệu cho những du khách. Còn
nói rằng nó là dân tộc tính, ấy là nói đùa, và đùa trong khi
https://thuviensach.vn
người ta thao thức đi tìm truyền thống dân tộc, ấy là đùa
mỉa.
Quan trọng hơn nữa là nhà ở. Nhà ở có biểu thị một lề thói
sống chung của đông đảo nhân dân, cả về vật chất lẫn tinh
thần và tâm linh, biểu thị một khả năng kỹ thuật, kinh tế, xã
hội, và biểu thị cả những ước vọng của người ta nữa. Nó là
cái áo của một gia đình, áo dùng cho tất cả 4 mùa và thật lâu
dài, năm này qua năm khác, dùng cho tất cả mọi người, già
trẻ lớn bé, cả sống và chết nữa, dùng cả ban ngày lẫn ban
đêm, cả ngày thường lẫn ngày giỗ Tết, vừa bền bỉ, vừa cần
đẹp mắt, vừa cần thoải mái. Tất nhiên nó chứa đựng trong
nó cả một kho tàng đặc tính dân tộc.
Nhưng bởi cuộc sống trong dòng dài lịch sử có chịu nhiều
ảnh hưởng ngoại lai, mà cái nhà lại trực tiếp chịu đựng
nhiều hơn và trước hơn cái gì khác, nên khó mà phân biệt
nổi những đặc tính cá biệt nào của mình trong một bộ phận
nào của cái nhà.
Vả chăng, như hiện nay, có thiếu gì người không ở trong
những nhà kiểu cũ nữa. Liệu dễ thường họ không còn dân
tộc tính trong người sao? Và mai mốt đây có thể kỹ thuật đồ
nhựa thay thế được đồ gỗ, đồ sắt, cái nhà có thể sẽ khoác
một hình thức khác hẳn đi, thì liệu lúc ấy mình sẽ hết dân
tộc tính chăng?
Thưa quý bạn.
https://thuviensach.vn
Đặc tính dân tộc có thấm nhuần những vật thể, nhưng
không phải là chỉ căn cứ vào những vật thể ấy mà thấy ra
được toàn bộ đặc tính ấy. Nó là những giòng máu chu lưu
dưới nhiều lớp da. Nó là luồng nhựa sống vận hành trong
não tủy. Tuỳ lúc và tuỳ hoàn cảnh mà nó biểu hiện ra theo
chiều thuận hay chiều nghịch, biểu hiện ra một phần hay
toàn bộ và biểu hiện ra với người này hay với người khác.
Cho nên, tìm hiểu truyền thống dân tộc là tìm hiểu một cái
gì tinh tế hết sức, ở phạm vi tinh thần nhiều hơn.
NHƯNG TA CŨNG KHÔNG THỂ THẤY RÕ NÓ QUA
SỰ NGHIÊN CỨU TẬP QUÁN PHONG TỤC.
Phong tục tập quán là ước lệ của cuộc sống chung trong
cùng một hoàn cảnh lịch sử và địa dư, hễ hoàn cảnh đổi thì
phong tục tập quán cũng không còn giữ được nguyên chất
nữa. Thí dụ tục chơi múa lân vào rằm tháng tám ở miền Bắc,
không mưa, trời đẹp, trăng sáng, chuyển vào miền nam, gặp
tháng tám mưa nhiều đã không còn trò múa lân nữa, mà đến
dịp tết Nguyên đán mới có. Lại thí dụ tục để của gia tài cho
con, ở Bắc và ở Trung thì tất cả cho người con trưởng để gìn
giữ ngôi nhà thờ họ, đời này qua đời khác. Người Việt vào
đến miền Nam đất rộng người thưa phải mong cho con
chóng lớn, lấy vợ cho, rồi cho ở riêng liền, để chiếm mau lấy
ruộng đất, người ta giải quyết dần từng đứa con một như
thế, đến đứa con út thì cho được hưởng nhà đất mà cha mẹ
già để lại. Và đứa con út ấy muốn giữ thì giữ, muốn bán thì
bán. Việc cúng giỗ mỗi con giữ giỗ một người quá cố và
https://thuviensach.vn
cúng tại nhà mình. Không còn ngôi nhà thờ họ đến mấy thế
hệ người như ở miền Bắc và Trung nữa.
Nhưng không thể vì tục lệ khác ấy mà cho rằng không còn
truyền thống dân tộc ở miền Nam.
