VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    So tay luat su tap 1 (1)

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Tuyết Trinh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:25' 04-05-2024
    Dung lượng: 7.1 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM

    JICA PHÁP LUẬT 2020

    SỔ TAY LUẬT SƯ
    TẬP 1
    LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
    Hà Nội - 2017

    CÁC TÁC GIẢ BIÊN SOẠN
    PHẦN 1 : LUẬT SƯ, TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, TỔ CHỨC
    XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ
    Chương 1 : Vị trí, vai trò và chức năng xã hội của
    luật sư

    LS.TS. Đỗ Ngọc Thịnh

    Chương 2 : Tổ chức hành nghề luật sư

    LS. Trần Tuấn Phong

    Chương 3 : Tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư

    LS.TS. Đỗ Ngọc Thịnh

    PHẦN 2 : KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ CHUNG CỦA LUẬT SƯ
    KHI CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ
    Chương 4 : Phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý của LS. Trương Nhật Quang
    luật sư
    và Lê Hoàng Nam
    Chương 5 : Kỹ năng chung của luật sư khi cung LS. Nguyễn Hưng Quang
    cấp dịch vụ pháp lý
    Chương 6 : Cơ sở tính thù lao luật sư, thủ tục báo LS.Ths. Nguyễn Minh Tâm
    giá dịch vụ và soạn thảo Hợp đồng dịch
    vụ pháp lý
    Chương 7 : So sánh phạm vi hành nghề luật sư với LS.TS. Nguyễn Đình Thơ
    một số nghề luật khác
    Chương 8 : Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp LS.TS. Phan Trung Hoài
    luật sư
    Chương 9 : Chế độ kế toán và quyết toán thuế LS.TS. Phan Trung Hoài
    trong hoạt động của tổ chức hành nghề
    luật sư

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Công cuộc Đổi mới của Việt Nam đã trải qua hơn 30 năm và đạt được
    những thành tựu rất đáng ghi nhận, đặc biệt là về kinh tế - xã hội, cùng với đó
    là sự hoàn thiện từng bước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hệ
    quả của sự phát triển nhanh chóng này chính là rất nhiều các vấn đề ngày càng
    phức tạp trong sản xuất kinh doanh, quan hệ xã hội. Do đó, sự có mặt của Luật
    sư trong việc giải quyết các tranh chấp và tư vấn trong nhiều lĩnh vực là rất cần
    thiết và đã trở nên không còn xa lạ. Luật sư ngày nay được nhìn nhận với tư
    cách là một nghề nghiệp có vị thế và vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ
    trong việc đem lại công bằng, bình đẳng cho xã hội.
    Chính vì vị trí, vai trò và chức năng xã hội đặc biệt quan trọng như vậy,
    các Luật sư ngoài những kiến thức pháp luật sâu rộng, còn cần phải có những
    hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực, đặc biệt, phải là người có đạo đức trong
    sáng, giàu lòng trắc ẩn và có tinh thần dũng cảm, luôn bảo vệ chính nghĩa.
    Muốn trở thành Luật sư, một cá nhân phải trải qua thời gian dài với không ít
    thử thách trong việc tích lũy kinh nghiệm, tạo dựng uy tín cá nhân. Vì vậy,
    nhiều Luật sư mới vào nghề có thể sẽ bỡ ngỡ và lúng túng trong xử lý các vụ
    việc cụ thể.
    Với mục đích đào tạo những Luật sư vừa “hồng” vừa “chuyên”, xây dựng
    đội ngũ Luật sư Việt Nam ngày càng vững mạnh, Liên đoàn Luật sư Việt Nam
    phối hợp với Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) biên soạn bộ Sổ tay
    luật sư gồm 3 tập và xuất bản tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
    Theo LS.TS. Phan Trung Hoài - Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt
    Nam, Trưởng Tiểu ban xây dựng Sổ tay luật sư thì bộ sách này là tập hợp
    những kinh nghiệm quý báu được chắt lọc theo kiểu “rút ruột nhả tơ” của
    những Luật sư có thâm niên và uy tín trong nghề, với tinh thần “cầm tay chỉ
    việc” nhằm dìu dắt thế hệ luật sư trẻ vững vàng hơn trong con đường hành
    nghề luật sư đầy khó khăn, thử thách.

