VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    Từ ấp chiến lược đến biến cố Tết Mậu Thân

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:46' 05-04-2024
    Dung lượng: 334.8 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết
    Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử
    trong chiến tranh Việt Nam
    Tác giả: Nguyễn Đức Cung
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

    Nguồn: http://vnthuquan.net

    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.


    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử trong
    chiến tranh Việt Nam



    https://thuviensach.vn

    Tác giả: Nguyễn Đức Cung
    Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ luỵ lịch sử
    trong chiến tranh Việt Nam

    thành phố đổ nát

    “… đằng sau biến cố này là một số hệ lụy mang tính lịch sử vẫn chưa thấy
    giới nghiên cứu sử học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện diện và nổi cộm
    lên …”

    Trong chiến tranh Việt Nam, biến cố Tết Mậu Thân (1968) mà sách vở của
    chế độ cộng sản Hà Nội gọi tên là cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi
    Nghĩa (TCK-TKN) đã được các sử gia ngoại quốc xem là một bước ngoặt
    lớn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Hầu hết các quan điểm khác
    biệt của các phe lâm chiến như chính phủ Hoa Kỳ, chế độ Bắc Việt, chính
    phủ Việt Nam Cộng Hòa, giới truyền thông Hoa Kỳ và một số các quốc gia
    khác, giới nghiên cứu sử học Hoa Kỳ, một số các nhân vật có dính líu ít
    nhiều vào biến cố đó, ở phe này hay phe khác đã được bày tỏ qua sách vở,
    tư liệu với nhiều mục đích khác nhau như tuyên truyền, biện minh, lên án,
    kết tội, bào chữa, tái xác nhận v.v... Biến cố Mậu Thân cũng đã để lại nhiều
    ấn tượng, kỷ niệm tang thương, đau lòng trong rất nhiều đồng bào Việt

    https://thuviensach.vn

    Nam tại Huế - Thừa Thiên nói riêng và đồng bào Miền Nam nói chung với
    cái chết của biết bao người thân trong gia đình, bạn hữu và các nhân vật
    hành chánh, chánh trị, các tu sĩ tôn giáo ngoại quốc cũng như trong nước,
    kể cả các giáo sư đại học người nước ngoài đến phục vụ tại Viện Đại Học
    Huế. Tuy nhiên, đằng sau biến cố này là một số hệ lụy mang tính lịch sử
    vẫn chưa thấy giới nghiên cứu sử học đề cập tới mặc dù chúng vẫn hiện
    diện và nổi cộm lên thông qua biến cố này.

    Bốn mươi năm qua, thời gian cũng đủ để cho một thành phố, như Huế
    chẳng hạn, được hồi sinh nhưng đây cũng là dịp nhìn lại biến cố đó để tìm
    hiểu những bài học lịch sử mà cho đến nay vẫn còn chứa nhiều bí ẩn chưa
    biết được, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu sử học Hồ Khang: "Tết
    Mậu Thân vẫn là chủ đề gây nhiều tranh cãi. Từ một mức độ nào đó, có
    người sẽ nghĩ là họ đã có cái nhìn toàn diện về Tết Mậu Thân, nhưng ở một
    góc độ khác, nhiều người sẽ vẫn không thể hiểu và giải thích được sự kiện
    này." [1]

    Tuy nhiên việc tìm hiểu biến cố tết Mậu Thân sẽ không được rõ ràng nếu
    chúng ta không lược qua giai đoạn lịch sử trước đó, kể từ thời Đệ nhất
    Cộng hòa, bởi vì di sản chính trị của giai đoạn đó nếu chỉ còn là những đổ
    nát, vỡ vụn thì ít nhất nó cũng cho chúng ta biết phần nào mức độ thất bại
    của chúng ta và đồng minh qua sự kiện lịch sử quan trọng này tức là biến
    cố Tết Mậu Thân (1968).

    1. Di sản tinh thần đổ nát của một chế độ chính trị

    Cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, một cuộc
    chiến mà ngay đến cái tên gọi của nó vẫn còn là một vấn đề tranh cãi [2],
    sau Nghị quyết 15 năm 1959 của CSBV và đạo luật 10/59 của chế độ
    VNCH đã được đánh dấu bởi những biến cố lịch sử quan trọng cần phải
    được nhìn đến trước khi đi sâu vào nghiên cứu lại sự kiện Tết Mậu Thân.

    Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, ngày 20 tháng 7 năm 1954, chính
    phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã phải lo định cư cho gần một triệu
    người dân miền Bắc và miền Trung (bên kia vĩ tuyến 17) có cuộc sống an
    cư lạc nghiệp tại miền Nam, rồi lấy lại chủ quyền từ tay người Pháp, ổn
    định tình hình chính trị, xây dựng nền Cộng Hòa trên vùng đất đầy dấu tích
    https://thuviensach.vn

    của chế độ thuộc địa và thực dân, nhất là tiến hành quốc sách chống Cộng
    nhằm tiêu diệt hết hạ tầng cơ sở của Cộng Sản cố gài lại tại Miền Nam sau
    khi Việt Minh đã rút hết khoảng 80.000 cán binh CS ra miền Bắc theo các
    điều khoản quy định của bản hiệp định này. Những thành quả mà chính phủ
    của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thu hoạch được trong chín năm cầm
    quyền (1954-1963) cần phải được nghiên cứu lại trong tinh thần đánh giá
    công bình, đúng đắn dưới ánh sáng của lịch sử.

    1.1. Vấn đề ý thức hệ chính trị.

    Trong cuộc chiến giữa hai miền nam và bắc Việt Nam, điểm quan trọng
    trong sự tranh chấp Quốc-Cộng đó là vai trò của một hệ thống tư tưởng mà
    chế độ Đệ nhất Cộng hòa đã sử dụng làm lợi khí đấu tranh để xây dựng các
    cơ chế dân chủ và xã hội. Chủ thuyết của miền nam lúc bấy giờ là chủ
    thuyết Nhân Vị vốn được coi là nền tảng tư tưởng hoạt động của Cần Lao
    Nhân Vị Cách Mạng Đảng do ông Ngô Đình Nhu thành lập tại Sài gòn năm
    1950.
    Về phương diện tư tưởng, ông Ngô Đình Nhu đã có ý thức về sự cần thiết
    của một chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước. Ông đưa ra chủ
    thuyết Nhân Vị (Personalism) khơi nguồn từ một số triết thuyết của Tây
    Phương như nhóm Esprit của Emmanuel Mounier, một số tông thư của các
    Giáo Hoàng Lêô XIII hay Giáo Hoàng Piô XI, đã được ông hoàn chỉnh lại
    để phù hợp với tình hình của một quốc gia Á châu, nhằm đối đầu với chủ
    nghĩa Cộng Sản ở miền Bắc. Ngày 8-1-1963, trong cuộc nói chuyện với
    một cử tọa gồm các nhà trí thức, các giáo sư đại học, giáo sư trung học và
    cán bộ tại Trung Tâm Thị Nghè, ông Ngô Đình Nhu giải thích rằng:
    "...mình đánh nhau với Cộng Sản, bây giờ Cộng Sản nó đánh mình với một
    Ý Thức Hệ, mà chúng ta không có một Ý Thức Hệ cứng rắn, rõ ràng, trong
    tâm trí chúng ta để đối lại, để có lẽ sống mà đánh Cộng Sản thì chúng ta sẽ
    bị ý thức hệ Cộng Sản lan tràn lung lạc." [3]

    Cũng trong bài nói chuyện đó, ông Ngô Đình Nhu nhấn mạnh: " Muốn
    phục vụ con người trong xã hội thì con người đó phải tiến, xã hội đó phải
    tiến. Nhưng xã hội chỉ tiến được với những con người có ý thức nhiệm vụ.
    Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta phải nhìn nhận rằng cần phải có một ý
    https://thuviensach.vn

    thức hệ tiến bộ. Ý Thức Hệ chúng tôi chủ trương là Ý Thức Hệ Nhân Vị.
    Về Tư Tưởng Nhân Vị có nhiều thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tín ngưỡng
    hữu hình, một tín ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại nhuốm phần nào
    vô thức... Ý thức hệ Nhân Vị chúng tôi chủ trương nó rất rộng rãi và không
    cần phải đi sâu vào các đạo giáo. Tất cả các đạo giáo, tất cả các triết lý
    khác, có thể cùng đi với chúng ta được trong ý thức hệ đó." [4]

