CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU
Từ ấp chiến lược đến biến cố Tết Mậu Thân

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:46' 05-04-2024
Dung lượng: 334.8 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:46' 05-04-2024
Dung lượng: 334.8 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết
Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử
trong chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Cung
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử trong
chiến tranh Việt Nam
https://thuviensach.vn
Tác giả: Nguyễn Đức Cung
Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử
trong chiến tranh Việt Nam
thành phố đổ nát
“… đằng sau biến cố này là một số hệ lụy mang tính lịch sử vẫn chưa thấy
giới nghiên cứu sử học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện diện và nổi cộm
lên …”
Trong chiến tranh Việt Nam, biến cố Tết Mậu Thân (1968) mà sách vở của
chế độ cộng sản Hà Nội gọi tên là cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi
Nghĩa (TCK-TKN) đã được các sử gia ngoại quốc xem là một bước ngoặt
lớn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Hầu hết các quan điểm khác
biệt của các phe lâm chiến như chính phủ Hoa Kỳ, chế độ Bắc Việt, chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa, giới truyền thông Hoa Kỳ và một số các quốc gia
khác, giới nghiên cứu sử học Hoa Kỳ, một số các nhân vật có dính líu ít
nhiều vào biến cố đó, ở phe này hay phe khác đã được bày tỏ qua sách vở,
tư liệu với nhiều mục đích khác nhau như tuyên truyền, biện minh, lên án,
kết tội, bào chữa, tái xác nhận v.v... Biến cố Mậu Thân cũng đã để lại nhiều
ấn tượng, kỷ niệm tang thương, đau lòng trong rất nhiều đồng bào Việt
https://thuviensach.vn
Nam tại Huế - Thừa Thiên nói riêng và đồng bào Miền Nam nói chung với
cái chết của biết bao người thân trong gia đình, bạn hữu và các nhân vật
hành chánh, chánh trị, các tu sĩ tôn giáo ngoại quốc cũng như trong nước,
kể cả các giáo sư đại học người nước ngoài đến phục vụ tại Viện Đại Học
Huế. Tuy nhiên, đằng sau biến cố này là một số hệ lụy mang tính lịch sử
vẫn chưa thấy giới nghiên cứu sử học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện
diện và nổi cộm lên thông qua biến cố này.
Bốn mươi năm qua, thời gian cũng đủ để cho một thành phố, như Huế
chẳng hạn, được hồi sinh nhưng đây cũng là dịp nhìn lại biến cố đó để tìm
hiểu những bài học lịch sử mà cho đến nay vẫn còn chứa nhiều bí ẩn chưa
biết được, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu sử học Hồ Khang: "Tết
Mậu Thân vẫn là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Từ một mức độ nào đó, có
người sẽ nghĩ là họ đã có cái nhìn toàn diện về Tết Mậu Thân, nhưng ở một
góc độ khác, nhiều người sẽ vẫn không thể hiểu và giải thích được sự kiện
này." [1]
Tuy nhiên việc tìm hiểu biến cố tết Mậu Thân sẽ không được rõ ràng nếu
chúng ta không lược qua giai đoạn lịch sử trước đó, kể từ thời Đệ nhất
Cộng hòa, bởi vì di sản chính trị của giai đoạn đó nếu chỉ còn là những đổ
nát, vỡ vụn thì ít nhất nó cũng cho chúng ta biết phần nào mức độ thất bại
của chúng ta và đồng minh qua sự kiện lịch sử quan trọng này tức là biến
cố Tết Mậu Thân (1968).
1. Di sản tinh thần đổ nát của một chế độ chính trị
Cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, một cuộc
chiến mà ngay đến cái tên gọi của nó vẫn còn là một vấn đề tranh cãi [2],
sau Nghị quyết 15 năm 1959 của CSBV và đạo luật 10/59 của chế độ
VNCH đã được đánh dấu bởi những biến cố lịch sử quan trọng cần phải
được nhìn đến trước khi đi sâu vào nghiên cứu lại sự kiện Tết Mậu Thân.
Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, ngày 20 tháng 7 năm 1954, chính
phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã phải lo định cư cho gần một triệu
người dân miền Bắc và miền Trung (bên kia vĩ tuyến 17) có cuộc sống an
cư lạc nghiệp tại miền Nam, rồi lấy lại chủ quyền từ tay người Pháp, ổn
định tình hình chính trị, xây dựng nền Cộng Hòa trên vùng đất đầy dấu tích
https://thuviensach.vn
của chế độ thuộc địa và thực dân, nhất là tiến hành quốc sách chống Cộng
nhằm tiêu diệt hết hạ tầng cơ sở của Cộng Sản cố gài lại tại Miền Nam sau
khi Việt Minh đã rút hết khoảng 80.000 cán binh CS ra miền Bắc theo các
điều khoản quy định của bản hiệp định này. Những thành quả mà chính phủ
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thu hoạch được trong chín năm cầm
quyền (1954-1963) cần phải được nghiên cứu lại trong tinh thần đánh giá
công bình, đúng đắn dưới ánh sáng của lịch sử.
1.1. Vấn đề ý thức hệ chính trị.
Trong cuộc chiến giữa hai miền nam và bắc Việt Nam, điểm quan trọng
trong sự tranh chấp Quốc-Cộng đó là vai trò của một hệ thống tư tưởng mà
chế độ Đệ nhất Cộng hòa đã sử dụng làm lợi khí đấu tranh để xây dựng các
cơ chế dân chủ và xã hội. Chủ thuyết của miền nam lúc bấy giờ là chủ
thuyết Nhân Vị vốn được coi là nền tảng tư tưởng hoạt động của Cần Lao
Nhân Vị Cách Mạng Đảng do ông Ngô Đình Nhu thành lập tại Sài gòn năm
1950.
Về phương diện tư tưởng, ông Ngô Đình Nhu đã có ý thức về sự cần thiết
của một chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước. Ông đưa ra chủ
thuyết Nhân Vị (Personalism) khơi nguồn từ một số triết thuyết của Tây
Phương như nhóm Esprit của Emmanuel Mounier, một số tông thư của các
Giáo Hoàng Lêô XIII hay Giáo Hoàng Piô XI, đã được ông hoàn chỉnh lại
để phù hợp với tình hình của một quốc gia Á châu, nhằm đối đầu với chủ
nghĩa Cộng Sản ở miền Bắc. Ngày 8-1-1963, trong cuộc nói chuyện với
một cử tọa gồm các nhà trí thức, các giáo sư đại học, giáo sư trung học và
cán bộ tại Trung Tâm Thị Nghè, ông Ngô Đình Nhu giải thích rằng:
"...mình đánh nhau với Cộng Sản, bây giờ Cộng Sản nó đánh mình với một
Ý Thức Hệ, mà chúng ta không có một Ý Thức Hệ cứng rắn, rõ ràng, trong
tâm trí chúng ta để đối lại, để có lẽ sống mà đánh Cộng Sản thì chúng ta sẽ
bị ý thức hệ Cộng Sản lan tràn lung lạc." [3]
Cũng trong bài nói chuyện đó, ông Ngô Đình Nhu nhấn mạnh: " Muốn
phục vụ con người trong xã hội thì con người đó phải tiến, xã hội đó phải
tiến. Nhưng xã hội chỉ tiến được với những con người có ý thức nhiệm vụ.
Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta phải nhìn nhận rằng cần phải có một ý
https://thuviensach.vn
thức hệ tiến bộ. Ý Thức Hệ chúng tôi chủ trương là Ý Thức Hệ Nhân Vị.
Về Tư Tưởng Nhân Vị có nhiều thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tín ngưỡng
hữu hình, một tín ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại nhuốm phần nào
vô thức... Ý thức hệ Nhân Vị chúng tôi chủ trương nó rất rộng rãi và không
cần phải đi sâu vào các đạo giáo. Tất cả các đạo giáo, tất cả các triết lý
khác, có thể cùng đi với chúng ta được trong ý thức hệ đó." [4]
Sau đây là một đoạn triển khai thêm do linh mục Bửu Dưỡng viết, trích từ
bản tóm tắt bài thuyết trình của ông về chủ nghĩa Nhân Vị: "Nhân là người.