    6 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1
    Vì vậy, ngoài những lý thuyết chung, bộ sách tập trung vào trình bày các
    kỹ năng hành nghề, bao gồm: Kỹ năng cứng liên quan đến thực hành, áp dụng
    pháp luật và kỹ năng mềm trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý mà các
    Luật sư cần chú ý. Bộ sách được chia làm 3 tập với nội dung chính như sau:
    Tập 1 - Luật sư và hành nghề luật sư: Giới thiệu những nội dung cơ bản về
    Luật sư và nghề luật sư. Ngoài ra, Tập 1 cũng đề cập các vấn đề cơ bản nhưng
    đặc biệt quan trọng mà mỗi Luật sư cần quan tâm, như: Thù lao luật sư; Bảo
    hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư; Hợp đồng dịch vụ pháp lý; Chế độ tài
    chính, kế toán và thuế mà Tổ chức hành nghề luật sư cần tuân thủ,...
    Tập 2 - Kỹ năng hành nghề luật sư trong tố tụng hình sự, hành chính, dân
    sự: Giới thiệu những kỹ năng hành nghề của Luật sư khi tham gia tranh tụng
    trong các vụ án hình sự, hành chính, dân sự. Ngoài ra, Tập 2 cũng cung cấp
    một số vấn đề cơ bản và những kỹ năng mà Luật sư cần có khi tham gia tố
    tụng trọng tài.
    Tập 3 - Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn trong lĩnh vực đầu tư, kinh
    doanh, thương mại: Giới thiệu những kỹ năng hành nghề của Luật sư trong
    lĩnh vực tư vấn đầu tư, kinh doanh, thương mại, đặc biệt là các lĩnh vực xây
    dựng, mua bán - sáp nhập (M&A), bất động sản,... Bên cạnh đó, Tập 3 còn
    cung cấp một số quy trình tư vấn cũng như mẫu văn bản tư vấn cụ thể mà các
    Luật sư có thể tham khảo khi thực hiện các dịch vụ tư vấn đặc thù.
    Bộ Sổ tay luật sư (3 tập) thực sự là món quà có ý nghĩa của lớp luật sư đàn
    anh gửi tặng cho các thế hệ đi sau. Tuy nhiên, do đây là công trình của nhiều
    tác giả và được biên soạn trong một thời gian ngắn nên chắc chắn sẽ còn một
    số thiếu sót. Các tác giả và Nhà xuất bản rất mong nhận được ý kiến đóng góp
    của độc giả để bộ sách tiếp tục được hoàn thiện trong những lần xuất bản sau.
    Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
    Tháng 9 năm 2017
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    MỤC LỤC
    Lời Nhà xuất bản

    5

    Lời nói đầu

    11

    Phần 1
    LUẬT SƯ, TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ,
    TỔ CHỨC XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ

    17

    Chương 1
    VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI
    CỦA LUẬT SƯ

    19

    I. Nhận thức về nghề luật sư

    19

    II. Vị trí, vai trò của Luật sư

    24

    III. Chức năng xã hội của Luật sư

    32

    Chương 2
    TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

    37

    I. Phát triển lĩnh vực hành nghề

    37

    II. Lựa chọn hình thức tổ chức hành nghề luật sư

    38

    III. Địa điểm và cách tổ chức trụ sở làm việc

    41

    IV. Quy trình tiếp nhận khách hàng

    43

    V. Nhận diện thương hiệu tổ chức hành nghề luật sư

    44

    VI. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư

    46

    VII. Quan hệ giữa Luật sư với tổ chức hành nghề luật sư và cơ quan
    quản lý nhà nước

    48

    8 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1
    Chương 3
    TỔ CHỨC XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ

    49

    I. Cơ sở pháp lý

    49

    II. Vị trí, vai trò

    50

    III. Cơ cấu tổ chức và bộ máy nhân sự của tổ chức xã hội - nghề
    nghiệp của luật sư

    54

    IV. Kết luận

    66

    Phần 2
    KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ CHUNG CỦA LUẬT SƯ
    KHI CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ

    67

    Chương 4
    PHẠM VI CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ

    69

    I. Tư vấn pháp luật

    72

    II. Tham gia tố tụng

    84

    III. Đại diện ngoài tố tụng

    94

    IV. Các dịch vụ pháp lý khác

    97

    Chương 5
    KỸ NĂNG CHUNG CỦA LUẬT SƯ
    KHI CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ

    102

    I. Kỹ năng tiếp xúc trực tiếp khách hàng

    102

    II. Kỹ năng tư vấn trong hoạt động của Luật sư

    114

    III. Kỹ năng tham gia trong các vụ án hình sự, hành chính, dân sự,
    lao động, hôn nhân, kinh doanh, thương mại

    126

    Chương 6
    CƠ SỞ TÍNH THÙ LAO LUẬT SƯ,
    THỦ TỤC BÁO GIÁ DỊCH VỤ VÀ
    SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ

    147

    I. Cơ sở tính thù lao luật sư, báo giá dịch vụ

    147

    II. Soạn thảo hợp đồng dịch vụ pháp lý

    152

    III. Chấm dứt hợp đồng và thanh lý hợp đồng dịch vụ pháp lý

    157

    IV. Mẫu hợp đồng dịch vụ pháp lý

    158

    MỤC LỤC ♦

    Chương 7
    SO SÁNH PHẠM VI HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
    VỚI MỘT SỐ NGHỀ LUẬT KHÁC