Giả dĩ, ngay cả những thể chế chính trị khác hẳn trước để
uốn nắn sự sống của con người như ở miền Bắc hiện nay,
cho là uốn nắn được thực nhiều thế hệ, cũng không thể vì
thế mà bảo rằng truyền thống dân tộc không còn chảy trong
giòng máu của người dân Việt miền Bắc nữa. Bởi bản chất
của người được tạo thành do nhiều yếu tố vật chất, tình cảm
tinh thần, của cả một quá khứ dài dặc, trong hoàn cảnh thiên
nhiên và xã hội có cùng, thông, biến, hóa như để luyện cho
tinh thục cái năng khiếu và phản ứng ở tiềm thức, khiến sự
sống càng bộn bàng, phức tập, gay go, nguy hiểm, thì tinh
thần thích ứng lại càng linh động mẫn tiệp.
Cũng như đối trước tình cảnh xã hội hỗn tạp hiện nay ở
miền Nam, nào là ảnh hưởng của phim ảnh, của cuộc sống
vội vàng trong thời chiến, nào là ảnh hưởng của sự thèm
khát nhu yếu vật chất, thèm khát thỏa mãn dục vọng khiến
nảy ra những tục lệ mới làm đảo lộn hết các giá trị tinh thần.
Ai trông thấy mà chẳng đau lòng muốn khóc lên là truyền
thống dân tộc chạy trốn đâu mất rồi? Nhưng tôi tưởng
chúng ta vẫn có thể vững tâm, vì truyền thống dân tộc thực
quả không phải chỉ là những gì hời hợt ở bề ngoài dễ trông
thấy.
★
https://thuviensach.vn
NGAY CẢ NGÔN NGỮ CŨNG KHÔNG DÙNG LÀM
CĂN CỨ ĐƯỢC ĐỂ TÌM TÒI
Ngôn ngữ là phương cách biểu thị tâm tình, ý chí tinh thần
của con người và của dân tộc, tinh tế lắm, với năng lực giáo
hóa của nó cũng hiệu quả lắm, cho đến đỗi người Do Thái
hồi tiền chiến vẫn nói rằng: “chúng tôi tuy không có nước,
nhưng chúng tôi còn tiếng nói thì còn dân tộc và rồi dân tộc
chúng tôi sẽ trở về nước tổ”. Việc ấy quả nhiên đúng, cũng
như Trung Hoa đô hộ ta cả ngàn năm để lỏng lẻo không
đồng hóa được tiếng nói, mà khi ta có dịp bứt xiềng đô hộ
thì ta lại vẫn là một nước riêng biệt.
Tuy vậy, ngôn ngữ chỉ nên kể là một yếu tố quan trọng
chứa đựng và chuyên chở truyền thống dân tộc, mà không
nên nhìn nó đã là truyền thống dân tộc.
Vì cả những hình ảnh trong ngôn ngữ, những lối nói, lối
nghĩ những ca dao, đồng dao, tục ngữ cách ngôn, cả những
ngữ pháp, những tiếng tân tạo (bởi là sinh ngữ) cũng uyển
chuyển chịu ảnh hưởng qua lại của ngoại ngữ cả về tiếng lẫn
ngữ pháp, lẫn cách hành văn. Một người vào lớp Phạm
Quỳnh chết đi năm 1920 bây giờ 1967 có sống lại, chưa chắc
đã nghe hiểu nổi 7 phần 10 câu chuyện của người đương
thời nói. Nếu người ấy bảo rằng: ồ, bây giờ ta mất gốc rồi,
hết truyền thống dân tộc rồi thì chẳng hóa ra oan lắm hay
sao? Mà ngược lại những người cứ lôi mớ ca dao tục ngữ ra
mổ xẻ để khai thác tìm truyền thống dân tộc thì chẳng hóa ra
không sợ mang tiếng là làm chuyện hồ đồ hay sao?
https://thuviensach.vn
TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC LÀ CÁI BẢN CHẤT
NGƯỜI RIÊNG BIỆT CỦA DÂN TỘC CÓ SINH
TRƯỞNG TIẾN HÓA
Trên những thồ ngơi khí hậu (nói chung là hoàn cảnh địa
dư) trong những điều kiện sống chung của mọi bước thăng
trầm may rủi (nói chung là hoàn cảnh lịch sử), sự chịu đựng
những hoàn cảnh (như những cộng nghiệp cũ) của cả dân
tộc để vật lộn, thích ứng, chống chọi, dung hòa mà sống và
tiến hóa (như tạo những cộng nghiệp mới) mỗi dân tộc lại có
một sắc thái riêng (như phản ứng của cá nhân riêng rẽ đối
với những bất trắc của cuộc sống).