Vị là thứ bậc. Nhân-Vị là tính cách con người sống đầy đủ con người theo
thứ bậc của mình, đối nội cũng như đối ngoại. Theo nghĩa đó, hai chữ
Nhân-Vị đầy đủ hơn chữ Personne Humaine của Pháp ngữ, vì hai chữ
Personne Humaine nhấn mạnh đến ý nghĩa của chữ nhân mà ít chú trọng
tới vị. Cần phải hiểu theo một ý nghĩa đầy đủ của cả hai chữ. Nhân là sống
đầy đủ con người. Vị là sống theo đúng thứ bậc của mình trong những
tương quan với người khác và vạn vật. Như vậy thì quan niệm về nhân-vị
tùy thuộc quan niệm về con người và quan niệm các tương quan." [5]
Nhìn thấy cái sắc bén của chủ nghĩa Nhân Vị của nền Đệ nhất Cộng Hòa,
một sử gia ngoại quốc, Robert Scigliano đưa ra nhận xét : "Chủ nghĩa Nhân
Vị nhấn mạnh đến sự điều hòa những ước vọng vật chất cũng như tinh thần
của cá nhân với các nhu cầu xã hội của cộng đồng và các nhu cầu chính trị
của quốc gia. Nó nhằm tìm kiếm một con đường trung dung giữa chủ nghĩa
cá nhân tư bản và chủ nghĩa tập thể mác-xít." [6]
Một nữ ký giả Hoa Kỳ, bà Suzanne Labin, vốn có rất nhiều mối liên hệ với
các viên chức của chế độ Miền Nam dưới thời Tổng Thống Ngô Đình
Diệm, trong cuốn sách Vietnam, an eye-witness account, có trích lại bài viết
về chủ nghĩa Nhân Vị của bà Ngô Đình Nhu (đăng trên báo The Wanderer
ngày 4.6.1964) lúc bấy giờ đang sống lưu vong ở hải ngoại sau biến cố đảo
chính 1-11-1963.
Trong một bài báo nhan đề “Cần Lao Nhân Vị”, linh mục Nguyễn Phương,
nguyên giáo sư sử học tại Viện Đại Học Huế trước năm 1975, đã viết: "Đối
với những người tị nạn đã trưởng thành, cần lao nhân vị là những tiếng
quen biết. Cũng có lẽ vì quen biết quá nên không mấy ai lưu tâm đến ý
https://thuviensach.vn
nghĩa của nó. Sự thật, mấy tiếng đó xếp lại bên nhau có thể tạo nên một
phương châm thiết thực nhất và cao cả nhất cho đời sống cá nhân và xã hội.
Cần lao nhân vị gọn gàng là một triết lý của đạo làm người. Cần lao không
có nghĩa là làm việc suông, vì chữ cần nói lên rằng người làm việc đang
tâm hướng về một mục tiêu nào đó. Và mục tiêu này được tức khắc bày tỏ
bằng hai tiếng nhân vị. Cần lao là để phát huy và để bảo tồn nhân vị, chứ
không phải để phục vụ tư lợi hay để làm mọi cho giai cấp đấu tranh. Nói
cách khác, cần lao nhân vị là đặt giá trị con người trên việc làm, và con
người lấy việc làm để củng cố chỗ đứng của mình giữa trời và đất."
Tác giả Nguyễn Phương nêu ra thông điệp của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II có tên Laborem Exercens (con người làm việc) trong đó Đức
Giáo Hoàng đặt vấn đề lao động trên một nền tảng chưa chủ thuyết kinh tế
hiện có nào đã đặt, nhìn con người qua việc làm, bất cứ việc làm này thuộc
phạm vi vật chất hay tinh thần. Xin thử trích một vài đoạn từ thông điệp
Laborem Exercens: "Khi chúng tôi nói đến sự tương phản giữa lao động và
tư bản, không phải chúng tôi nói đến một quan niệm trừu tượng hay một
mãnh lực phi vị (impersonal) đang chuyển hành trong cuộc sản xuất kinh
tế. Đàng sau cả hai quan niệm đó (lao động và tư bản) vốn có con người
sống động, con người như thấy được trong thực tế của cuộc đời."
Vì đó, theo tác giả Nguyễn Phương, vấn đề lao động trở thành vấn đề cần
lao, nó không còn là nô lệ của lợi tức như trong chủ thuyết tư bản, hay nô lệ
của đảng phái, như trong chế độ Cộng Sản, mà nó là của con người làm
việc, của xã hội loài người. Thông điệp đề cập đến một lối xã hội hóa gọi là
xã hội hóa thỏa đáng (satisfactory socialization) khác hẳn với lối xã hội hóa
với nhà nước hay đảng làm chủ nhân ông của Cộng sản. Xã hội hóa thỏa
đáng là đem một số các phương tiện sản xuất làm của chung nhưng dưới sự
điều động của cần lao và tư bản. Như thế sẽ thực hiện được chủ thuyết bảo
toàn giá trị con người, mà thông điệp gọi là thuyết nhân vị (personalism).
Với chính sách đặc thù của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cần Lao Nhân
Vị là "một chính sách được trình bày với màu sắc của địa phương. Con
người không được quan niệm như là tối thượng, mà là một loại đầu đội
Trời chân đạp đất. Ở trong tam tài Thiên Địa Nhân, con người không thể
https://thuviensach.vn
nào hơn Ông Trời, nhưng lại không thể nào thua vật chất. Đất, và tất cả
những gì thuộc về đất, là để phục vụ con người. Đàng khác, con người
không thể hoàn tất phận sự của mình nếu không sử dụng vật chất. Cần lao,
sự chăm chú làm việc, cốt là để thể hiện giá trị con người, cốt là để tô bồi
chỗ đứng của con người. - NHÂN VỊ - khoảng giữa trời cao và đất rộng.
Trong xã hội CẦN LAO NHÂN VỊ, cố nhiên không có cảnh con người làm
nô lệ con người, huống hồ là làm nô lệ phương tiện sản xuất. Nơi đây, chỉ
có đồng lao cộng tác để thành tựu cuộc cách mạng NHÂN VỊ, nó ăn cả về
chiều cao, chiều rộng và chiều sâu. Về chiều sâu, con người cần lao luyện
tập cho có thành tâm thiện ý. Phải tu thân đã mới mong tề gia và bình thiên
hạ. Việc cách mạng phải ăn cả về chiều rộng, vì con người cần phải tri kỷ,
tri nhân, cho nên phải sống trong cộng đồng và phải cùng nhau đồng tiến.
Chiều cao của cuộc cách mạng nhân vị là nhờ cần lao mà vươn lên, vươn
đến Chân, Thiện, Mỹ để thông cảm với Đấng Trên Đầu Trên Cổ, với
Thượng Đế. Trong chính sách cần lao nhân vị, con người sẽ làm viên mãn
điều mà "bổn phận và lương tri" bảo phải làm trong bất cứ trường hợp nào
(nên nhớ lại lời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm trả lời cho Đại sứ Hoa Kỳ
Cabot Lodge chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, khi cụ Diệm hỏi đại sứ này
về thái độ của Washington với cuộc chính biến)." [7]
Để thấy những liên hệ nhân quả của chủ thuyết nhân vị đối với biến cố Tết
Mậu Thân về sau, thiết tưởng nên đọc thêm một số các tư liệu sau đây nói
về chính sách, kế hoạch quốc gia của VNCH lúc bấy giờ:
"Thuyết Nhân Vị Á Đông do ông (Ngô Đình Nhu) đề xướng được ông giản
lược bằng phương trình sau đây:
TAM TÚC + TAM GIÁC = TAM NHÂN
https://thuviensach.vn
thành phố tang tóc
Và ông giải thích vắn tắt:
A. TAM TÚC là:
1.- Tự túc về Tư Tưởng là tự mình suy luận, cân nhắc mà lựa chọn một
chính nghĩa để phụng sự và một khi đã chọn rồi thì không còn lay chuyển
nữa. Chính nghĩa đó là cuộc cách mạng chính trị, xã hội, quân sự mà ta
đang cụ thể hóa trong các Ấp Chiến Lược. Sau đó ta tự phát huy chính
nghĩa trong tâm hồn, tự học tập và tự bồi dưỡng tinh thần của ta, không cần
ai thôi thúc. Tự túc về tinh thần, về tư tưởng, thì tất nhiên trong mọi trường
hợp khó khăn ta vẫn vững tâm, hoặc dù có nội loạn ở Thủ Đô Sài Gòn
chăng nữa, thì ta cũng không bị hoang mang hay bị lung lạc. Tự túc về tư
tưởng để phát huy và bành trướng chủ nghĩa. Muốn được vậy thì phải:
2.- Tự túc về Tổ chức và Tiếp Liệu, là tự ta tìm tòi, phát huy sáng kiến để
có nhiều nhân vật lực để hoạt động, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của người
khác. Chính phủ chỉ cần giúp ta một số vốn căn bản, dựa vào đó ta tìm cách
biến cải thêm để hành động và mở rộng phạm vi hoạt động. Chẳng hạn hiện
giờ ta thiếu kẽm gai để làm Ấp Chiến Lược, thì ta cố gắng tìm vật liệu khả
dĩ làm tê liệt cơ thể bất cứ ai động đến (như đồng bào Thượng đã làm trên
cao nguyên); hoặc dùng địa hình địa vật để lồng hệ thống bố phòng ACL
vào trong đó, đỡ cần đào hào hay rào kẽm gai. Muốn thực hiện Tự túc về
Tổ chức thì cần phải:
3.- Tự túc về Kỹ thuật, là phát huy khả năng chiến đấu, và khai thác, phát
triển khả năng của nhân vật lực sẵn có đến tột mức 100 phần trăm.