    9

    166

    I. Tính chất nghề nghiệp và phạm vi hành nghề của Luật sư

    166

    II. So sánh phạm vi hành nghề luật sư với một số nghề khác

    172

    Chương 8
    BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ

    179

    I. Khuôn khổ pháp lý và sự cần thiết về việc bảo hiểm trách nhiệm
    nghề nghiệp luật sư

    179

    II. Các điểm loại trừ, các gói sản phẩm và giải quyết khiếu nại liên
    quan đến bảo hiểm nghề nghiệp luật sư

    183

    III. Một số điểm cần lưu ý

    188

    IV. Danh sách các công ty cung cấp bảo hiểm trách nhiệm nghề
    nghiệp luật sư, các mẫu hợp đồng bảo hiểm và các mẫu giấy tờ
    liên quan

    190

    Chương 9
    CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VÀ QUYẾT TOÁN THUẾ
    TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

    224

    I. Tổng quan chung

    224

    II. Các văn bản pháp lý hiện hành liên quan đến hoạt động của
    Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh

    226

    III. Các vấn đề liên quan đến tài chính kế toán của các văn phòng
    luật sư và công ty luật hợp danh

    227

    IV. Biểu mẫu, sổ sách kế toán của tổ chức hành nghề luật sư

    230

    LỜI NÓI ĐẦU
    Ngay từ khi được thành lập vào tháng 5-2009 đến nay, một trong
    những nhiệm vụ trọng tâm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam là đào tạo,
    bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và kỹ năng hành nghề cho các Luật
    sư, người tập sự hành nghề luật sư nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu
    cung cấp dịch vụ pháp lý cho các chủ thể xã hội. Mặc dù trước khi trở
    thành Luật sư, người tập sự hành nghề luật sư đã được trải qua chương
    trình đào tạo tại Học viện Tư pháp, tập sự tại các tổ chức hành nghề,
    nhưng nhiều Luật sư trẻ mới vào nghề còn bỡ ngỡ, lúng túng trong việc
    tích lũy kinh nghiệm hành nghề. Từ thực tế nêu trên, Ban Thường vụ,
    Thường trực Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã quyết tâm trang bị cho các
    Luật sư và người tập sự hành nghề luật sư một công cụ hữu hiệu song
    hành với họ trong quá trình hành nghề.
    Sổ tay Luật sư là sản phẩm nằm trong khuôn khổ của dự án Hợp tác
    kỹ thuật trong lĩnh vực pháp luật giữa Chính phủ Nhật Bản và Chính
    phủ Việt Nam thông qua Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và
    các cơ quan, tổ chức phía Việt Nam, trong đó Liên đoàn Luật sư Việt
    Nam là một trong các tổ chức đối tác của Dự án JICA. Để thực hiện
    nhiệm vụ quan trọng nói trên, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã ban hành
    Quyết định số 161/QĐ-LĐLSVN ngày 28-2-2015 (Quyết định bổ sung
    số 114/QĐ-LĐLSVN ngày 04-8-2016) thành lập Tiểu ban xây dựng
    Sổ tay Luật sư do LS.TS. Phan Trung Hoài - Phó Chủ tịch Liên đoàn
    Luật sư Việt Nam làm Trưởng Tiểu ban, chịu trách nhiệm trước Ban
    Thường vụ về việc triển khai tổ chức thực hiện Sổ tay Luật sư theo tiến
    độ đã thống nhất với JICA.

    12 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1

    Tiểu ban xây dựng Sổ tay Luật sư đã tổ chức nhiều phiên họp, các
    cuộc hội thảo với sự tham gia của đông đảo của các Luật sư có thâm
    niên, nhiều kinh nghiệm để góp ý xây dựng Đề cương Sổ tay Luật sư,
    đồng thời tham khảo các dạng sổ tay luật sư tương tự ở nhiều quốc gia
    như Mỹ, Canađa, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, Campuchia, v.v..
    Sau nhiều nỗ lực triển khai, Tiểu ban Sổ tay Luật sư đã quyết định trình
    phương án xây dựng Sổ tay Luật sư thành 3 tập, phân công các Luật sư
    viết từng chuyên đề, với kết cấu:
    Tập 1 - Luật sư và hành nghề luật sư: Giới thiệu những nội dung cơ
    bản về Luật sư, vị trí, vai trò và chức năng; Tổ chức hành nghề luật sư;
    Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư; Phạm vi cung cấp dịch vụ
    pháp lý của Luật sư; Kỹ năng chung của Luật sư khi cung cấp dịch vụ
    pháp lý; Cơ sở tính thù lao luật sư, thủ tục báo giá dịch vụ và soạn thảo
    Hợp đồng dịch vụ pháp lý; Chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
    luật sư; Chế độ kế toán và quyết toán thuế đối với tổ chức hành nghề
    luật sư; So sánh phạm vi hành nghề luật sư với một số nghề luật khác.
    Tập 2 - Kỹ năng hành nghề luật sư trong tố tụng hình sự, hành
    chính, dân sự: Giới thiệu những kỹ năng hành nghề của Luật sư tham
    gia tranh tụng các loại vụ án hình sự, hành chính, dân sự và kỹ năng
    của Luật sư khi tham gia tố tụng trọng tài, cụ thể bao gồm: (1) Kỹ
    năng cơ bản của Luật sư khi tham gia tố tụng hình sự và kỹ năng cụ
    thể đối với một số vụ án xâm phạm an ninh quốc gia; buôn bán, tàng
    trữ, sử dụng ma túy, tham nhũng; bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp
    cho người dưới 18 tuổi, cho pháp nhân thương mại phạm tội; (2) Kỹ
    năng hành nghề của Luật sư trong các vụ án hành chính; (3) Kỹ năng
    cơ bản của Luật sư tham gia tố tụng dân sự và kỹ năng cụ thể đối với
    một số loại vụ án cụ thể như hôn nhân - gia đình, tranh chấp thừa kế,
    tranh chấp lao động, tranh chấp đất đai, bồi thường thiệt hại ngoài
    hợp đồng, v.v..
    Tập 3: Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn trong lĩnh vực đầu tư, kinh
    doanh, thương mại: Giới thiệu kỹ năng hành nghề của Luật sư trong
    lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại, tập trung chuyên sâu trong các