So đọ mà kể với không gian vô biên và thời gian vô tận thì,
những khó khăn thử thách gay go, có khi lại là những gì
đáng nên mong ước cho dân tộc chóng khôn lanh. Bởi nó
trui rèn thêm đức tính, nó giúp thêm nhiều kinh nghiệm và
nó dậy thêm nhiều hiểu biết. Chẳng hạn như mới từ 1945
đến nay, 22 năm, những biến cố dồn dập đã làm người ViệtNam khôn ra gấp mấy trăm năm trước. Và thời cuộc đi càng
nhanh, các vấn đề càng gay gắt thì phản ứng của người ta lại
càng mẫm nhuệ.
TUY NHIÊN CÓ SINH TRƯỞNG THÌ TRUYỀN
THỐNG CŨNG CÓ TỒN VONG
Nhưng từng đã có khá nhiều nền văn minh bị tàn tạ, khá
nhiều dân tộc đi dần đến tiêu vong. Ấy là khi gặp bất trắc,
tiến không biết tiến lui không biết lui, bản chất chính của
https://thuviensach.vn
mình không biết giữ, nên bị cuốn hút và hóa theo những dân
tộc văn minh lớn khác để dần dần không còn chân đứng
dưới bóng mặt trời nữa. Cũng có thể rằng trong hoàn cảnh
đen tối vẫn còn một ít người giữ được những truyền thống
cũ (như người mọi da đỏ Mỹ Châu, hay người Chàm ở Việt
Nam chẳng hạn) nhưng một vài con én không thể tạo được
mùa xuân.
Cho nên điều chúng ta thao thức băn khoăn, chiêm
nghiệm qua những tấm gương ấy, là điều rất cần trong lúc
này, nhất là trong lúc này.
SONG MUỐN TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
ĐỂ GÌN GIỮ TA CẦN TÌM Ở ĐÂU?
A.— Phải tìm ở những điều kiện thực tế về địa dư, khí
hậu, những điều kiện mà bất cứ một giống người cổ sơ, du
mục nào tình cờ đến định cư trên địa bàn ấy, cũng đều tự
nhiên phải có những đặc tính của địa bàn ấy để thích ứng và
tồn tại. Thí dụ như người Tàu ưa khạc nhổ gớm ghiếc, là do
sự quen thói của giống Bắc Phương gần sa mạc Gô Bi, gió
thổi, có lẫn cát làm cho khô cổ và vướng từ cuống họng
khiến không khạc nhổ không chịu được. Lại thí dụ như
người Ấn ưa vào rừng tọa thiền và trầm tư là vì 6 tháng
nóng của địa bàn Ấn Độ là cái nóng không thể làm cách gì
để tránh được.
Những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu vừa nói ấy, tự
nhiên có với nó những khoáng vật, thực vật, thảo mộc, sinh
vật như thế nào thì cũng tự nhiên có với nó những con
https://thuviensach.vn
người riêng biệt như thế. Dân ở hải đảo khác với dân ở
duyên hải, đồng bằng, ở sơn cước, ở sa mạc. Đó là điều ai
cũng công nhận. Nhưng phải công nhận thêm, khi đã khác
như vậy rồi, ở khởi thủy thì càng về sau dù có sự tiến hóa để
hoà đồng với nhau, người ta cũng vẫn còn phần nào cái bản
chất cố hữu.
Cho nên người ta không sợ lầm lạc khi tìm truyền thống
dân tộc trong những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu ấy.
Đó là điều mà người xưa gọi là khí thiêng sông núi. Còn
người nay thì gọi là điều kiện khách quan của hoàn cảnh địa
dư.
B.— Ngoài ra lại phải tìm những điều kiện thực tế khác ở
sự sống chung trong dòng dài lịch sử, khi vinh, khi nhục, khi
may, khi rủi, khi sướng, khi khổ, khi vui, khi buồn. Nó như
những lượn sóng thủy triều của vận hội chung mà các cá
nhân đã khó cưỡng lại nổi. Cho nên gọi là những bó thắt lịch
sử. Nó bó thắt cho đến độ thành quả hiện tại của xã hội, chỉ
có thể đến một mức tiến hoá khác; sức người dù mong muốn
hơn cũng không sao được. Ấy là điều mà người xưa gọi
công nghiệp.