Ba bộ phận của Tam túc có liên hệ mật thiết với nhau: muốn Tự túc về Tổ
chức mà không Tự túc về Kỹ thuật thì Tổ chức không thành; thiếu Tự túc
Tư Tưởng thì tất nhiên sẽ không có Tự túc Tổ Chức và Tự túc Kỹ Thuật.
Từ quan niệm Tam Túc đó phát sinh ra quan niệm Tam Giác.
B. TAM GIÁC là:
1.- Cảnh giác về Sức Khỏe (thể xác) nghĩa là không được đau ốm. Do đó ta
phải tránh tất cả những việc làm phương hại cho thân xác ta như đau ốm, tứ
đổ tường. Bảo đảm sức khỏe thì mới bảo đảm được khả năng làm tròn
https://thuviensach.vn
nhiệm vụ.
2.- Cảnh giác về Đạo Đức và Tác Phong Đạo Đức, vì tác phong và đạo đức
là điều kiện cốt yếu của cán bộ, thiếu tác phong đạo đức sẽ chi phối tư
tưởng, sẽ biến khả năng làm việc thiện ra việc ác, chưa kể việc thất nhân
tâm.
3.- Cảnh giác về Trí Tuệ là phát huy óc sáng tạo, sáng tác khả năng chiến
đấu của nhân vật lực sẵn có đến tột độ.
Vậy, không có sức khỏe, đau ốm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến óc sáng tạo và
thu hẹp phạm vi hoạt động của đạo đức. Không có óc sáng tạo thì dù có sức
khỏe, có đạo đức, cũng không có khả năng bồi bổ vào sự thiếu thốn nhân
vật lực, là tình trạng của một nước chậm tiến. Có sức khỏe, có óc sáng tạo,
nhưng không có đạo đức, thì sức khỏe ấy, óc sáng tạo ấy, sẽ phục vụ cho
phi nghĩa, không phải cho chính nghĩa..." [8]
Thật sự các nhà lãnh đạo của nền Đệ nhất Cộng hòa đã thấy được sự cần
thiết của một thứ vũ khí tư tưởng trong cuộc chiến tranh ý thức hệ đối diện
với Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng Sản. Tiếc thay đang khi họ mang hoài
bão để huấn luyện và trang bị cho cán bộ và nhân dân Miền Nam thứ vũ khí
cần thiết này, thì Hoa Kỳ, người bạn đồng minh của chúng ta, đã không
chia sẻ cùng một tâm thức như vậy.
1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.
Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách
Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà lãnh đạo của nền Đệ
nhất Cộng hòa đã có một cái nhìn xuyên suốt trong chính sách an dân của
mình.
Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 928-NV thành
lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do
ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, vì số người Công
Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ
tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi
điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875, 478
người và họ được đưa đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi
https://thuviensach.vn
định cư các nơi khác tùy ý họ lựa chọn.
Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ nhất Cộng
Hòa và một khi đã bị giải thể hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ
con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Cộng Hòa) tất nhiên sự
kiện đó đã góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân,
mà rõ ràng nhất là hệ thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và
nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến lược là
sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn
Ngô Đình Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đã một thời khốn đốn
không hoạt động được gì hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh
nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh.
Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tĩnh Man
Tiễu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1863,
Nguyễn Tấn đã áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá
Vách, Quảng Ngãi. Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đã
ghi lại như sau:
"Mới đặt chức Tiễu phủ sứ ở cơ Tĩnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc
quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính
sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu
hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thự
án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác
man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong.
Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Đến đây, chuẩn cho
thăng hàm thị độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà. Tấn
dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc
khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh,
tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết
các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền
vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thếu cho. Còn 1, 2 nhà nghèo,
ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời
về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà
https://thuviensach.vn
để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì
bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), thì phái quân đến phòng giữ,
ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thư sức dân." [9]
Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các
quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược nhằm giải
quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào
nam và sau đó để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái
hoạt động ở các vùng nông thôn miền nam.
Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam (1954-1994), tác
giả Lâm Thanh Liêm đã viết về Khu trù mật như sau: "Khu Trù Mật là một
cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào
đấy sinh sống trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông,
do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến
tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân
sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô
lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại
được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở
giống tựa như trường hợp của một thành phố:
* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm
buôn bán).
* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một bảo sanh
viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một
phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).
Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ
lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các
trục giao thông).
* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể
được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các
thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.
* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ
khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ lên hệ với ngành nông nghiệp
địa phương.
https://thuviensach.vn
* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của
thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình
phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác
(chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà
bảo sanh v.v...)
Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của
Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật,
chính quyền địa phương còn trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể
biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt
xâm nhập vào Nam.
Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính
cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để
tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu
thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát
cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà
(với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một
chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh
vườn rau để tự túc mưu sinh." [10]
Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản
Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật vì ngoài việc ngăn
chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở
những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một
trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản. [11]
Trong tác phẩm Ngo Dinh Diem en 1963: Une autre paix manquée, tác giả
Nguyễn Văn Châu, cựu Trung tá, nguyên Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm
Lý, Bộ Quốc Phòng cho rằng sự chỉ trích chính quyền về Khu trù mật chỉ
nhắm vào những chuyện xấu về nhân sự, và dư luận đối lập đi xa hơn nữa
cho rằng chính quyền ép buộc dân bỏ làng mạc nhà cửa. [12]
Đối với bài học lịch sử cũ về Ấp chiến lược, thiết tưởng cần đọc Suzanne
Labin, một nhà văn kiêm phân tích gia vốn nhiều lần tới thăm Miền Nam
Việt Nam trong thời gian Đệ nhất Cộng hòa, từng được Tổng Thống Ngô
Đình Diệm tiếp kiến nhiều lần, đã có những buổi thuyết trình chính trị tại
https://thuviensach.vn
Sài Gòn và nói chuyện tại một số tỉnh. Trong cuốn sách Vietnam, an eyewitness account (bản tiếng Pháp nhan đềVietnam, révélation d un témoin),
Suzanne Labin từng viết: "Khi nhà Ngô bị lật đổ, có tám ngàn ấp chiến
lược đã được thành lập xong và đang vận hành, với dự trù khoảng bốn ngàn
ấp nữa cần thiết để bảo vệ cả nước. Nông dân sống rải rác dọc theo các con
kênh, được yêu cầu dời chuyển để qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung
theo kiểu Âu châu. Mỗi làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai
hoặc hàng rào tre vót nhọn đằng sau có tăng cường hệ thống hào rộng gài
mìn để chận đứng Việt Cộng mò vào ban đêm. Trong ấp, mỗi gia đình đều
được khuyến khích đào một hầm trú ẩn ngay trước nhà họ. Tại sao vậy?
Khi Việt Cộng tấn công, trước đây người dân thường quá sợ nên chạy tứ
tung gây trở ngại cho lực lượng bảo vệ nhiều khi bắn cả vào người nhà
mình. Từ khi có hầm trú, người già và trẻ con cứ việc núp dưới hầm để xạ
trường quang đảng cho lực lượng chiến đấu hành sử.