    Sau đây là một đoạn triển khai thêm do linh mục Bửu Dưỡng viết, trích từ
    bản tóm tắt bài thuyết trình của ông về chủ nghĩa Nhân Vị: "Nhân là người.
    Vị là thứ bậc. Nhân-Vị là tính cách con người sống đầy đủ con người theo
    thứ bậc của mình, đối nội cũng như đối ngoại. Theo nghĩa đó, hai chữ
    Nhân-Vị đầy đủ hơn chữ Personne Humaine của Pháp ngữ, vì hai chữ
    Personne Humaine nhấn mạnh đến ý nghĩa của chữ nhân mà ít chú trọng
    tới vị. Cần phải hiểu theo một ý nghĩa đầy đủ của cả hai chữ. Nhân là sống
    đầy đủ con người. Vị là sống theo đúng thứ bậc của mình trong những
    tương quan với người khác và vạn vật. Như vậy thì quan niệm về nhân-vị
    tùy thuộc quan niệm về con người và quan niệm các tương quan." [5]

    Nhìn thấy cái sắc bén của chủ nghĩa Nhân Vị của nền Đệ nhất Cộng Hòa,
    một sử gia ngoại quốc, Robert Scigliano đưa ra nhận xét : "Chủ nghĩa Nhân
    Vị nhấn mạnh đến sự điều hòa những ước vọng vật chất cũng như tinh thần
    của cá nhân với các nhu cầu xã hội của cộng đồng và các nhu cầu chính trị
    của quốc gia. Nó nhằm tìm kiếm một con đường trung dung giữa chủ nghĩa
    cá nhân tư bản và chủ nghĩa tập thể mác-xít." [6]

    Một nữ ký giả Hoa Kỳ, bà Suzanne Labin, vốn có rất nhiều mối liên hệ với
    các viên chức của chế độ Miền Nam dưới thời Tổng Thống Ngô Đình
    Diệm, trong cuốn sách Vietnam, an eye-witness account, có trích lại bài viết
    về chủ nghĩa Nhân Vị của bà Ngô Đình Nhu (đăng trên báo The Wanderer
    ngày 4.6.1964) lúc bấy giờ đang sống lưu vong ở hải ngoại sau biến cố đảo
    chính 1-11-1963.
    Trong một bài báo nhan đề “Cần Lao Nhân Vị”, linh mục Nguyễn Phương,
    nguyên giáo sư sử học tại Viện Đại Học Huế trước năm 1975, đã viết: "Đối
    với những người tị nạn đã trưởng thành, cần lao nhân vị là những tiếng
    quen biết. Cũng có lẽ vì quen biết quá nên không mấy ai lưu tâm đến ý
    https://thuviensach.vn

    nghĩa của nó. Sự thật, mấy tiếng đó xếp lại bên nhau có thể tạo nên một
    phương châm thiết thực nhất và cao cả nhất cho đời sống cá nhân và xã hội.
    Cần lao nhân vị gọn gàng là một triết lý của đạo làm người. Cần lao không
    có nghĩa là làm việc suông, vì chữ cần nói lên rằng người làm việc đang
    tâm hướng về một mục tiêu nào đó. Và mục tiêu này được tức khắc bày tỏ
    bằng hai tiếng nhân vị. Cần lao là để phát huy và để bảo tồn nhân vị, chứ
    không phải để phục vụ tư lợi hay để làm mọi cho giai cấp đấu tranh. Nói
    cách khác, cần lao nhân vị là đặt giá trị con người trên việc làm, và con
    người lấy việc làm để củng cố chỗ đứng của mình giữa trời và đất."

    Tác giả Nguyễn Phương nêu ra thông điệp của Đức Giáo Hoàng Gioan
    Phaolô II có tên Laborem Exercens (con người làm việc) trong đó Đức
    Giáo Hoàng đặt vấn đề lao động trên một nền tảng chưa chủ thuyết kinh tế
    hiện có nào đã đặt, nhìn con người qua việc làm, bất cứ việc làm này thuộc
    phạm vi vật chất hay tinh thần. Xin thử trích một vài đoạn từ thông điệp
    Laborem Exercens: "Khi chúng tôi nói đến sự tương phản giữa lao động và
    tư bản, không phải chúng tôi nói đến một quan niệm trừu tượng hay một
    mãnh lực phi vị (impersonal) đang chuyển hành trong cuộc sản xuất kinh
    tế. Đàng sau cả hai quan niệm đó (lao động và tư bản) vốn có con người
    sống động, con người như thấy được trong thực tế của cuộc đời."