Điều này dễ nhận ra khi so sánh những nước chậm tiến Á
Phi với những nước Âu Mỹ sẵn điều kiện xã hội để tiến hóa
văn minh vật chất hơn.
C.— Chúng ta tìm như thế để nhận định cái phản ứng
chung ở tiềm thức của dân tộc đối với những biến cố và để
nhận định chiều hướng cùng ước định cao độ những tư trào
https://thuviensach.vn
của các lượng sống lịch sử, mà người ta quen gọi là hằng
tính lịch sử vậy.
Hai điều trên là hai yếu tố có giá trị quy định. Điều dưới là
yếu tố có giá trị tổng kết.
Chúng ta tìm theo đường hướng này thì sẽ thấy rõ từ gốc
đến ngọn ngành. Vậy chúng ta hãy đi sâu vào chi tiết.
Địa bàn nơi gốc tổ: theo các sách sử thì địa bàn ấy của ta là ở
Phong Châu, nơi đóng đô của dòng vua Hùng Vương đầu
tiên trong lịch sử. Nhưng xét kỹ ra thì có lẽ Phong Châu chỉ
là cái gốc thứ hai. Còn gốc chính và đầu tiên phải là vùng
đồng bằng sông Mã với dẫy núi Hồng Lĩnh mới chắc đúng.
A.— Phong Châu là khu vực đồng bằng sông Nhị Hà gồm
Sơn tây, Phú thọ, Việt trì, Hưng hóa, ngoài lăng miếu cổ của
họ Hùng Vương không còn bao nhiêu di tích lịch sử quan
trọng khác.
Còn Thanh Hóa với khu vực đồng bằng sông Mã, thì đã có
hết sức nhiều di tích lịch sử. Từ những đền thờ của Thục An
Dương Vương, Triệu Ẩu, Khương công Phụ, Triệu Quang
Phục, Lê Đại Hành, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Tô hiến
Thành, Trần khát Chân,... đến thành nhà Hồ, thành Lê
Chích, phủ An Trường, Lam Kinh của nhà Lê, Đầm Tôm của
nhà Trịnh, nền nhà cũ của Nguyễn Kim,... đến những lăng
miếu của các dòng họ Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn,…
người ta phải công nhận rằng đây là nơi nhiều khí linh tú
https://thuviensach.vn
nhất trong nước, đào tạo nên những anh hùng hào kiệt, thời
nào cũng có, ngay cả thời này.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ca tụng:
“Đông liền lớn, Tây cắp rừng dài, phu lãnh thủy chặn ở phía
Nam, Núi Tam Điệp ngăn về phía Bắc. Non cao thì có Thiên tôn
và Na Cù. Sông lớn thì có Lương Mã và Ngọc Giáp. Núi sông
quanh bọc, cao thấp lẫn xen. Hội Trào và Y Bích là khóa then mặt
biển. Lôi Dương và Vĩnh Lộc là xung yếu đường trên.
Hồ Công, Bích Đào nảy ra những động Linh Kỳ, Hoàng Mỹ,
Nông cống đều là những nơi lầy lốt. Hình thế hùng tráng, các tỉnh
miền Trung không đâu sánh kịp.
Còn như Tống Sam, Quí Huyện, là nơi xương sống Càn Long.
Muôn non nghìn núi, điệp điệp trùng trùng; bốn mặt quay về, non
xanh nước sáng đầy rẫy khí thiêng. Ấy là nơi phát tường của quốc
gia ta, cùng với Lam Sơn của nhà Lê riêng nên phúc địa. Cũng
không khác gì đất Mân đất Kỳ của nhà Châu và đất Phong đất Bái
của nhà Hán vậy.”
Pierre Pasquier cũng đã có những nhận xét sau đây:
“Thanh Hóa không phải là một khu vực hành chính mà là một
Quốc thổ. Nó như một tấm kính thu nhỏ của toàn xứ Bắc. Cũng có
một vùng đồng bằng đông đúc phì nhiêu, một vùng trung du cỏ
mọc những lượn sóng và một vùng cao nguyên rừng già âm u.