"Người dân làng được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác, giới tính, và tùy theo khả
năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt. Lực lượng tự vệ và thanh
niên cộng hòa là những đơn vị chiến đấu; những dân làng khỏe mạnh khác
thì tham gia công tác phòng vệ, thanh thiếu niên thì vót chông. Người có
nhiệm vụ chiến đấu được cấp vũ khí cá nhân mang luôn bên mình ngay cả
khi ở nhà. Nhiều làng mạc được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên
thanh. Máy truyền tin được cung cấp giúp cho các người bảo vệ ấp chiến
lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một khi bị tấn công. Nhiệm
vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù, vô hiệu hóa chúng ngoài các vành
đai của ấp, cố ngăn chúng không lủi mất vào rừng trong khi lực lượng
chính quy kéo tới. Bấy giờ, Việt Cộng thấy quá khó khăn khi xâm nhập một
vùng dân cư có phòng thủ và ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở ngại." [13]
Bà Suzanne Labin còn nhắc lại câu nói có tính cách cô đọng của Tổng
Thống Ngô Đình Diệm rằng: "...để nghiền nát quân thù giữa CÁI BÚA của
sức mạnh cơ động và HÒN ĐE của các ấp chiến lược." [14] Bà cho rằng ấp
chiến lược chính là tâm điểm của một cuộc cách mạng chính trị và xã hội :
đó là lý do tồn tại của Ấp chiến lược vì đã đưa lại một nền tảng vững chắc
cho sự tiến bộ về kinh tế. [15]
https://thuviensach.vn
Chính sách Ấp chiến lược được thực hiện từ năm 1961 với sự cố vấn của
Sir Robert Thompson, chuyên viên về chiến thuật phản nổi dậy người Anh
cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và Dennis Duncanson được kể
là một kế hoạch táo bạo nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Nhận định tổng quát về kết quả của chính sách Ấp chiến lược, tác giả
Nguyễn Văn Châu đã khẳng định: "Quốc sách Ấp chiến lược sau hai năm
đã thành công trong việc ngăn chặn làm cho Việt Cộng không còn sống
bám rút bòn nhân dân. Vấn đề an ninh làng ấp được vững vàng hơn, quân
đội chính quy quốc gia trở thành lực lượng hành quân chủ động gây cho du
kích cộng sản nhiều thất bại đáng kể, khiến cho các lực lượng du kích rơi
vào thế bị động và mất thăng bằng sau khi đã mất hạ tầng cơ sở. Tinh thần
quân đội quốc gia lên cao, dân chúng được bảo vệ an ninh và du kích Việt
Cộng càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa." [16]
Trong một bài báo mới đây nhan đề 40 năm ngày đảo chính chế độ Ngô
Đình Diệm: Cái nhìn từ Hà Nội", tác giả Bùi Tín, cựu Đại tá quân đội
CSBV, Phó chủ nhiệm tờ báo Nhân Dân Chủ Nhật đã phải xác nhận ưu thế
của quốc sách ấp chiến lược gây cho lực lượng xâm lăng của Cộng Sản
nhiều khó khăn và thất bại trước đây, đã thẳng thắn bày tỏ rằng: "Cùng với
thời gian và sự tìm hiểu những tư liệu lịch sử, tôi thấy cần phải trả lại lẽ
công bằng cho nhân vật lịch sử này... Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân
vật chính trị đặc sắc, có lòng yêu nước sâu sắc, có tính cương trực thanh
liêm, nếp sống đạm bạc giản dị." [17]
Một khi chính sách Ấp chiến lược đã bị nhóm tướng lãnh làm đảo chánh
giải thể, an ninh nông thôn bị bỏ ngỏ trăm phần trăm thì việc lực lượng võ
trang VC xâm nhập thành phố một cách rất dễ dàng như sẽ thấy qua vụ Tết
Mậu Thân thiết tưởng cũng là điều dễ hiểu. Nhóm quân phiệt cầm quyền
chỉ cần có chỗ dựa là Hoa Kỳ mà không cần chỗ dựa cốt yếu là nhân dân.
Bởi thế cho nên khi Hoa Kỳ bàn giao một nửa đất nước Việt Nam vào tay
Cộng Sản, bọn họ chỉ có việc im lặng thi hành và một vài lời phản đối chỉ
là cử điệu chiếu lệ, giả dối mà thôi.
1.3. Công tác tình báo
https://thuviensach.vn
Nhắc lại các hoạt động tình báo thời Đệ nhất Cộng Hòa để thấy rằng qua
biến cố Tết Mậu Thân như chúng ta sẽ bàn đến trong phần sau, dư luận đã
lên án việc Hoa Kỳ và chính quyền của Đệ Nhị Cộng Hòa đã không coi
trọng vấn đề tình báo trước các hoạt động của CS. Chính nhờ công tác tình
báo được thực hiện rốt ráo dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa đã bảo đảm cho sự
vững mạnh của chế độ trong một thời gian dài.
Cơ quan tình báo trung ương cần nói tới dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa là Sở
Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội của bác sĩ Trần Kim Tuyến, trực thuộc Phủ
Tổng Thống tức là CIA/VN do sự gợi ý của Hoa Kỳ. Tác giả Vĩnh Phúc
trong cuốn Những huyền thoại & sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm đã viết
nhiều về Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội, cho biết có sự bất đồng giữa
người Mỹ và hai ông Nhu-Tuyến về hoạt động của sở này, thí dụ "phía
VNCH muốn thả người ra ngoài Bắc để phá hoại, rải truyền đơn tuyên
truyền về chính trị... trái lại Mỹ chỉ muốn tung người ra, cho nằm yên, len
lỏi vào các hàng ngũ quần chúng, chính quyền và nếu có thể thì cả tổ chức
Đảng, để tìm hiểu. Tuyệt đối không được có hành động phá hoại. Chỉ cần
nằm cho thật yên, ghi nhận, và nếu được thì tìm cách leo càng cao, lặn càng
sâu, càng tốt. Để đến khi nào hữu sự, cần thiết, thì mới ra tay hành động.
Nhưng vẫn không phải là các công tác phá hoại. Người Mỹ đã huấn luyện
nhân viên Việt Nam cách sử dụng các loại máy truyền tin, cách đưa tin,
cách chôn giấu tài liệu, vũ khí, cách sử dụng hóa chất trong ngành tình
báo..." [18]
Ông Trần Kim Tuyến điều khiển, là một người tương đối trong sạch, có đạo
đức, nhiệt tâm làm việc. Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội do ông điều
khiển, có trên 500 nhân viên, mặc dù bị vài người trong bộ máy lãnh đạo
chính quyền ghét nhưng cũng đã làm được nhiều việc trong lãnh vực an
ninh, tình báo.
Sau ngày chế độ Đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ, báo chí nói nhiều về tổ chức
"mật vụ Ngô Đình Cẩn" tại Miền Trung nhưng hoàn toàn không biết một
chút gì về tổ chức này, nên đã viết với giọng điệu vu khống, xuyên tạc đầy
ác ý.
Trong tác phẩm Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt tác giả Nguyễn Văn
https://thuviensach.vn
Minh cho biết vào nửa năm đầu năm 1957, ông Ngô Đình Cẩn đã đề nghị
lên Tổng Thống Diệm xin cho ông thực hiện một chính sách được ông gọi
là "Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ", "Để giúp
thành phần này dễ dàng thấu hiểu và chấp nhận chính sách, ông cho áp
dụng kỹ thuật khai thác và chế độ giam giữ đặc biệt đối với những người bị
bắt. Danh từ CHIÊU MỜI sau được đổi là CẢI TẠO theo đề nghị của các
cán bộ Cựu Kháng Chiến." [19]
Sau khi đề nghị được chấp thuận, ông Ngô Đình Cẩn giao cho Dương Văn
Hiếu thành lập Đoàn Công Tác Đặc Biệt gồm có 10 nhân viên với chủ
trương cùng ăn chung, ở chung, chơi chung, ngủ chung với tù nhân Cộng
Sản. Đoàn được tổ chức thành 4 ban: nghiên cứu, tuyên huấn, cải tạo, quản
trị. Sau đây là ghi nhận của Dư Văn Chất, một cán bộ tình báo của CS trong
cuốn Người Chân Chính: "Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là
một "siêu tổ chức" với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy so
sánh được. Nó tập trung quyền lực cao độ: cực quyền, với các phương thức
hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc và tàn bạo. Trong cái nhà tù không so...
Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết
Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử
trong chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Cung
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử trong
chiến tranh Việt Nam
https://thuviensach.vn
Tác giả: Nguyễn Đức Cung
Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử
trong chiến tranh Việt Nam
thành phố đổ nát
“… đằng sau biến cố này là một số hệ lụy mang tính lịch sử vẫn chưa thấy
giới nghiên cứu sử học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện diện và nổi cộm
lên …”
Trong chiến tranh Việt Nam, biến cố Tết Mậu Thân (1968) mà sách vở của
chế độ cộng sản Hà Nội gọi tên là cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi
Nghĩa (TCK-TKN) đã được các sử gia ngoại quốc xem là một bước ngoặt
lớn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Hầu hết các quan điểm khác
biệt của các phe lâm chiến như chính phủ Hoa Kỳ, chế độ Bắc Việt, chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa, giới truyền thông Hoa Kỳ và một số các quốc gia
khác, giới nghiên cứu sử học Hoa Kỳ, một số các nhân vật có dính líu ít
nhiều vào biến cố đó, ở phe này hay phe khác đã được bày tỏ qua sách vở,
tư liệu với nhiều mục đích khác nhau như tuyên truyền, biện minh, lên án,
kết tội, bào chữa, tái xác nhận v.v... Biến cố Mậu Thân cũng đã để lại nhiều
ấn tượng, kỷ niệm tang thương, đau lòng trong rất nhiều đồng bào Việt
https://thuviensach.vn
Nam tại Huế - Thừa Thiên nói riêng và đồng bào Miền Nam nói chung với
cái chết của biết bao người thân trong gia đình, bạn hữu và các nhân vật
hành chánh, chánh trị, các tu sĩ tôn giáo ngoại quốc cũng như trong nước,
kể cả các giáo sư đại học người nước ngoài đến phục vụ tại Viện Đại Học
Huế. Tuy nhiên, đằng sau biến cố này là một số hệ lụy mang tính lịch sử
vẫn chưa thấy giới nghiên cứu sử học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện
diện và nổi cộm lên thông qua biến cố này.
Bốn mươi năm qua, thời gian cũng đủ để cho một thành phố, như Huế
chẳng hạn, được hồi sinh nhưng đây cũng là dịp nhìn lại biến cố đó để tìm
hiểu những bài học lịch sử mà cho đến nay vẫn còn chứa nhiều bí ẩn chưa
biết được, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu sử học Hồ Khang: "Tết
Mậu Thân vẫn là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Từ một mức độ nào đó, có
người sẽ nghĩ là họ đã có cái nhìn toàn diện về Tết Mậu Thân, nhưng ở một
góc độ khác, nhiều người sẽ vẫn không thể hiểu và giải thích được sự kiện
này." [1]
Tuy nhiên việc tìm hiểu biến cố tết Mậu Thân sẽ không được rõ ràng nếu
chúng ta không lược qua giai đoạn lịch sử trước đó, kể từ thời Đệ nhất
Cộng hòa, bởi vì di sản chính trị của giai đoạn đó nếu chỉ còn là những đổ
nát, vỡ vụn thì ít nhất nó cũng cho chúng ta biết phần nào mức độ thất bại
của chúng ta và đồng minh qua sự kiện lịch sử quan trọng này tức là biến
cố Tết Mậu Thân (1968).
1. Di sản tinh thần đổ nát của một chế độ chính trị
Cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, một cuộc
chiến mà ngay đến cái tên gọi của nó vẫn còn là một vấn đề tranh cãi [2],
sau Nghị quyết 15 năm 1959 của CSBV và đạo luật 10/59 của chế độ
VNCH đã được đánh dấu bởi những biến cố lịch sử quan trọng cần phải
được nhìn đến trước khi đi sâu vào nghiên cứu lại sự kiện Tết Mậu Thân.
Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, ngày 20 tháng 7 năm 1954, chính
phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã phải lo định cư cho gần một triệu
người dân miền Bắc và miền Trung (bên kia vĩ tuyến 17) có cuộc sống an
cư lạc nghiệp tại miền Nam, rồi lấy lại chủ quyền từ tay người Pháp, ổn
định tình hình chính trị, xây dựng nền Cộng Hòa trên vùng đất đầy dấu tích
https://thuviensach.vn
của chế độ thuộc địa và thực dân, nhất là tiến hành quốc sách chống Cộng
nhằm tiêu diệt hết hạ tầng cơ sở của Cộng Sản cố gài lại tại Miền Nam sau
khi Việt Minh đã rút hết khoảng 80.000 cán binh CS ra miền Bắc theo các
điều khoản quy định của bản hiệp định này. Những thành quả mà chính phủ
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thu hoạch được trong chín năm cầm
quyền (1954-1963) cần phải được nghiên cứu lại trong tinh thần đánh giá
công bình, đúng đắn dưới ánh sáng của lịch sử.
1.1. Vấn đề ý thức hệ chính trị.
Trong cuộc chiến giữa hai miền nam và bắc Việt Nam, điểm quan trọng
trong sự tranh chấp Quốc-Cộng đó là vai trò của một hệ thống tư tưởng mà
chế độ Đệ nhất Cộng hòa đã sử dụng làm lợi khí đấu tranh để xây dựng các
cơ chế dân chủ và xã hội. Chủ thuyết của miền nam lúc bấy giờ là chủ
thuyết Nhân Vị vốn được coi là nền tảng tư tưởng hoạt động của Cần Lao
Nhân Vị Cách Mạng Đảng do ông Ngô Đình Nhu thành lập tại Sài gòn năm
1950.
Về phương diện tư tưởng, ông Ngô Đình Nhu đã có ý thức về sự cần thiết
của một chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước. Ông đưa ra chủ
thuyết Nhân Vị (Personalism) khơi nguồn từ một số triết thuyết của Tây
Phương như nhóm Esprit của Emmanuel Mounier, một số tông thư của các
Giáo Hoàng Lêô XIII hay Giáo Hoàng Piô XI, đã được ông hoàn chỉnh lại
để phù hợp với tình hình của một quốc gia Á châu, nhằm đối đầu với chủ
nghĩa Cộng Sản ở miền Bắc. Ngày 8-1-1963, trong cuộc nói chuyện với
một cử tọa gồm các nhà trí thức, các giáo sư đại học, giáo sư trung học và
cán bộ tại Trung Tâm Thị Nghè, ông Ngô Đình Nhu giải thích rằng:
"...mình đánh nhau với Cộng Sản, bây giờ Cộng Sản nó đánh mình với một
Ý Thức Hệ, mà chúng ta không có một Ý Thức Hệ cứng rắn, rõ ràng, trong
tâm trí chúng ta để đối lại, để có lẽ sống mà đánh Cộng Sản thì chúng ta sẽ
bị ý thức hệ Cộng Sản lan tràn lung lạc." [3]
Cũng trong bài nói chuyện đó, ông Ngô Đình Nhu nhấn mạnh: " Muốn
phục vụ con người trong xã hội thì con người đó phải tiến, xã hội đó phải
tiến. Nhưng xã hội chỉ tiến được với những con người có ý thức nhiệm vụ.
Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta phải nhìn nhận rằng cần phải có một ý
https://thuviensach.vn
thức hệ tiến bộ. Ý Thức Hệ chúng tôi chủ trương là Ý Thức Hệ Nhân Vị.
Về Tư Tưởng Nhân Vị có nhiều thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tín ngưỡng
hữu hình, một tín ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại nhuốm phần nào
vô thức... Ý thức hệ Nhân Vị chúng tôi chủ trương nó rất rộng rãi và không
cần phải đi sâu vào các đạo giáo. Tất cả các đạo giáo, tất cả các triết lý
khác, có thể cùng đi với chúng ta được trong ý thức hệ đó." [4]
Sau đây là một đoạn triển khai thêm do linh mục Bửu Dưỡng viết, trích từ
bản tóm tắt bài thuyết trình của ông về chủ nghĩa Nhân Vị: "Nhân là người.