    Vì đó, theo tác giả Nguyễn Phương, vấn đề lao động trở thành vấn đề cần
    lao, nó không còn là nô lệ của lợi tức như trong chủ thuyết tư bản, hay nô lệ
    của đảng phái, như trong chế độ Cộng Sản, mà nó là của con người làm
    việc, của xã hội loài người. Thông điệp đề cập đến một lối xã hội hóa gọi là
    xã hội hóa thỏa đáng (satisfactory socialization) khác hẳn với lối xã hội hóa
    với nhà nước hay đảng làm chủ nhân ông của Cộng sản. Xã hội hóa thỏa
    đáng là đem một số các phương tiện sản xuất làm của chung nhưng dưới sự
    điều động của cần lao và tư bản. Như thế sẽ thực hiện được chủ thuyết bảo
    toàn giá trị con người, mà thông điệp gọi là thuyết nhân vị (personalism).

    Với chính sách đặc thù của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, Cần Lao Nhân
    Vị là "một chính sách được trình bày với màu sắc của địa phương. Con
    người không được quan niệm như là tối thượng, mà là một loại đầu đội
    Trời chân đạp đất. Ở trong tam tài Thiên Địa Nhân, con người không thể
    https://thuviensach.vn

    nào hơn Ông Trời, nhưng lại không thể nào thua vật chất. Đất, và tất cả
    những gì thuộc về đất, là để phục vụ con người. Đàng khác, con người
    không thể hoàn tất phận sự của mình nếu không sử dụng vật chất. Cần lao,
    sự chăm chú làm việc, cốt là để thể hiện giá trị con người, cốt là để tô bồi
    chỗ đứng của con người. - NHÂN VỊ - khoảng giữa trời cao và đất rộng.
    Trong xã hội CẦN LAO NHÂN VỊ, cố nhiên không có cảnh con người làm
    nô lệ con người, huống hồ là làm nô lệ phương tiện sản xuất. Nơi đây, chỉ
    có đồng lao cộng tác để thành tựu cuộc cách mạng NHÂN VỊ, nó ăn cả về
    chiều cao, chiều rộng và chiều sâu. Về chiều sâu, con người cần lao luyện
    tập cho có thành tâm thiện ý. Phải tu thân đã mới mong tề gia và bình thiên
    hạ. Việc cách mạng phải ăn cả về chiều rộng, vì con người cần phải tri kỷ,
    tri nhân, cho nên phải sống trong cộng đồng và phải cùng nhau đồng tiến.
    Chiều cao của cuộc cách mạng nhân vị là nhờ cần lao mà vươn lên, vươn
    đến Chân, Thiện, Mỹ để thông cảm với Đấng Trên Đầu Trên Cổ, với
    Thượng Đế. Trong chính sách cần lao nhân vị, con người sẽ làm viên mãn
    điều mà "bổn phận và lương tri" bảo phải làm trong bất cứ trường hợp nào
    (nên nhớ lại lời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm trả lời cho Đại sứ Hoa Kỳ
    Cabot Lodge chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, khi cụ Diệm hỏi đại sứ này
    về thái độ của Washington với cuộc chính biến)." [7]

    Để thấy những liên hệ nhân quả của chủ thuyết nhân vị đối với biến cố Tết
    Mậu Thân về sau, thiết tưởng nên đọc thêm một số các tư liệu sau đây nói
    về chính sách, kế hoạch quốc gia của VNCH lúc bấy giờ:

    "Thuyết Nhân Vị Á Đông do ông (Ngô Đình Nhu) đề xướng được ông giản
    lược bằng phương trình sau đây:
    TAM TÚC + TAM GIÁC = TAM NHÂN


    https://thuviensach.vn

    thành phố tang tóc  

    Và ông giải thích vắn tắt:

    A. TAM TÚC là:

    1.- Tự túc về Tư Tưởng là tự mình suy luận, cân nhắc mà lựa chọn một
    chính nghĩa để phụng sự và một khi đã chọn rồi thì không còn lay chuyển
    nữa. Chính nghĩa đó là cuộc cách mạng chính trị, xã hội, quân sự mà ta
    đang cụ thể hóa trong các Ấp Chiến Lược. Sau đó ta tự phát huy chính
    nghĩa trong tâm hồn, tự học tập và tự bồi dưỡng tinh thần của ta, không cần
    ai thôi thúc. Tự túc về tinh thần, về tư tưởng, thì tất nhiên trong mọi trường
    hợp khó khăn ta vẫn vững tâm, hoặc dù có nội loạn ở Thủ Đô Sài Gòn
    chăng nữa, thì ta cũng không bị hoang mang hay bị lung lạc. Tự túc về tư
    tưởng để phát huy và bành trướng chủ nghĩa. Muốn được vậy thì phải:

    2.- Tự túc về Tổ chức và Tiếp Liệu, là tự ta tìm tòi, phát huy sáng kiến để
    có nhiều nhân vật lực để hoạt động, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của người
    khác. Chính phủ chỉ cần giúp ta một số vốn căn bản, dựa vào đó ta tìm cách
    biến cải thêm để hành động và mở rộng phạm vi hoạt động. Chẳng hạn hiện
    giờ ta thiếu kẽm gai để làm Ấp Chiến Lược, thì ta cố gắng tìm vật liệu khả
    dĩ làm tê liệt cơ thể bất cứ ai động đến (như đồng bào Thượng đã làm trên
    cao nguyên); hoặc dùng địa hình địa vật để lồng hệ thống bố phòng ACL
    vào trong đó, đỡ cần đào hào hay rào kẽm gai. Muốn thực hiện Tự túc về
    Tổ chức thì cần phải:

    3.- Tự túc về Kỹ thuật, là phát huy khả năng chiến đấu, và khai thác, phát
    triển khả năng của nhân vật lực sẵn có đến tột mức 100 phần trăm.

    Ba bộ phận của Tam túc có liên hệ mật thiết với nhau: muốn Tự túc về Tổ
    chức mà không Tự túc về Kỹ thuật thì Tổ chức không thành; thiếu Tự túc
    Tư Tưởng thì tất nhiên sẽ không có Tự túc Tổ Chức và Tự túc Kỹ Thuật.
    Từ quan niệm Tam Túc đó phát sinh ra quan niệm Tam Giác.

    B. TAM GIÁC là:

    1.- Cảnh giác về Sức Khỏe (thể xác) nghĩa là không được đau ốm. Do đó ta
    phải tránh tất cả những việc làm phương hại cho thân xác ta như đau ốm, tứ
    đổ tường. Bảo đảm sức khỏe thì mới bảo đảm được khả năng làm tròn
    https://thuviensach.vn

    nhiệm vụ.

    2.- Cảnh giác về Đạo Đức và Tác Phong Đạo Đức, vì tác phong và đạo đức
    là điều kiện cốt yếu của cán bộ, thiếu tác phong đạo đức sẽ chi phối tư
    tưởng, sẽ biến khả năng làm việc thiện ra việc ác, chưa kể việc thất nhân
    tâm.

    3.- Cảnh giác về Trí Tuệ là phát huy óc sáng tạo, sáng tác khả năng chiến
    đấu của nhân vật lực sẵn có đến tột độ.

    Vậy, không có sức khỏe, đau ốm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến óc sáng tạo và
    thu hẹp phạm vi hoạt động của đạo đức. Không có óc sáng tạo thì dù có sức
    khỏe, có đạo đức, cũng không có khả năng bồi bổ vào sự thiếu thốn nhân
    vật lực, là tình trạng của một nước chậm tiến. Có sức khỏe, có óc sáng tạo,
    nhưng không có đạo đức, thì sức khỏe ấy, óc sáng tạo ấy, sẽ phục vụ cho
    phi nghĩa, không phải cho chính nghĩa..." [8]

    Thật sự các nhà lãnh đạo của nền Đệ nhất Cộng hòa đã thấy được sự cần
    thiết của một thứ vũ khí tư tưởng trong cuộc chiến tranh ý thức hệ đối diện
    với Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng Sản. Tiếc thay đang khi họ mang hoài
    bão để huấn luyện và trang bị cho cán bộ và nhân dân Miền Nam thứ vũ khí
    cần thiết này, thì Hoa Kỳ, người bạn đồng minh của chúng ta, đã không
    chia sẻ cùng một tâm thức như vậy.

    1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.

    Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách
    Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà lãnh đạo của nền Đệ
    nhất Cộng hòa đã có một cái nhìn xuyên suốt trong chính sách an dân của
    mình.

    Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 928-NV thành
    lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do
    ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, vì số người Công
    Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ
    tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi
    điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875, 478
    người và họ được đưa đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi
    https://thuviensach.vn

    định cư các nơi khác tùy ý họ lựa chọn.

    Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ nhất Cộng
    Hòa và một khi đã bị giải thể hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ
    con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Cộng Hòa) tất nhiên sự
    kiện đó đã góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân,
    mà rõ ràng nhất là hệ thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và
    nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến lược là
    sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn
    Ngô Đình Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đã một thời khốn đốn
    không hoạt động được gì hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh
    nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh.
    Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tĩnh Man
    Tiễu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1863,
    Nguyễn Tấn đã áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá
    Vách, Quảng Ngãi. Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đã
    ghi lại như sau:

    "Mới đặt chức Tiễu phủ sứ ở cơ Tĩnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc
    quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính
    sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu
    hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thự
    án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác
    man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong.
    Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Đến đây, chuẩn cho
    thăng hàm thị độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà. Tấn
    dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc
    khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh,
    tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết
    các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền
    vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thếu cho. Còn 1, 2 nhà nghèo,
    ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời
    về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà
    https://thuviensach.vn

    để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì
    bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), thì phái quân đến phòng giữ,
    ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thư sức dân." [9]

    Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các
    quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược nhằm giải
    quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào
    nam và sau đó để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái
    hoạt động ở các vùng nông thôn miền nam.

    Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam (1954-1994), tác
    giả Lâm Thanh Liêm đã viết về Khu trù mật như sau: "Khu Trù Mật là một
    cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào
    đấy sinh sống trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông,
    do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến
    tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân
    sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô
    lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại
    được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở
    giống tựa như trường hợp của một thành phố:

    * Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm
    buôn bán).

    * Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một bảo sanh
    viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một
    phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).

    Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ
    lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các
    trục giao thông).

    * Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể
    được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các
    thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.

    * Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ
    khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ lên hệ với ngành nông nghiệp
    địa phương.

    https://thuviensach.vn

    * Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của
    thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình
    phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác
    (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà
    bảo sanh v.v...)

    Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của
    Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật,
    chính quyền địa phương còn trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể
    biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt
    xâm nhập vào Nam.

    Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính
    cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để
    tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu
    thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát
    cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà
    (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một
    chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh
    vườn rau để tự túc mưu sinh." [10]

    Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản
    Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật vì ngoài việc ngăn
    chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở
    những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một
    trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản. [11]
    Trong tác phẩm Ngo Dinh Diem en 1963: Une autre paix manquée, tác giả
    Nguyễn Văn Châu, cựu Trung tá, nguyên Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm
    Lý, Bộ Quốc Phòng cho rằng sự chỉ trích chính quyền về Khu trù mật chỉ
    nhắm vào những chuyện xấu về nhân sự, và dư luận đối lập đi xa hơn nữa
    cho rằng chính quyền ép buộc dân bỏ làng mạc nhà cửa. [12]

    Đối với bài học lịch sử cũ về Ấp chiến lược, thiết tưởng cần đọc Suzanne
    Labin, một nhà văn kiêm phân tích gia vốn nhiều lần tới thăm Miền Nam
    Việt Nam trong thời gian Đệ nhất Cộng hòa, từng được Tổng Thống Ngô
    Đình Diệm tiếp kiến nhiều lần, đã có những buổi thuyết trình chính trị tại
    https://thuviensach.vn

    Sài Gòn và nói chuyện tại một số tỉnh. Trong cuốn sách Vietnam, an eyewitness account (bản tiếng Pháp nhan đềVietnam, révélation d un témoin),
    Suzanne Labin từng viết: "Khi nhà Ngô bị lật đổ, có tám ngàn ấp chiến
    lược đã được thành lập xong và đang vận hành, với dự trù khoảng bốn ngàn
    ấp nữa cần thiết để bảo vệ cả nước. Nông dân sống rải rác dọc theo các con
    kênh, được yêu cầu dời chuyển để qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung
    theo kiểu Âu châu. Mỗi làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai
    hoặc hàng rào tre vót nhọn đằng sau có tăng cường hệ thống hào rộng gài
    mìn để chận đứng Việt Cộng mò vào ban đêm. Trong ấp, mỗi gia đình đều
    được khuyến khích đào một hầm trú ẩn ngay trước nhà họ. Tại sao vậy?
    Khi Việt Cộng tấn công, trước đây người dân thường quá sợ nên chạy tứ
    tung gây trở ngại cho lực lượng bảo vệ nhiều khi bắn cả vào người nhà
    mình. Từ khi có hầm trú, người già và trẻ con cứ việc núp dưới hầm để xạ
    trường quang đảng cho lực lượng chiến đấu hành sử.