Sau bờ biền hiểm trở, dọc theo những dòng sông rộng và sâu, gần
những sườn núi chỗ nào cũng có hang động và trong những
thung lũng kín đáo, giống người Việt-Nam đã tìm thấy ở đây một
https://thuviensach.vn
mảnh đất trời cho để dùng làm trạm nghỉ chân, mà trải nhiều thế
kỷ dân tộc ấy đã sửa soạn bước Nam Tiến của mình cũng sửa soạn
và tập trung lực lượng để hoàn thành vận mệnh của mình. Trong
những giờ phút thử thách của lịch sử, Thanh Hóa đối với miền
trung hơn hẳn Hà-Nội, đã là linh địa bảo tồn tất cả những kỳ vọng
của giống nòi. Từ những mảnh đất Thánh này hiện còn những hài
cốt tổ tiên các giòng vua của đất nước, đã nẩy sinh ra những vị
anh hùng hào kiệt vào hạng thượng thặng...”
Đó là nói chung về địa thế.
B.— Về phương diện khảo cổ thì người ta đã tìm thấy
trống đồng Đông Sơn tại đây lẫn với một ít tiền đồng của
đời Hán bên Tầu. Nhờ thế mà có thể định được niên đại là
trống được chế tạo ít ra cũng vào trước kỷ nguyên.
Các Hậu Hán Thư quyển 54 có chép: Mã Viện cỡi ngựa khéo
phân biệt ngựa có danh tiếng, khi đi đánh Giao Chỉ lượm được
trống đồng Lạc Việt bèn đúc làm con ngựa kiểu. Tỏ rằng người
Trung Hoa đời Tần, Hán không có trống đồng. Các đồ đồng
cũ của họ cũng không thấy có gì giống với trống đồng. Đến
cácdân tộc lân cận trong vùng Đông Á cũng không thấy có
sự chế tạo trống đồng nữa. Nó là một sản phẩm riêng biệt
của người Việt ở Đông Sơn. Cho nên di tích trống đồng là di
tích văn minh Đông Sơn, và vùng đồng bằng sông Mã phải
là gốc tổ xưa hơn vùng Phong châu ở đồng bằng sông Nhị.
C.— Về phương diện nhân chủng học, người ta thấy dân
Dayak trên đảo Bornéo ở Nam Dương cũng có những
thuyền giống như hình thuyền vẽ trên trống đồng Đông Sơn,
https://thuviensach.vn
dùng làm thuyền Bát Nhã để đưa linh hồn người chết sang
đảo Cực Lạc, và những tục lệ ma chay cũng giống như hình
vẽ trên mặt trống, thêm đồ đồng khai quật được ở Đông Sơn
cũng có quan hệ với đồ đồng ở Nam Dương. Các nhà cổ học
đã kết luận “Dân Mã Lai cùng các chủng tộc ở Đông Dương
thuộc về cùng một chủng tộc”. Và Ông L.Finot đã chủ trương:
“Những đồ đồng xưa phô bày hình ảnh một dân tộc canh nông,
săn bắn, thủy thủ thờ vật tổ mà cách ăn mặc không còn thấy ở
Đông Dương, nhưng trái lại, lại thấy trên các hải đảo Thái Bình
Dương, phải chăng chính đấy là dân tộc Indonésien mà về ngôn
ngữ chủng tộc đã từng sống trên bán đảo Đông Dương rồi bỏ bán
đảo lại cho dân mới để đi sang những quần đảo Thái Bình Dương?
Trên bán đảo Đông Dương chỉ còn lại dấu tích về ngôn ngữ cùng
phong tục mà chúng ta quên dần đi.”
Như vậy, càng là một bằng chứng có thể tin được rằng
trước khi tiếp xúc với văn minh miền Nam Trung Hoa,
người Việt Giao chỉ đã định cư tại khu vực đồng bằng sông
Mã.
D. — Khảo thêm về ngôn ngữ, ta thấy người Thanh Nghệ
Tĩnh do hoàn cảnh sinh hoạt và tính chất sinh lý đã có xu
hướng bảo thủ ngôn ngữ, họ giữ nhiều giọng xưa, âm xưa,
tiếng xưa, và tiếng nói của họ nặng nề khắc khổ, ít bị pha
trộn vì ảnh hưởng của tiếng Trung Hoa, và gần với âm
hưởng của tiếng Mường, Polynésien ngày nay còn ở vùng
núi Thanh Hóa.
https://thuviensach.vn
Kết luận: Giả thuyết mà tôi nêu ra trong sách Việt Nam
Văn Minh Sử Cương (Lá Bối xuất bản) đã có phần nào có thể
nhận được rằng:
1. Đồng bằng sông Mã là nơi tứ chiếng quần cư của nhiều
bộ lạc từ Nam Hải theo gió mùa ngược thuyền lên cũng có,
từ Bắc Hải theo gió mùa xuôi thuyền xuống cũng có, và từ
các dẫy núi cao đi lần tới cũng có nữa.