Vị là thứ bậc. Nhân-Vị là tính cách con người sống đầy đủ con người theo
thứ bậc của mình, đối nội cũng như đối ngoại. Theo nghĩa đó, hai chữ
Nhân-Vị đầy đủ hơn chữ Personne Humaine của Pháp ngữ, vì hai chữ
Personne Humaine nhấn mạnh đến ý nghĩa của chữ nhân mà ít chú trọng
tới vị. Cần phải hiểu theo một ý nghĩa đầy đủ của cả hai chữ. Nhân là sống
đầy đủ con người. Vị là sống theo đúng thứ bậc của mình trong những
tương quan với người khác và vạn vật. Như vậy thì quan niệm về nhân-vị
tùy thuộc quan niệm về con người và quan niệm các tương quan." [5]
Nhìn thấy cái sắc bén của chủ nghĩa Nhân Vị của nền Đệ nhất Cộng Hòa,
một sử gia ngoại quốc, Robert Scigliano đưa ra nhận xét : "Chủ nghĩa Nhân
Vị nhấn mạnh đến sự điều hòa những ước vọng vật chất cũng như tinh thần
của cá nhân với các nhu cầu xã hội của cộng đồng và các nhu cầu chính trị
của quốc gia. Nó nhằm tìm kiếm một con đường trung dung giữa chủ nghĩa
cá nhân tư bản và chủ nghĩa tập thể mác-xít." [6]
Một nữ ký giả Hoa Kỳ, bà Suzanne Labin, vốn có rất nhiều mối liên hệ với
các viên chức của chế độ Miền Nam dưới thời Tổng Thống Ngô Đình
Diệm, trong cuốn sách Vietnam, an eye-witness account, có trích lại bài viết
về chủ nghĩa Nhân Vị của bà Ngô Đình Nhu (đăng trên báo The Wanderer
ngày 4.6.1964) lúc bấy giờ đang sống lưu vong ở hải ngoại sau biến cố đảo
chính 1-11-1963.
Trong một bài báo nhan đề “Cần Lao Nhân Vị”, linh mục Nguyễn Phương,
nguyên giáo sư sử học tại Viện Đại Học Huế trước năm 1975, đã viết: "Đối
với những người tị nạn đã trưởng thành, cần lao nhân vị là những tiếng
quen biết. Cũng có lẽ vì quen biết quá nên không mấy ai lưu tâm đến ý
https://thuviensach.vn
nghĩa của nó. Sự thật, mấy tiếng đó xếp lại bên nhau có thể tạo nên một
phương châm thiết thực nhất và cao cả nhất cho đời sống cá nhân và xã hội.
Cần lao nhân vị gọn gàng là một triết lý của đạo làm người. Cần lao không
có nghĩa là làm việc suông, vì chữ cần nói lên rằng người làm việc đang
tâm hướng về một mục tiêu nào đó. Và mục tiêu này được tức khắc bày tỏ
bằng hai tiếng nhân vị. Cần lao là để phát huy và để bảo tồn nhân vị, chứ
không phải để phục vụ tư lợi hay để làm mọi cho giai cấp đấu tranh. Nói
cách khác, cần lao nhân vị là đặt giá trị con người trên việc làm, và con
người lấy việc làm để củng cố chỗ đứng của mình giữa trời và đất."
Tác giả Nguyễn Phương nêu ra thông điệp của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II có tên Laborem Exercens (con người làm việc) trong đó Đức
Giáo Hoàng đặt vấn đề lao động trên một nền tảng chưa chủ thuyết kinh tế
hiện có nào đã đặt, nhìn con người qua việc làm, bất cứ việc làm này thuộc
phạm vi vật chất hay tinh thần. Xin thử trích một vài đoạn từ thông điệp
Laborem Exercens: "Khi chúng tôi nói đến sự tương phản giữa lao động và
tư bản, không phải chúng tôi nói đến một quan niệm trừu tượng hay một
mãnh lực phi vị (impersonal) đang chuyển hành trong cuộc sản xuất kinh
tế. Đàng sau cả hai quan niệm đó (lao động và tư bản) vốn có con người
sống động, con người như thấy được trong thực tế của cuộc đời."
Vì đó, theo tác giả Nguyễn Phương, vấn đề lao động trở thành vấn đề cần
lao, nó không còn là nô lệ của lợi tức như trong chủ thuyết tư bản, hay nô lệ
của đảng phái, như trong chế độ Cộng Sản, mà nó là của con người làm
việc, của xã hội loài người. Thông điệp đề cập đến một lối xã hội hóa gọi là
xã hội hóa thỏa đáng (satisfactory socialization) khác hẳn với lối xã hội hóa
với nhà nước hay đảng làm chủ nhân ông của Cộng sản. Xã hội hóa thỏa
đáng là đem một số các phương tiện sản xuất làm của chung nhưng dưới sự
điều động của cần lao và tư bản. Như thế sẽ thực hiện được chủ thuyết bảo
toàn giá trị con người, mà thông điệp gọi là thuyết nhân vị (personalism).
Với chính sách đặc thù của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cần Lao Nhân
Vị là "một chính sách được trình bày với màu sắc của địa phương. Con
người không được quan niệm như là tối thượng, mà là một loại đầu đội
Trời chân đạp đất. Ở trong tam tài Thiên Địa Nhân, con người không thể
https://thuviensach.vn
nào hơn Ông Trời, nhưng lại không thể nào thua vật chất. Đất, và tất cả
những gì thuộc về đất, là để phục vụ con người. Đàng khác, con người
không thể hoàn tất phận sự của mình nếu không sử dụng vật chất. Cần lao,
sự chăm chú làm việc, cốt là để thể hiện giá trị con người, cốt là để tô bồi
chỗ đứng của con người. - NHÂN VỊ - khoảng giữa trời cao và đất rộng.
Trong xã hội CẦN LAO NHÂN VỊ, cố nhiên không có cảnh con người làm
nô lệ con người, huống hồ là làm nô lệ phương tiện sản xuất. Nơi đây, chỉ
có đồng lao cộng tác để thành tựu cuộc cách mạng NHÂN VỊ, nó ăn cả về
chiều cao, chiều rộng và chiều sâu. Về chiều sâu, con người cần lao luyện
tập cho có thành tâm thiện ý. Phải tu thân đã mới mong tề gia và bình thiên
hạ. Việc cách mạng phải ăn cả về chiều rộng, vì con người cần phải tri kỷ,
tri nhân, cho nên phải sống trong cộng đồng và phải cùng nhau đồng tiến.
Chiều cao của cuộc cách mạng nhân vị là nhờ cần lao mà vươn lên, vươn
đến Chân, Thiện, Mỹ để thông cảm với Đấng Trên Đầu Trên Cổ, với
Thượng Đế. Trong chính sách cần lao nhân vị, con người sẽ làm viên mãn
điều mà "bổn phận và lương tri" bảo phải làm trong bất cứ trường hợp nào
(nên nhớ lại lời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm trả lời cho Đại sứ Hoa Kỳ
Cabot Lodge chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, khi cụ Diệm hỏi đại sứ này
về thái độ của Washington với cuộc chính biến)." [7]
Để thấy những liên hệ nhân quả của chủ thuyết nhân vị đối với biến cố Tết
Mậu Thân về sau, thiết tưởng nên đọc thêm một số các tư liệu sau đây nói
về chính sách, kế hoạch quốc gia của VNCH lúc bấy giờ:
"Thuyết Nhân Vị Á Đông do ông (Ngô Đình Nhu) đề xướng được ông giản
lược bằng phương trình sau đây:
TAM TÚC + TAM GIÁC = TAM NHÂN
https://thuviensach.vn
thành phố tang tóc
Và ông giải thích vắn tắt:
A. TAM TÚC là:
1.- Tự túc về Tư Tưởng là tự mình suy luận, cân nhắc mà lựa chọn một
chính nghĩa để phụng sự và một khi đã chọn rồi thì không còn lay chuyển
nữa. Chính nghĩa đó là cuộc cách mạng chính trị, xã hội, quân sự mà ta
đang cụ thể hóa trong các Ấp Chiến Lược. Sau đó ta tự phát huy chính
nghĩa trong tâm hồn, tự học tập và tự bồi dưỡng tinh thần của ta, không cần
ai thôi thúc. Tự túc về tinh thần, về tư tưởng, thì tất nhiên trong mọi trường
hợp khó khăn ta vẫn vững tâm, hoặc dù có nội loạn ở Thủ Đô Sài Gòn
chăng nữa, thì ta cũng không bị hoang mang hay bị lung lạc. Tự túc về tư
tưởng để phát huy và bành trướng chủ nghĩa. Muốn được vậy thì phải:
2.- Tự túc về Tổ chức và Tiếp Liệu, là tự ta tìm tòi, phát huy sáng kiến để
có nhiều nhân vật lực để hoạt động, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của người
khác. Chính phủ chỉ cần giúp ta một số vốn căn bản, dựa vào đó ta tìm cách
biến cải thêm để hành động và mở rộng phạm vi hoạt động. Chẳng hạn hiện
giờ ta thiếu kẽm gai để làm Ấp Chiến Lược, thì ta cố gắng tìm vật liệu khả
dĩ làm tê liệt cơ thể bất cứ ai động đến (như đồng bào Thượng đã làm trên
cao nguyên); hoặc dùng địa hình địa vật để lồng hệ thống bố phòng ACL
vào trong đó, đỡ cần đào hào hay rào kẽm gai. Muốn thực hiện Tự túc về
Tổ chức thì cần phải:
3.- Tự túc về Kỹ thuật, là phát huy khả năng chiến đấu, và khai thác, phát
triển khả năng của nhân vật lực sẵn có đến tột mức 100 phần trăm.