    LỜI NÓI ĐẦU ♦

    13

    lĩnh vực như: Tư vấn đầu tư vào các dự án; Tư vấn thành lập và hoạt
    động của doanh nghiệp; Mua bán doanh nghiệp; Tư vấn lĩnh vực bất
    động sản; Tư vấn lĩnh vực xây dựng; Tư vấn lĩnh vực lao động; Tư vấn
    lĩnh vực vay vốn ngân hàng; Tư vấn lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quyền tác
    giả; Tư vấn lĩnh vực hợp đồng thương mại và mua bán hàng hóa quốc
    tế; Tư vấn lĩnh vực thương mại quốc tế, v.v..
    Trên tinh thần làm việc hết sức trách nhiệm và khẩn trương, những
    Luật sư được phân công thực hiện các chuyên đề đã cố gắng hoàn thành
    đúng thời hạn. Sau đó, Liên đoàn Luật sư Việt Nam quyết định thành lập
    Hội đồng thẩm định theo Quyết định số 13/QĐ-LÐLSVN ngày 13-02-2017
    bao gồm 8 thành viên do Luật sư Nguyễn Văn Chiến - Phó Chủ tịch Liên
    đoàn Luật sư Việt Nam làm Chủ tịch, tiến hành 4 cuộc họp vào các tháng
    2, 3, 5 năm 2017 để góp ý, hoàn thiện nội dung, đồng thời phối hợp với
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản thành sách.
    Có thể nói, Sổ tay Luật sư là thành quả, được xem như sự “rút ruột
    nhả tơ” của nhiều Luật sư tâm huyết, với mong muốn truyền lại những
    kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm quý báu của mình nhằm chia sẻ, đưa ra
    những góp ý bổ ích, giải pháp đối với các tình huống nảy sinh trong quá
    trình hành nghề đối với các Luật sư (đặc biệt là các Luật sư trẻ), người
    tập sự hành nghề luật sư, cũng như các đối tượng khác làm việc trong
    lĩnh vực pháp luật có quan tâm.
    Do xác định hình thức ấn phẩm là dạng sổ tay, nên nội dung trình
    bày trong Sổ tay Luật sư sẽ được trình bày cô đọng, súc tích, dễ hiểu,
    với tinh thần “cầm tay chỉ việc” dựa trên những kinh nghiệm của các
    Luật sư đi trước, cố gắng bảo đảm sự tiện dụng, tiện tra cứu những nội
    dung cốt lõi quy định, đề cập những quyền và nghĩa vụ của Luật sư
    (dẫn chiếu đến điều luật cụ thể). Đây là cơ sở ban đầu để sau này có
    thể liên thông kết nối mạng (Sổ tay Luật sư điện tử), mang tính ổn định
    tương đối, dễ dàng cập nhật những quy định mới và bổ sung những kinh
    nghiệm thực tiễn mới phát sinh.
    Thay mặt cho tập thể Tiểu ban xây dựng Sổ tay Luật sư, các thành
    viên Hội đồng thẩm định, Liên đoàn Luật sư Việt Nam chân thành

    14 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1

    cám ơn sự hợp tác, hỗ trợ hiệu quả của JICA và cá nhân Luật sư
    Masanori Tsukahara, xin cám ơn sự nỗ lực, tận tụy và trách nhiệm cao
    của các Luật sư được phân công viết các chuyên đề và sự phối hợp
    nhiệt tình, hiệu quả của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Do
    đây là lần xuất bản đầu tiên với điều kiện thời gian còn hạn hẹp, nội
    dung biên soạn chủ yếu xuất phát từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn
    của các Luật sư, nên cuốn sách không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong
    bạn đọc, các Luật sư đồng nghiệp và những người quan tâm đến sự
    phát triển của đội ngũ Luật sư Việt Nam góp ý để lần xuất bản sau
    cuốn sách được hoàn thiện hơn.
    TM. THƯỜNG TRỰC LIÊN ÐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM
    Trưởng Tiểu ban xây dựng Sổ tay Luật sư
    LS. TS. PHAN TRUNG HOÀI
    Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
    Giấy phép hoạt động

    Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề
    luật sư

    Tổ chức hành nghề
    luật sư

    Tổ chức hành nghề luật sư nói chung, bao gồm
    cả tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và tổ chức
    hành nghề luật sư nước ngoài

    Tổ chức hành nghề
    luật sư nước ngoài

    Các chi nhánh, công ty luật nước ngoài (bao gồm:
    (i) Công ty luật trách nhiệm hữu hạn 100% vốn
    nước ngoài, (ii) Công ty luật trách nhiệm hữu hạn
    dưới hình thức liên doanh, hoặc (iii) Công ty luật
    hợp danh giữa tổ chức hành nghề luật sư nước
    ngoài và công ty luật hợp danh Việt Nam

    Tổ chức hành nghề
    luật sư Việt Nam

    Các công ty luật hoặc văn phòng luật sư được thành
    lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam mà không
    phải là tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài

    PHẦN 1

    LUẬT SƯ,
    TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ,
    TỔ CHỨC XÃ HỘI - NGHỀ NGHIỆP
    CỦA LUẬT SƯ

    Chương 1

    VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI
    CỦA LUẬT SƯ
    I. NHẬN THỨC VỀ NGHỀ LUẬT SƯ

    So với nhiều nghề khác trong xã hội, nghề luật sư ở Việt Nam là một
    nghề khá non trẻ, tuy vậy đến nay, cũng đã ra đời hơn một thế kỷ. Dưới chế
    độ phong kiến, ở nhiều nước phương Đông như: Việt Nam, Trung Quốc,
    Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v., chưa tồn tại Luật sư và nghề luật sư. Trong khi
    đó, ở một số nước phương Tây, bắt nguồn từ sự sáng tạo của nền pháp chế
    cổ La Mã tồn tại từ hơn 20 thế kỷ trước, đã có người bào chữa.
    Sau khi xâm lược Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX (1858), nhất là
    sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (Gia Định, Định Tường,
    Biên Hòa), thực dân Pháp đã coi đây là “đất đai nước Pháp” và người
    dân 3 tỉnh này là “thần dân mới của Hoàng đế Pháp”. Ngày 25-7-1864,
    Hoàng đế Pháp Napoléon III ban Sắc lệnh về tổ chức nền tư pháp ở
    Nam kỳ. Trong đó, Điều 27 quy định: “Có thể thiết lập bằng nghị định
    của Thống đốc, bên cạnh các tòa án, những người biện hộ viên (bào
    chữa viên) đảm trách việc bào chữa và làm lý đoán, làm và ký tên tất cả
    những giấy tờ cần thiết cho việc thẩm cứu những vụ án dân sự, thương
    mại và chấp hành những bản án, những quyết định và bảo vệ cho bị can,
    bị cáo trước các tòa tiểu hình và đại hình”. Sau khi chiếm thêm 3 tỉnh
    miền Tây Nam kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên), Pháp sáp nhập 3
    tỉnh này vào “Nam Kỳ thuộc Pháp”, đặt toàn bộ 6 tỉnh Nam kỳ dưới chế
    độ thuộc địa, tách Nam kỳ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Ngày 26-11-1867,
    Thống đốc Nam kỳ Pierre-Paul Marie de La Grandière ký ban hành