    "Người dân làng được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác, giới tính, và tùy theo khả
    năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt. Lực lượng tự vệ và thanh
    niên cộng hòa là những đơn vị chiến đấu; những dân làng khỏe mạnh khác
    thì tham gia công tác phòng vệ, thanh thiếu niên thì vót chông. Người có
    nhiệm vụ chiến đấu được cấp vũ khí cá nhân mang luôn bên mình ngay cả
    khi ở nhà. Nhiều làng mạc được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên
    thanh. Máy truyền tin được cung cấp giúp cho các người bảo vệ ấp chiến
    lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một khi bị tấn công. Nhiệm
    vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù, vô hiệu hóa chúng ngoài các vành
    đai của ấp, cố ngăn chúng không lủi mất vào rừng trong khi lực lượng
    chính quy kéo tới. Bấy giờ, Việt Cộng thấy quá khó khăn khi xâm nhập một
    vùng dân cư có phòng thủ và ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở ngại." [13]
    Bà Suzanne Labin còn nhắc lại câu nói có tính cách cô đọng của Tổng
    Thống Ngô Đình Diệm rằng: "...để nghiền nát quân thù giữa CÁI BÚA của
    sức mạnh cơ động và HÒN ĐE của các ấp chiến lược." [14] Bà cho rằng ấp
    chiến lược chính là tâm điểm của một cuộc cách mạng chính trị và xã hội :
    đó là lý do tồn tại của Ấp chiến lược vì đã đưa lại một nền tảng vững chắc
    cho sự tiến bộ về kinh tế. [15]

    https://thuviensach.vn

    Chính sách Ấp chiến lược được thực hiện từ năm 1961 với sự cố vấn của
    Sir Robert Thompson, chuyên viên về chiến thuật phản nổi dậy người Anh
    cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và Dennis Duncanson được kể
    là một kế hoạch táo bạo nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Nhận định tổng quát về kết quả của chính sách Ấp chiến lược, tác giả
    Nguyễn Văn Châu đã khẳng định: "Quốc sách Ấp chiến lược sau hai năm
    đã thành công trong việc ngăn chặn làm cho Việt Cộng không còn sống
    bám rút bòn nhân dân. Vấn đề an ninh làng ấp được vững vàng hơn, quân
    đội chính quy quốc gia trở thành lực lượng hành quân chủ động gây cho du
    kích cộng sản nhiều thất bại đáng kể, khiến cho các lực lượng du kích rơi
    vào thế bị động và mất thăng bằng sau khi đã mất hạ tầng cơ sở. Tinh thần
    quân đội quốc gia lên cao, dân chúng được bảo vệ an ninh và du kích Việt
    Cộng càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính quyền Việt Nam
    Cộng Hòa." [16]

    Trong một bài báo mới đây nhan đề 40 năm ngày đảo chính chế độ Ngô
    Đình Diệm: Cái nhìn từ Hà Nội", tác giả Bùi Tín, cựu Đại tá quân đội
    CSBV, Phó chủ nhiệm tờ báo Nhân Dân Chủ Nhật đã phải xác nhận ưu thế
    của quốc sách ấp chiến lược gây cho lực lượng xâm lăng của Cộng Sản
    nhiều khó khăn và thất bại trước đây, đã thẳng thắn bày tỏ rằng: "Cùng với
    thời gian và sự tìm hiểu những tư liệu lịch sử, tôi thấy cần phải trả lại lẽ
    công bằng cho nhân vật lịch sử này... Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân
    vật chính trị đặc sắc, có lòng yêu nước sâu sắc, có tính cương trực thanh
    liêm, nếp sống đạm bạc giản dị." [17]

    Một khi chính sách Ấp chiến lược đã bị nhóm tướng lãnh làm đảo chánh
    giải thể, an ninh nông thôn bị bỏ ngỏ trăm phần trăm thì việc lực lượng võ
    trang VC xâm nhập thành phố một cách rất dễ dàng như sẽ thấy qua vụ Tết
    Mậu Thân thiết tưởng cũng là điều dễ hiểu. Nhóm quân phiệt cầm quyền
    chỉ cần có chỗ dựa là Hoa Kỳ mà không cần chỗ dựa cốt yếu là nhân dân.
    Bởi thế cho nên khi Hoa Kỳ bàn giao một nửa đất nước Việt Nam vào tay
    Cộng Sản, bọn họ chỉ có việc im lặng thi hành và một vài lời phản đối chỉ
    là cử điệu chiếu lệ, giả dối mà thôi.