Ba bộ phận của Tam túc có liên hệ mật thiết với nhau: muốn Tự túc về Tổ
chức mà không Tự túc về Kỹ thuật thì Tổ chức không thành; thiếu Tự túc
Tư Tưởng thì tất nhiên sẽ không có Tự túc Tổ Chức và Tự túc Kỹ Thuật.
Từ quan niệm Tam Túc đó phát sinh ra quan niệm Tam Giác.
B. TAM GIÁC là:
1.- Cảnh giác về Sức Khỏe (thể xác) nghĩa là không được đau ốm. Do đó ta
phải tránh tất cả những việc làm phương hại cho thân xác ta như đau ốm, tứ
đổ tường. Bảo đảm sức khỏe thì mới bảo đảm được khả năng làm tròn
https://thuviensach.vn
nhiệm vụ.
2.- Cảnh giác về Đạo Đức và Tác Phong Đạo Đức, vì tác phong và đạo đức
là điều kiện cốt yếu của cán bộ, thiếu tác phong đạo đức sẽ chi phối tư
tưởng, sẽ biến khả năng làm việc thiện ra việc ác, chưa kể việc thất nhân
tâm.
3.- Cảnh giác về Trí Tuệ là phát huy óc sáng tạo, sáng tác khả năng chiến
đấu của nhân vật lực sẵn có đến tột độ.
Vậy, không có sức khỏe, đau ốm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến óc sáng tạo và
thu hẹp phạm vi hoạt động của đạo đức. Không có óc sáng tạo thì dù có sức
khỏe, có đạo đức, cũng không có khả năng bồi bổ vào sự thiếu thốn nhân
vật lực, là tình trạng của một nước chậm tiến. Có sức khỏe, có óc sáng tạo,
nhưng không có đạo đức, thì sức khỏe ấy, óc sáng tạo ấy, sẽ phục vụ cho
phi nghĩa, không phải cho chính nghĩa..." [8]
Thật sự các nhà lãnh đạo của nền Đệ nhất Cộng hòa đã thấy được sự cần
thiết của một thứ vũ khí tư tưởng trong cuộc chiến tranh ý thức hệ đối diện
với Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng Sản. Tiếc thay đang khi họ mang hoài
bão để huấn luyện và trang bị cho cán bộ và nhân dân Miền Nam thứ vũ khí
cần thiết này, thì Hoa Kỳ, người bạn đồng minh của chúng ta, đã không
chia sẻ cùng một tâm thức như vậy.
1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.
Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách
Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà lãnh đạo của nền Đệ
nhất Cộng hòa đã có một cái nhìn xuyên suốt trong chính sách an dân của
mình.
Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 928-NV thành
lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do
ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, vì số người Công
Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ
tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi
điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875, 478
người và họ được đưa đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi
https://thuviensach.vn
định cư các nơi khác tùy ý họ lựa chọn.
Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ nhất Cộng
Hòa và một khi đã bị giải thể hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ
con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Cộng Hòa) tất nhiên sự
kiện đó đã góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân,
mà rõ ràng nhất là hệ thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và
nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến lược là
sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn
Ngô Đình Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đã một thời khốn đốn
không hoạt động được gì hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh
nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh.
Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tĩnh Man
Tiễu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1863,
Nguyễn Tấn đã áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá
Vách, Quảng Ngãi. Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đã
ghi lại như sau:
"Mới đặt chức Tiễu phủ sứ ở cơ Tĩnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc
quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính
sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu
hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thự
án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác
man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong.
Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Đến đây, chuẩn cho
thăng hàm thị độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà. Tấn
dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc
khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh,
tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết
các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền
vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thếu cho. Còn 1, 2 nhà nghèo,
ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời
về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà
https://thuviensach.vn
để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì
bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), thì phái quân đến phòng giữ,
ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thư sức dân." [9]
Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các
quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược nhằm giải
quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào
nam và sau đó để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái
hoạt động ở các vùng nông thôn miền nam.
Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam (1954-1994), tác
giả Lâm Thanh Liêm đã viết về Khu trù mật như sau: "Khu Trù Mật là một
cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào
đấy sinh sống trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông,
do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến
tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân
sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô
lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại
được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở
giống tựa như trường hợp của một thành phố:
* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm
buôn bán).
* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một bảo sanh
viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một
phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).
Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ
lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các
trục giao thông).
* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể
được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các
thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.
* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ
khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ lên hệ với ngành nông nghiệp
địa phương.
https://thuviensach.vn
* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của
thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình
phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác
(chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà
bảo sanh v.v...)
Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của
Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật,
chính quyền địa phương còn trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể
biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt
xâm nhập vào Nam.
Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính
cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để
tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu
thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát
cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà
(với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một
chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh
vườn rau để tự túc mưu sinh." [10]
Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản
Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật vì ngoài việc ngăn
chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở
những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một
trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản. [11]
Trong tác phẩm Ngo Dinh Diem en 1963: Une autre paix manquée, tác giả
Nguyễn Văn Châu, cựu Trung tá, nguyên Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm
Lý, Bộ Quốc Phòng cho rằng sự chỉ trích chính quyền về Khu trù mật chỉ
nhắm vào những chuyện xấu về nhân sự, và dư luận đối lập đi xa hơn nữa
cho rằng chính quyền ép buộc dân bỏ làng mạc nhà cửa. [12]
Đối với bài học lịch sử cũ về Ấp chiến lược, thiết tưởng cần đọc Suzanne
Labin, một nhà văn kiêm phân tích gia vốn nhiều lần tới thăm Miền Nam
Việt Nam trong thời gian Đệ nhất Cộng hòa, từng được Tổng Thống Ngô
Đình Diệm tiếp kiến nhiều lần, đã có những buổi thuyết trình chính trị tại
https://thuviensach.vn
Sài Gòn và nói chuyện tại một số tỉnh. Trong cuốn sách Vietnam, an eyewitness account (bản tiếng Pháp nhan đềVietnam, révélation d un témoin),
Suzanne Labin từng viết: "Khi nhà Ngô bị lật đổ, có tám ngàn ấp chiến
lược đã được thành lập xong và đang vận hành, với dự trù khoảng bốn ngàn
ấp nữa cần thiết để bảo vệ cả nước. Nông dân sống rải rác dọc theo các con
kênh, được yêu cầu dời chuyển để qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung
theo kiểu Âu châu. Mỗi làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai
hoặc hàng rào tre vót nhọn đằng sau có tăng cường hệ thống hào rộng gài
mìn để chận đứng Việt Cộng mò vào ban đêm. Trong ấp, mỗi gia đình đều
được khuyến khích đào một hầm trú ẩn ngay trước nhà họ. Tại sao vậy?
Khi Việt Cộng tấn công, trước đây người dân thường quá sợ nên chạy tứ
tung gây trở ngại cho lực lượng bảo vệ nhiều khi bắn cả vào người nhà
mình. Từ khi có hầm trú, người già và trẻ con cứ việc núp dưới hầm để xạ
trường quang đảng cho lực lượng chiến đấu hành sử.