2. Khi định cư, mỗi bộ lạc chiếm một hay nhiều hang động
thiên nhiên, hiện nay vẫn còn lại rất nhiều, rồi lai giống với
nhau, tranh giành nhau quyền lợi, xung đột với nhau.
3. Nhóm bộ lạc yếu thế chạy rút về phía bắc đến vùng
đồng bằng sông Nhị ở Phong châu định cư, và được một nơi
an toàn đề lập quốc, vì đường từ biển vào khó đi thuyền,
đường từ vùng sông Mã lên phải qua núi qua sông và rừng
rất nhiều.
4. Nhóm bộ lạc mạnh thế ở lại chỗ cũ, nhưng luôn luôn bị
giặc bể vào cướp phá nên thiếu hẳn điều kiện để phát triển
cho có bề thế của một quốc gia.
Bởi những lẽ ấy, chúng ta cần nhận định dứt khoát không
nên có một ý tự tôn quá đáng, trong việc này, để tìm truyền
thống của một dân tộc hùng cường, hiếu chiến, thích đánh
đông dẹp bắc, thích xâm lăng các nước láng giềng. Mà
ngược lại, sự thực dân tộc ta chỉ là một dân yếu đuối, và chỉ
thích sống hòa bình yên ổn với xung quanh.
https://thuviensach.vn
Đây là một giống dân lai nhiều giòng máu. Nhờ lai nên
khôn, không cố chấp, và lúc nào cũng sẵn sàng dung hòa
quyền lợi với mọi người để mềm mỏng tiếp nhận mọi ảnh
hưởng văn minh mà tiến hóa. Đó là điều mà lịch sử đã có rất
nhiều sự kiện để minh chứng. Ta sẽ xét sau. Đây hãy nói về
hoàn cảnh dịa dư của hai nơi phát nguyên ấy.
HOÀN CẢNH ĐỊA DƯ
Hồi cách đây khoảng ba bốn ngàn năm, ta nhớ rằng đồng
bằng sông Mã và sông Nhị chưa được bồi xa đến như ngày
nay, Các hang động núi non ở Thanh Hóa vốn xưa là những
hải đảo hay bán đảo và biển đông còn lênh láng tới Việt Trì
bây giờ.
A.— Đất để trồng trọt cầy cấy còn hiếm hoi lắm. Nhất là ở
sông Mã chỉ thuận tiện cho việc chài lưới, đi biển, cùng tiện
cho các thuyền ngược xuôi ngoài biển ghé vào. Hoặc để mua
các thổ sản, như dưa hấu của An Tiêm (mà hiện hãy còn bãi
An Tiêm) hoặc để bán các hải sản, hoặc nữa để cướpbóc
đánh phá. Bất cứ một vùng duyên hải và hải khấu nào ở thời
xưa cũng đều phải chịu đựng cảnh ngộ ấy. Bởi thuyền đi
lênh đênh ngoài biển mà thiếu lương thực thì người không
muốn ăn cướp cũng thành hải khấu, nếu lại không mua
được lương thực của người trên bờ. Và người trên bờ vì lẽ
không dư dật, cũng phải chiến đấu dữ dội để bảo vệ lương
thực và tài sản của mình.
Do đó mà người ở vùng Hồng Lĩnh, sông Mã đã có tinh
thần chiến đấu bền bỉ để truyền thống còn mãi đến ngày
https://thuviensach.vn
nay.
Những hang động rất nhiều: Hồ Công, Từ Thức, Kim Sơn,
Hàm Rồng, Lục Vân, Long Quang... cùng với các núi đủ
kiểu, đủ tên gọi, tới bẩy mươi ba ngọn với đường vào ra hết
sức hiểm trở, xen lẫn với rừng già suối nước, thác ghềnh,
hiện vẫn còn lại để chứng thực những trận chiến ghê hồn đã
có thể diễn ra tại đây, trong thời quá khứ xa xưa.