    20 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1

    nghị định về việc hành nghề bào chữa trước các Tòa án Pháp (dành cho
    xét xử người Pháp và người đã nhập quốc tịch Pháp ở Nam kỳ). Đây là
    văn bản pháp luật đầu tiên về nghề luật sư, được chính quyền thực dân
    Pháp ban hành ở Việt Nam theo quy định tại Điều 27 Sắc lệnh ngày
    25-7-1864 của Hoàng đế Napoléon III.
    Như vậy, nghề luật sư xuất hiện tại Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX
    và lúc đầu chỉ thuộc về người Pháp, dành cho công dân Pháp. Sau Cách
    mạng Tháng Tám năm 1945, nghề luật sư được hoạt động trở lại theo
    Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời
    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức các đoàn thể luật sư (Sau đây
    gọi tắt là Sắc lệnh số 46/SL) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành. Mặc
    dù vậy, lúc đó, vì nhiều nguyên nhân, mà quan trọng nhất là nguồn lực
    của đất nước phải tập trung vào công cuộc kháng chiến chống thực dân
    Pháp nên hầu như nghề luật sư lúc này không phát triển. Một số Luật sư
    đã tham gia cách mạng và trở thành những nhân vật quan trọng, giữ vai
    trò cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh về các mặt pháp lý trong cuộc đấu
    tranh chống thực dân Pháp như các Luật sư: Phan Anh, Trịnh Đình Thảo,
    Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Trần Công Tường, Vũ Văn Hiền, Phạm
    Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Bùi Thị Cẩm, Nguyễn Thành Vĩnh, v.v..
    Một số Luật sư thời kỳ này đã chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác.
    Tuy nhiên, vào cuối năm 1949, để bảo đảm quyền bào chữa của bị
    can, bị cáo, chính quyền cách mạng đã thiết lập chế độ Bào chữa viên,
    tạm thời thay thế vai trò của Luật sư. Cụ thể, ngày 18-6-1949 Sắc lệnh
    số 69/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, sau đó,
    được thay thế bởi Sắc lệnh số 144/SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân
    chủ Cộng hòa ngày 22-12-1949 (sửa đổi Điều 1 Sắc lệnh số 69/SL) mở
    rộng quyền bào chữa cho các bị cáo trước các Tòa án. Hai Sắc lệnh 69/SL
    và 144/SL cho thấy, quyền bào chữa của công dân Việt Nam thời kỳ này
    được thực hiện ở các vụ án hình sự, vụ án dân sự, kinh tế.
    Chế độ Bào chữa viên được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày đất
    nước thống nhất (năm 1975). Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
    miền Bắc, đội ngũ Bào chữa viên ngày càng phát triển. Bên cạnh các

    Phần 1: LUẬT SƯ, TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, TỔ CHỨC XÃ HỘI ... ♦

    21

    Luật sư đã tham gia kháng chiến, nhiều Luật sư, Luật gia từng làm việc
    trong chế độ cũ cũng gia nhập đội ngũ Bào chữa viên của Nhà nước Việt
    Nam Dân chủ Cộng hòa.
    Năm 1959 có thể xem là một năm đặc biệt quan trọng với sự ra đời
    của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân
    chủ Cộng hòa tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước về
    quyền bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Cụ thể,
    Điều 101 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Quyền bào chữa của người
    bị cáo được bảo đảm”. Năm 1963, văn phòng luật sư thí điểm đầu tiên
    ở miền Bắc được thành lập, tên là “Văn phòng luật sư Hà Nội”. Sau khi
    văn phòng luật sư này ra đời, yêu cầu luật sư bào chữa và bảo vệ quyền,
    lợi ích hợp pháp của công dân trước Tòa án ngày càng tăng. Lúc đầu,
    Luật sư chỉ nhận bào chữa những vụ án do Tòa án chỉ định, về sau các bị
    cáo, đương sự có nhu cầu mời Luật sư đã trực tiếp đến “văn phòng luật
    sư” để đề đạt nguyện vọng. Năm 1974, Tòa án nhân dân tối cao chuyển
    giao “văn phòng luật sư” sang Ủy ban Pháp chế của Chính phủ (được
    thành lập năm 1972) để quản lý theo chức năng quy định tại Nghị định
    số 190/CP ngày 09-10-1972 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm
    vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Pháp chế thuộc Hội đồng
    Chính phủ.
    Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, Chính phủ Cách mạng
    lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kế thừa thực tiễn ở miền Bắc,
    tiếp tục thực hiện chế định Bào chữa viên, vì các Luật sư đoàn ở miền
    Nam dưới chế độ cũ đều đã bị giải tán. Việc thực hiện quyền bào chữa này
    được triển khai trên cơ sở Điều 4 Sắc luật số 01-SL/76 ngày 18-3-1976
    của Hội đồng Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và tinh
    thần Thông tư số 06-BTP/TT ngày 11-6-1976 của Bộ Tư pháp Chính phủ
    Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
    Điều 133 Hiến pháp năm 1980 nêu rõ: “Quyền bào chữa của bị cáo
    được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các
    đương sự khác về mặt pháp lý”. Tuy nhiên, thời kỳ này, trong mô hình
    kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, vai trò của Nhà nước