    1.3. Công tác tình báo

    https://thuviensach.vn

    Nhắc lại các hoạt động tình báo thời Đệ nhất Cộng Hòa để thấy rằng qua
    biến cố Tết Mậu Thân như chúng ta sẽ bàn đến trong phần sau, dư luận đã
    lên án việc Hoa Kỳ và chính quyền của Đệ Nhị Cộng Hòa đã không coi
    trọng vấn đề tình báo trước các hoạt động của CS. Chính nhờ công tác tình
    báo được thực hiện rốt ráo dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa đã bảo đảm cho sự
    vững mạnh của chế độ trong một thời gian dài.

    Cơ quan tình báo trung ương cần nói tới dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa là Sở
    Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội của bác sĩ Trần Kim Tuyến, trực thuộc Phủ
    Tổng Thống tức là CIA/VN do sự gợi ý của Hoa Kỳ. Tác giả Vĩnh Phúc
    trong cuốn Những huyền thoại & sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm đã viết
    nhiều về Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội, cho biết có sự bất đồng giữa
    người Mỹ và hai ông Nhu-Tuyến về hoạt động của sở này, thí dụ "phía
    VNCH muốn thả người ra ngoài Bắc để phá hoại, rải truyền đơn tuyên
    truyền về chính trị... trái lại Mỹ chỉ muốn tung người ra, cho nằm yên, len
    lỏi vào các hàng ngũ quần chúng, chính quyền và nếu có thể thì cả tổ chức
    Đảng, để tìm hiểu. Tuyệt đối không được có hành động phá hoại. Chỉ cần
    nằm cho thật yên, ghi nhận, và nếu được thì tìm cách leo càng cao, lặn càng
    sâu, càng tốt. Để đến khi nào hữu sự, cần thiết, thì mới ra tay hành động.
    Nhưng vẫn không phải là các công tác phá hoại. Người Mỹ đã huấn luyện
    nhân viên Việt Nam cách sử dụng các loại máy truyền tin, cách đưa tin,
    cách chôn giấu tài liệu, vũ khí, cách sử dụng hóa chất trong ngành tình
    báo..." [18]

    Ông Trần Kim Tuyến điều khiển, là một người tương đối trong sạch, có đạo
    đức, nhiệt tâm làm việc. Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội do ông điều
    khiển, có trên 500 nhân viên, mặc dù bị vài người trong bộ máy lãnh đạo
    chính quyền ghét nhưng cũng đã làm được nhiều việc trong lãnh vực an
    ninh, tình báo.

    Sau ngày chế độ Đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ, báo chí nói nhiều về tổ chức
    "mật vụ Ngô Đình Cẩn" tại Miền Trung nhưng hoàn toàn không biết một
    chút gì về tổ chức này, nên đã viết với giọng điệu vu khống, xuyên tạc đầy
    ác ý.

    Trong tác phẩm Dòng họ Ngô Đình, ước mơ chưa đạt tác giả Nguyễn Văn
    https://thuviensach.vn

    Minh cho biết vào nửa năm đầu năm 1957, ông Ngô Đình Cẩn đã đề nghị
    lên Tổng Thống Diệm xin cho ông thực hiện một chính sách được ông gọi
    là "Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ", "Để giúp
    thành phần này dễ dàng thấu hiểu và chấp nhận chính sách, ông cho áp
    dụng kỹ thuật khai thác và chế độ giam giữ đặc biệt đối với những người bị
    bắt. Danh từ CHIÊU MỜI sau được đổi là CẢI TẠO theo đề nghị của các
    cán bộ Cựu Kháng Chiến." [19]

    Sau khi đề nghị được chấp thuận, ông Ngô Đình Cẩn giao cho Dương Văn
    Hiếu thành lập Đoàn Công Tác Đặc Biệt gồm có 10 nhân viên với chủ
    trương cùng ăn chung, ở chung, chơi chung, ngủ chung với tù nhân Cộng
    Sản. Đoàn được tổ chức thành 4 ban: nghiên cứu, tuyên huấn, cải tạo, quản
    trị. Sau đây là ghi nhận của Dư Văn Chất, một cán bộ tình báo của CS trong
    cuốn Người Chân Chính: "Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là
    một "siêu tổ chức" với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy so
    sánh được. Nó tập trung quyền lực cao độ: cực quyền, với các phương thức
    hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc và tàn bạo. Trong cái nhà tù không so...
     
    Gửi ý kiến