Thêm ngoài biển lại có những xoáy nước mà nguy hiểm
nhất là của thần phù, đã làm cho người ta sợ hãi cho đến tận
hồi gần đây với câu ca dao : “Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm”. Cửa bể ấy hẳn đã đánh đắm
nhiều thuyền bè và dìm sâu nhiều sinh mạng của dân định
cư địa phương cũng có, mà dân ngoài muốn tấp vào bờ cũng
có.
Ta thấy người xưa ở đây từng phải chiến đấu vừa với kẻ
thù nghịch, vừa với thiên nhiên, lại vừa với thú dữ, nên bảo
rằng khí thiêng sông núi ở đây đã tạo nên nhiều anh hùng
hào kiệt thì sợ có người cho là nói mơ hồ, chứ thực thì hoàn
cảnh địa dư ấy nhất định phải làm nảy sinh những nhân vật
ấy để thích ứng và tồn tại.
B.— Còn vùng đồng bằng sông Nhị, căn cứ mới của nền
văn minh nông nghiệp Văn Lang ở Phong Châu, thì tuy hồi
ấy cũng là khu đất ven biển, cũng có nhiều núi non, nhưng
không hùng vĩ bằng vùng sông Mã, lại có ruộng đất nhiều
để trồng trọt cầy cấy hơn. Đường đi từ biển sâu vào lầy lội
rất khó đi vì phù sa bồi đắp. Khi nước triều lên thì lênh láng
https://thuviensach.vn
khắp cả không biết chỗ nào nông sâu để đi vào. Khi nước rút
thì các cây xú cây bần (giống cây mọc ở vùng nước mặn) sẽ
trồi cả lên. Đó chính là những phòng ngự thiên nhiên chống
với giặc biển muốn xông vào cướp phá. Phần những bộ lạc
thù nghịch ở phía Nam cũng không vượt núi băng rừng để
tới tận đấy làm gì. Phần những bộ lạc khác ở rừng núi phía
Bắc cũng còn thưa thớt. Nhờ vậy mà khu vực Phong Châu
thành khu vực an toàn để lập quốc, và con người sống yên
ổn nhàn hạ, nhũn nhặn với nghề nông trong những thời gian
hết sức dài.
Đất phù sa càng bồi thêm thì ruộng đồng càng mở rộng
dần để đời sống càng sung túc. Con người không lúc nào
phải chiến đấu chống thiên nhiên cả. Họ chưa có kỹ thuật
ngăn nước mặn và rửa đất phèn để mở rộng đất canh tác ra
thật nhanh, nên cả khu vực đất tân bồi còn lầy lội và nhiều
hơi độc, vẫn bị bỏ hoang[1].
Nhưng khu vực đất đã thuộc, vẫn dư sức cung cấp lương
thực nuôi một số dân chưa lấy gì làm đông đảo quá.
Sợ rằng, ở hồi đầu này, kỹ thuật canh tác cũng chỉ mới là
lối trồng lúa tỉa mà người miền Thượng còn giữ để trồng ở
các sườn đồi. Cho tới khi có đoàn người miền Nam Trung
Hoa tràn tới, mang theo một kỹ thuật canh tác tiến bộ hơn,
thì bấy giờ mới có việc cầy ruộng và cấy lúa.
Mặc dầu vậy, dưới sự ưu đãi của thiên nhiên, người Giao
Chỉ Văn Lang vẫn đã rất an nhàn sung sướng để sẵn sàng
sống rất cởi mở với hết thảy mọi giống dân khác.
https://thuviensach.vn
KHÍ HẬU
Khí hậu bốn mùa rõ rệt, nói chung là dễ chịu.
— Mùa xuân thì ấm áp hơi lạnh về đêm, còn suốt ngày dịu
mát Mặt trời không nắng gắt lắm. Thỉnh thoảng loe ra vào
buổi trưa một lúc rồi lại có mây mờ dầy đặc che phủ. Ngày
có gió nồm đầy hơi nước từ miền Nam tới thì không khí ẩm
ướt. Ngày có gió bấc nối tiếp mùa đông từ một chạp thì khô
và lạnh làm cho nẻ mặt và xước măng dô ở ngón tay. Mưa
lất phất không đủ ướt đất, tưới nhẹ cho cây cối. Trong khi
đất ruộng khô nứt ra, vì từ tháng mười không còn những
trận mưa lớn, lại qua một mùa đông lạnh gió hút hết hơi
nước trên mặt đất.