"Người dân làng được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác, giới tính, và tùy theo khả
năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt. Lực lượng tự vệ và thanh
niên cộng hòa là những đơn vị chiến đấu; những dân làng khỏe mạnh khác
thì tham gia công tác phòng vệ, thanh thiếu niên thì vót chông. Người có
nhiệm vụ chiến đấu được cấp vũ khí cá nhân mang luôn bên mình ngay cả
khi ở nhà. Nhiều làng mạc được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên
thanh. Máy truyền tin được cung cấp giúp cho các người bảo vệ ấp chiến
lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một khi bị tấn công. Nhiệm
vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù, vô hiệu hóa chúng ngoài các vành
đai của ấp, cố ngăn chúng không lủi mất vào rừng trong khi lực lượng
chính quy kéo tới. Bấy giờ, Việt Cộng thấy quá khó khăn khi xâm nhập một
vùng dân cư có phòng thủ và ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở ngại." [13]
Bà Suzanne Labin còn nhắc lại câu nói có tính cách cô đọng của Tổng
Thống Ngô Đình Diệm rằng: "...để nghiền nát quân thù giữa CÁI BÚA của
sức mạnh cơ động và HÒN ĐE của các ấp chiến lược." [14] Bà cho rằng ấp
chiến lược chính là tâm điểm của một cuộc cách mạng chính trị và xã hội :
đó là lý do tồn tại của Ấp chiến lược vì đã đưa lại một nền tảng vững chắc
cho sự tiến bộ về kinh tế. [15]
https://thuviensach.vn
Chính sách Ấp chiến lược được thực hiện từ năm 1961 với sự cố vấn của
Sir Robert Thompson, chuyên viên về chiến thuật phản nổi dậy người Anh
cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và Dennis Duncanson được kể
là một kế hoạch táo bạo nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Nhận định tổng quát về kết quả của chính sách Ấp chiến lược, tác giả
Nguyễn Văn Châu đã khẳng định: "Quốc sách Ấp chiến lược sau hai năm
đã thành công trong việc ngăn chặn làm cho Việt Cộng không còn sống
bám rút bòn nhân dân. Vấn đề an ninh làng ấp được vững vàng hơn, quân
đội chính quy quốc gia trở thành lực lượng hành quân chủ động gây cho du
kích cộng sản nhiều thất bại đáng kể, khiến cho các lực lượng du kích rơi
vào thế bị động và mất thăng bằng sau khi đã mất hạ tầng cơ sở. Tinh thần
quân đội quốc gia lên cao, dân chúng được bảo vệ an ninh và du kích Việt
Cộng càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa." [16]
Trong một bài báo mới đây nhan đề 40 năm ngày đảo chính chế độ Ngô
Đình Diệm: Cái nhìn từ Hà Nội", tác giả Bùi Tín, cựu Đại tá quân đội
CSBV, Phó chủ nhiệm tờ báo Nhân Dân Chủ Nhật đã phải xác nhận ưu thế
của quốc sách ấp chiến lược gây cho lực lượng xâm lăng của Cộng Sản
nhiều khó khăn và thất bại trước đây, đã thẳng thắn bày tỏ rằng: "Cùng với
thời gian và sự tìm hiểu những tư liệu lịch sử, tôi thấy cần phải trả lại lẽ
công bằng cho nhân vật lịch sử này... Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân
vật chính trị đặc sắc, có lòng yêu nước sâu sắc, có tính cương trực thanh
liêm, nếp sống đạm bạc giản dị." [17]
Một khi chính sách Ấp chiến lược đã bị nhóm tướng lãnh làm đảo chánh
giải thể, an ninh nông thôn bị bỏ ngỏ trăm phần trăm thì việc lực lượng võ
trang VC xâm nhập thành phố một cách rất dễ dàng như sẽ thấy qua vụ Tết
Mậu Thân thiết tưởng cũng là điều dễ hiểu. Nhóm quân phiệt cầm quyền
chỉ cần có chỗ dựa là Hoa Kỳ mà không cần chỗ dựa cốt yếu là nhân dân.
Bởi thế cho nên khi Hoa Kỳ bàn giao một nửa đất nước Việt Nam vào tay
Cộng Sản, bọn họ chỉ có việc im lặng thi hành và một vài lời phản đối chỉ
là cử điệu chiếu lệ, giả dối mà thôi.
1.3. Công tác tình báo
https://thuviensach.vn
Nhắc lại các hoạt động tình báo thời Đệ nhất Cộng Hòa để thấy rằng qua
biến cố Tết Mậu Thân như chúng ta sẽ bàn đến trong phần sau, dư luận đã
lên án việc Hoa Kỳ và chính quyền của Đệ Nhị Cộng Hòa đã không coi
trọng vấn đề tình báo trước các hoạt động của CS. Chính nhờ công tác tình
báo được thực hiện rốt ráo dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa đã bảo đảm cho sự
vững mạnh của chế độ trong một thời gian dài.
Cơ quan tình báo trung ương cần nói tới dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa là Sở
Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội của bác sĩ Trần Kim Tuyến, trực thuộc Phủ
Tổng Thống tức là CIA/VN do sự gợi ý của Hoa Kỳ. Tác giả Vĩnh Phúc
trong cuốn Những huyền thoại & sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm đã viết
nhiều về Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội, cho biết có sự bất đồng giữa
người Mỹ và hai ông Nhu-Tuyến về hoạt động của sở này, thí dụ "phía
VNCH muốn thả người ra ngoài Bắc để phá hoại, rải truyền đơn tuyên
truyền về chính trị... trái lại Mỹ chỉ muốn tung người ra, cho nằm yên, len
lỏi vào các hàng ngũ quần chúng, chính quyền và nếu có thể thì cả tổ chức
Đảng, để tìm hiểu. Tuyệt đối không được có hành động phá hoại. Chỉ cần
nằm cho thật yên, ghi nhận, và nếu được thì tìm cách leo càng cao, lặn càng
sâu, càng tốt. Để đến khi nào hữu sự, cần thiết, thì mới ra tay hành động.
Nhưng vẫn không phải là các công tác phá hoại. Người Mỹ đã huấn luyện
nhân viên Việt Nam cách sử dụng các loại máy truyền tin, cách đưa tin,
cách chôn giấu tài liệu, vũ khí, cách sử dụng hóa chất trong ngành tình
báo..." [18]
Ông Trần Kim Tuyến điều khiển, là một người tương đối trong sạch, có đạo
đức, nhiệt tâm làm việc. Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội do ông điều
khiển, có trên 500 nhân viên, mặc dù bị vài người trong bộ máy lãnh đạo
chính quyền ghét nhưng cũng đã làm được nhiều việc trong lãnh vực an
ninh, tình báo.
Sau ngày chế độ Đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ, báo chí nói nhiều về tổ chức
"mật vụ Ngô Đình Cẩn" tại Miền Trung nhưng hoàn toàn không biết một
chút gì về tổ chức này, nên đã viết với giọng điệu vu khống, xuyên tạc đầy
ác ý.
Trong tác phẩm Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt tác giả Nguyễn Văn
https://thuviensach.vn
Minh cho biết vào nửa năm đầu năm 1957, ông Ngô Đình Cẩn đã đề nghị
lên Tổng Thống Diệm xin cho ông thực hiện một chính sách được ông gọi
là "Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ", "Để giúp
thành phần này dễ dàng thấu hiểu và chấp nhận chính sách, ông cho áp
dụng kỹ thuật khai thác và chế độ giam giữ đặc biệt đối với những người bị
bắt. Danh từ CHIÊU MỜI sau được đổi là CẢI TẠO theo đề nghị của các
cán bộ Cựu Kháng Chiến." [19]
Sau khi đề nghị được chấp thuận, ông Ngô Đình Cẩn giao cho Dương Văn
Hiếu thành lập Đoàn Công Tác Đặc Biệt gồm có 10 nhân viên với chủ
trương cùng ăn chung, ở chung, chơi chung, ngủ chung với tù nhân Cộng
Sản. Đoàn được tổ chức thành 4 ban: nghiên cứu, tuyên huấn, cải tạo, quản
trị. Sau đây là ghi nhận của Dư Văn Chất, một cán bộ tình báo của CS trong
cuốn Người Chân Chính: "Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là
một "siêu tổ chức" với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy so
sánh được. Nó tập trung quyền lực cao độ: cực quyền, với các phương thức
hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc và tàn bạo. Trong cái nhà tù không so...
 