    22 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1

    bao trùm toàn bộ đời sống xã hội. Nhà nước quyết định tất cả quá trình
    sản xuất - kinh doanh, từ đầu vào đến lưu thông, phân phối hàng hóa
    bằng những mệnh lệnh hành chính. Hậu quả là nền kinh tế không phát
    triển, xã hội rơi vào khủng hoảng, đời sống nhân dân hết sức khó khăn,
    kèm theo đó là tình hình kinh tế và trật tự xã hội cũng hết sức phức tạp.
    Trong bối cảnh đó, pháp luật không được đề cao và tất yếu, nhu cầu sử
    dụng dịch vụ pháp lý của xã hội cũng sẽ không có, hệ quả là Luật sư và
    nghề luật sư tồn tại chỉ mang tính hình thức.
    Từ năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, mô hình kinh tế
    kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp được chuyển sang mô hình
    kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Nhà nước
    đóng vai trò xây dựng thể chế, bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật,
    Nhà nước tạo điều kiện và cơ hội cho các chủ thể và các thành phần
    kinh tế hoạt động, phát triển theo quy luật của kinh tế thị trường. Đồng
    thời Nhà nước giảm dần và hạn chế các mệnh lệnh hành chính trong
    việc điều hành nền kinh tế.
    Cùng với những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước, vai trò
    của nghề luật sư và nhiều nghề khác trong xã hội từng bước được nâng
    cao, đóng góp không nhỏ vào sự đổi mới chung của đất nước.
    Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, ngày 18-12-1987, Hội đồng
    Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh tổ chức luật sư. Từ đó, các tổ chức
    luật sư chuyên nghiệp ra đời thay thế các hình thức Bào chữa viên được
    thiết lập ở miền Bắc từ năm 1949 và ở miền Nam sau ngày giải phóng
    năm 1975. Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 đã xác lập vị trí pháp lý
    của nghề luật sư trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Những quy định
    của pháp lệnh này đã tạo nền tảng pháp lý cho việc thành lập các Đoàn
    Luật sư trên toàn quốc, thông qua đó tập hợp đội ngũ Luật sư tham gia
    vào các hoạt động tư pháp, cung cấp dịch vụ pháp lý cho xã hội. Đoàn
    Luật sư vừa đóng vai trò là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, vừa đóng vai
    trò là tổ chức hành nghề luật sư.
    Pháp lệnh luật sư năm 2001 là bước tiến về thể chế của nghề luật
    sư ở nước ta. Các chế định về Luật sư, nghề luật sư, tổ chức hành nghề

    Phần 1: LUẬT SƯ, TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, TỔ CHỨC XÃ HỘI ... ♦

    23

    luật sư và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư đã được hoàn thiện
    hơn, trong đó đã phân định rõ tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư
    và tổ chức hành nghề luật sư. Những quy định này đã tạo cơ hội cho
    nghề luật sư phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
    chủ nghĩa, đóng góp vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà
    nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    Kế thừa và hoàn thiện Pháp lệnh luật sư năm 2001, việc Luật luật sư
    năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Sau đây gọi tắt là Luật luật sư) ra
    đời là cột mốc đánh dấu sự phát triển về thể chế của Luật sư, nghề luật
    sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư và tổ chức hành nghề luật
    sư ở nước ta trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua.
    Việc ban hành Luật luật sư là minh chứng về mặt pháp lý ghi nhận
    những quan hệ xã hội có liên quan tới Luật sư và nghề luật sư. Nhìn
    chung, Nhà nước đã luật hóa và tạo cơ hội cho các quan hệ xã hội liên
    quan đến Luật sư và nghề luật sư phát triển lành mạnh, đóng góp tích
    cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, vào công cuộc cải cách tư pháp
    và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
    Khi kinh tế phát triển, các mâu thuẫn và tranh chấp kinh tế sẽ phát
    sinh, các vi phạm pháp luật và tội phạm cũng có thể gia tăng. Trong
    bối cảnh đó, Nhà nước đóng vai trò giải quyết các mâu thuẫn, tranh
    chấp, ngăn chặn, xử lý các vi phạm pháp luật và tội phạm. Thực tiễn
    cho thấy, nếu các chủ thể kinh tế có sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật
    sư ngay từ khi bắt đầu sản xuất và trong cả quá trình kinh doanh, thì
    không những các mâu thuẫn, tranh chấp kinh tế sẽ giảm mà còn góp
    phần vào việc phát triển sản xuất - kinh doanh theo quy định của pháp
    luật, từ đó giúp cho Nhà nước giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn
    kinh tế và xử lý các vi phạm pháp luật, tội phạm hiệu quả hơn. Đối
    với các vụ án hình sự, nếu được tham gia quá trình tố tụng ngay từ
    khi thân chủ bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Luật
    sư sẽ có điều kiện phối hợp với các cơ quan điều tra giải quyết vụ án,
    góp phần vào việc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế, tình trạng oan sai
    sẽ được hạn chế.

    24 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1

    Nghề luật sư cũng giống như nhiều nghề khác, hình thành do nhu
    cầu phát triển kinh tế - xã hội. Sau 30 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế
    nước ta đã có những bước phát triển ngoạn mục. Tuy vậy cho đến nay,
    vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết để phát triển bền vững
    trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc
    biệt là khi thế giới chính thức bước vào cuộc cách mạng công nghiệp
    lần thứ 4 từ năm 2016.
    Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, các Luật sư đã đóng góp tích
    cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 14-01-2013, Thủ
    tướng Chính phủ ký Quyết định số 149/QĐ-TTg lấy ngày 10 tháng 10
    hàng năm là Ngày truyền thống của Luật sư Việt Nam. Đây là mốc son
    chói lọi của nghề luật sư sau hơn 70 năm ra đời, phát triển trong chính
    thể dân chủ ở Việt Nam.
    II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ

    Khoảng hơn 20 năm trở lại đây, Luật sư và nghề luật sư ở nước ta
    đã nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội và Nhà nước vì những
    đóng góp đáng kể cho hoạt động tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp
    quyền và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
    Ở nhiều nước phát triển trên thế giới, Luật sư và nghề luật sư luôn
    nhận được sự tôn vinh về những đóng góp quan trọng của đội ngũ này
    đối với xã hội. Để có thể cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng,
    các Luật sư đã phục vụ khách hàng, phục vụ cộng đồng xã hội bằng cả
    kiến thức, trí tuệ, bằng tấm lòng và đạo đức nghề nghiệp. Muốn̉ làm
    được điều đó, mỗi Luật sư phải luôn học tập, rèn luyện, tích lũy kiến
    thức để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thấm
    nhuần tinh thần đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư là lấy lẽ phải,
    công bằng, công lý làm mục tiêu hoạt động, lấy pháp luật, quy tắc đạo
    đức làm thước đo hành vi và hoạt động nghề nghiệp. Cái khó của nghề
    luật sư không đơn thuần chỉ là cung cấp các kiến thức pháp lý mà phải
    thông qua trải nghiệm cuộc sống của mình để̉ tư vấn, bảo vệ quyền lợi
    tốt nhất cho khách hàng. Tuy nhiên, Luật sư cũng không được để tình
    trạng vì muốn bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho khách hàng mà

    Phần 1: LUẬT SƯ, TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, TỔ CHỨC XÃ HỘI ... ♦

    25

    khiến các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các cơ quan nhà nước khác
    hiểu nhầm là làm khó cho hoạt động của các cơ quan đó. Làm sao để
    các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước hiểu, nhận thức
    được mục đích của Luật sư là phối hợp với họ, góp phần bảo vệ công
    lý, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công
    dân và tổ chức mới chính là một nhiệm vụ không dễ́ dàng.
    Về bản chất, nghề luật sư không chỉ đơn thuần thể hiện tinh thần
    phục vụ khách hàng mà còn thể hiện mối liên hệ và phối hợp giữa Luật
    sư với các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ luật
    pháp. Tuy nhiên, không phải lúc nào các giá trị và các mục tiêu trong
    hoạt động nghề nghiệp luật sư cũng nhận được sự ủng hộ tuyệt đối từ
    cộng đồng xã hội và các cơ quan công quyền. Nếu xử lý không khéo sẽ
    rất dễ xảy ra xung đột trong quan hệ pháp lý giữa các chủ thể có vị trí,
    vai trò, chức năng, bổn phận và nhiệm vụ khác nhau.
    Ví dụ, khi phát hiện và có căn cứ xác định một người có dấu hiệu
    vi phạm pháp luật và phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ khởi tố
    vụ án và khởi tố bị can. Cơ quan điều tra sẽ tiến hành các nghiệp vụ để
    làm sáng tỏ các hành vi có dấu hiệu phạm tội đó. Luật sư tham gia bào
    chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can phải khai thác được
    những yếu tố có thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can, phải đánh
    giá, thu thập chứng cứ và rà soát lại toàn bộ thủ tục, trình tự tiến hành
    của Cơ quan điều tra xem có phù hợp với pháp luật tố tụng không. Nếu
    phát hiện những sai sót của các cơ quan tiến hành tố tụng, thì với trách
    nhiệm và bổn phận nghề nghiệp, Luật sư phải có kiến nghị các cơ quan
    có thẩm quyền. Trong những trường hợp như vậy, Luật sư có thể bị cho
    là làm cản trở hoạt động điều tra và nếu Luật sư không vững vàng về
    chuyên môn nghiệp vụ thì sẽ rất khó có thể bảo vệ quyền lợi tốt nhất
    cho khách hàng.
    Luật sư và nghề luật sư ở những nước phát triển đã tồn tại được vài
    trăm năm và cho đến nay được xã hội ghi nhận là một nghề cao quý.
    Đây là thành quả của một bề dày lịch sử tích lũy kinh nghiệm, là kết
    quả dày công vun đắp của nhiều thế hệ Luật sư. Thật không đơn giản để

    26 ♦ SỔ TAY LUẬT SƯ - Tập 1

    được xã hội thừa nhận như vậy, bởi lẽ, nghề nào cũng có mặt trái của
    nó, không phải Luật sư nào khi bắt đầu hành nghề và trong suốt cuộc
    đời hoạt động nghề nghiệp cũng có thể giữ gìn được các giá trị, chuẩn
    mực của nghề nghiệp, phục vụ khách hàng, phục vụ xã hội, được tất cả
    mọi người ghi nhận, sẽ có những Luật sư vi phạm pháp luật và vi phạm
    đạo...
     
    Gửi ý kiến