Cây cối ra hoa và lá non. Nhưng ruộng đồng nứt nẻ thì
đành chịu, không cầy và đập đất mệt nhọc quá được, nên
không cấy được vụ chiêm.
Vì vậy bắt buộc “tháng giêng phải là tháng ăn chơi”. Người
siêng năng mấy cũng chỉ cuốc và đập đất ở những mảnh
ruộng nhỏ để trồng đậu, trồng khoai, trồng cà về tháng hai.
— Mùa hạ bẳt đầu khoảng giữa tháng tư. Trời ít mây. Mặt
trời le lói từ sáng đến trưa thì nắng gắt, và càng về chiều
nắng xiên khoai lại càng khó chịu. Trời oi ả, thỉnh thoảng
mới được một ngọn gió nam mát mẻ còn thường gió tây
nóng bức hầm hập như trong lò lửa. Nhưng cách vài ngày
thì lại có mây đen với mưa rào thật là nhiều nước, ngập các
ruộng đồng cho đất mềm ra. Để: “tháng tư đi tậu trâu bò, để ta
https://thuviensach.vn
sắp sửa làm mùa tháng năm” ấy là vì không có mưa rào đất
không mềm thì không cầy được.
Nhưng vì mưa bất thần, điều kiện thì giờ làm việc đồng
áng phải từ hết sức sớm, để khi mặt trời lên khỏi ngọn tre là
nghỉ, rồi đến chiều tà nhạt nắng xiên khoi, mới lại làm cho
đến tối. Nên ruộng đồng bắt buộc phải gần nhà, chỉ chu vi
ba bốn cây số là nhiều, thêm phải có cái quán giữa đồng hay
cây đa để trú mưa và nghỉ trưa. Nên văn minh nông nghiệp
của người Giao Chỉ Văn Lang, có cái quán giữa đồng, cái cây
đa đầu làng ấy là một đặc điểm vậy.
— Mùa thu vào khoảng cuối tháng bẩy với những trận
mưa ngâu tầm tã, không lớn nhiều nhưng dai dẳng đến nửa
ngày có khi cả ngày để sau đó thì trời dịu mát và thỉnh
thoảng có những trận mưa nhỏ nhỏ là mùa rươi.
Ngày thì trời quang, đêm thì trăng sáng. Nhất là vào rằm
tháng tám, trời không có một vẩn mây, trăng sáng rực như
ban ngày. Vào dịp này người ta gọi “Tháng ba ngày tám” là
những ngày mà nhà nông rảnh rang công việc đồng áng, chỉ
ngồi nhà thảnh thơi chờ lúa chín thì gặt, người ta chơi tết
Trung Thu. Nhưng cũng vẫn phải lo sợ nước lũ từ trên
nguồn trên về làm ngập lụt mất mùa, hay những cơn bão
làm đổ cửa đổ nhà.
Qua mùa đông, gặt hái rồi thì mới chắc dạ. Mùa đông bắt
đầu khoảng cuối tháng mười, hết mưa lớn, nhưng thỉnh
thoảng có mưa phùn. Nắng nhạt không gay gắt nhưng hanh,
https://thuviensach.vn
vì gió bắc không mang hơi nước lại. Đất ruộng sau vụ gặt
khô và nứt nẻ dần. Nước sông ngòi cũng cạn dần.
Công việc của nhà nông chỉ còn là gặt lúa, mang về nhà
đập và phơi rồi cất lúa vào bồ và nghỉ ngơi, sửa soạn ăn tết
và đón xuân, mà bắt đầu lại một vòng tuần hoàn như cũ.
Tuy có rét lạnh, nhưng thường cũng khoảng lạnh nhất là 7,
8 độ trên không độ mà nóng thì cũng độ 30 - 32 độ không
đến nỗi lạnh quá hay nóng quá không chịu nổi.
Khí hận ấy, cùng với điều kiện làm việc như đã kể, đã
khiến người Giao chỉ Văn lang sống định cư thành làng, ở
giữa một vùng đồng ruộng khoảng ba bốn cây số là nhiều,
nếu phải du canh theo lối diện tích đất ruộng mở rộng thêm
của phù sa bồi đắp, thì người ta cũng du canh đến đặt một
cái làng mới vào giữa khu đất ruộng ấy.
Cái làng với tổ chức của nó chính là một đặc điể...
 





