VIỆC ĐỌC SÁCH

“Đọc sách rất quan trọng. Đó là cách để chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó gây dựng lòng đồng cảm sâu sắc. Thế giới câu chuyện trong sách cho chúng ta khả năng tĩnh lặng và độc lập, hai điều đang biến mất nhanh hơn nước băng tan ở vùng cực.” – Những câu nói hay về sách của Ann Patchett

Tài nguyên dạy học

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

VĂN HỌC - TÁC PHẨM VÀ LỜI BÌNH

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc_2.jpg Huong_ung_tuan_le_hoc_tap_suot_doi.jpg Anh_ngay_sach_va_van_hoa_doc.jpg

LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

SÁCH NÓI - KỸ NĂNG SỐNG

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CA KHÚC NƠI ĐÓ TÌNH YÊU

    Tôi Và Paris Câu Chuyện Một Dòng Sông

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 03h:50' 24-04-2024
    Dung lượng: 2.6 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Lời tựa
    1. Khải Hoàn Môn: ngày tôi đến
    2. Tháp Eiffel: nhập học
    3. Trung tâm ký túc xá Cité Universi taire: ở trọ
    4. Les Invalides: những khiếm khuyết của một thành phố phát triển
    5. Nhà thờ Đức Bà Paris: có nên tin vào số phận?
    6. Quận 13: Tết này con (lại) không về
    7. Sông Seine, chuyện của con sông và những bến bờ
    8. Các nhà ga: nơi bắt đầu hay kết thúc (một chuyến đi một tình yêu hay nhiều hơn thế)
    9. Đồi Montmatre & Sacré Coeur: có ngọn núi nào ta không thể vượt qua?
    10. Sân Công viên các Hoàng tử: một câu chuyện tình
    11. Bảo tàng: nơi lịch sử ngủ quên hay nơi cuộc sống phát triển?
    12. Paris ẩm thực: những lẽ sống đằng sau câu chuyện ăn uống tầm thường
    13. Luxembourg, Tuileries và những khu vườn: cần lắm những lá phổi cho thành phố (và cho
    tâm hồn)
    14. Sain Michel & quartier Latin: ngày Valentin xin được dành cho mẹ
    15. Hà Nội
    16. Đại lộ Haussmann: khởi đầu sự nghiệp
    17. Opéra de Paris: nhà hát quốc gia và bài hùng biện ngẫu hứng
    18. Les champs Elysées: thay cho lời kết: khi cuộc sống là (một/những) con đường
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Lời tựa
    Rồi tôi đã qua những miền đất.
    Chưa đủ để biết hết cả, chưa đủ để hiểu hết cả, nhưng hầu như ở thành phố nào tôi cũng thấy
    một dòng sông. Dù nhỏ, dù lớn, hiền hòa hay dữ dội, kiêu hãnh hay khiêm nhường, đỏ màu phù
    sa hay xanh ngắt màu trời, ở đâu dường như vẫn là con sông ấy, là mạch máu, là hơi thở, là
    chút nào tâm hồn của thành phố. Có phải người xưa xây dựng các thành phố gần sông chỉ đơn
    giản vì đường thủy vốn là tuyến lưu thông vận chuyển và thương mại quan trọng, hay vì khi đó
    họ đã biết rằng rồi một ngày thành phố sẽ phát triển như bây giờ, đầy ắp người và chen chúc
    xe cộ, rằng những tòa nhà kia, những con người bận rộn ấy sẽ cần có một dòng sông để giữ lại
    cho mình chút thơ mộng, chút trong lành, để hít thở, để nạp đầy, để thả hồn theo những con
    sóng về xa.
    Rồi tôi đã gặp những cuộc đời.
    Những tính cách, mảnh đời không bao giờ đơn giản, lặng lẽ hay ồn ào, sóng gió hay bình yên,
    những thân phận ấy vẫn giao nhau nhằng nhịt, hay song hành mãi mãi, xa cách hay hòa vào
    nhau. Mỗi người một lý tưởng, một mục đích sống, mải miết trên con đường của mình.
    Rồi tôi đã gặp tôi.
    Dường như phải đi hết chừng ấy chặng đường, gặp gỡ chừng ấy con người, tôi mới bắt đầu
    gặp được mình. Tôi đi bao nhiêu ngày đường mới đủ học để hiểu chính mình, phần nào. Rồi tôi
    thấy mình là một dòng sông, có lúc êm đềm, đôi khi sóng dữ, có lúc thảnh thơi có khi vội vã,
    giản dị thế mà huyền bí đến thế. Mỗi cuộc đời là một dòng sông, mải miết theo những lối chảy
    đã được định trước hay là tự mình chọn lấy? Quan trọng là tiến lên hay dừng lại, quan trọng là
    mạnh mẽ hay dịu dàng, là đến được nơi nào đó hay không cần ở đâu cả? Cái đó tùy vào mỗi
    người, mỗi hoàn cảnh. Nhưng dường như con sông nào, cuộc đời nào cũng cần có những bến
    bờ, để dựa vào, để vươn tới. Bến bờ ấy vừa ở đằng sau, thúc đẩy ta, vừa ở phía trước để ta khát
    vọng, vừa song hành, vừa ở chính bên trong mỗi người. Bến bờ của ta là một người thân như
    thể cội nguồn, là một người rồi ta sẽ gặp trên dòng chảy hay một hình bóng mãi mãi ở phía
    trước? Bến bờ của ta là một miền đất, một thành phố từ đó ta đi, hay dừng lại giữa cuộc hành
    trình, hay cái đích nơi ta sẽ đến? Có thể là tất cả.
    Rồi ngày nào đó tôi đến Paris.
    Trên dòng chảy của mình, tôi dừng lại đó lâu hơn những nơi khác. Bởi định mệnh đưa tôi đến
    hay bởi tôi đã chọn nó làm điểm đến và dừng chân nghỉ lại? Tôi giống như biết bao dòng sông
    trẻ trung muốn vươn mình ra biển lớn, đi thật xa để học thật nhiều, học để hiểu những gì mình
    có, những gì mình muốn. Hai chữ du học có gì huyền bí, có gì của một “miền đất hứa” như
    chính thành phố xa xôi kia? Có những ai đã từng “phiêu du” để học lấy điều gì đó như tôi, có ai
    muốn kể lại phần đời của mình, và những ai đã làm điều đó? Hẳn là rất nhiều. Nhưng tôi vẫn
    muốn viết. Tôi viết về cuộc hành trình của con sông tôi, về một thành phố và con sông của
    chính nó, về mỗi địa điểm đã gắn liền với tôi như những cột mốc, những bờ bến của cuộc phiêu
    lưu còn chưa kết thúc.
    Dù có sóng gió gập ghềnh, sông càng cuộn chảy, không bao giờ ngừng nghỉ, cũng như con
    người, không bao giờ đánh mất niềm tin.
    Đi xa để gặp những bến bờ mới, để trân trọng những bến bờ của ta, đã vì ta.
    Chảy đi sông tôi ơi!

    1. Khải Hoàn Môn: ngày tôi đến

    Khải Hoàn Môn (Ảnh: Nguyễn Hồng Long)

    Sân bay Charles de Gaulles. Sáu giờ sáng, một ngày cuối tháng Ba năm 1999. Gã ngố, là tôi,
    ra khỏi cửa Hải quan, ngạc nhiên vì không có bất kỳ ai chặn lại, thậm chí không một ai hỏi han
    hay để mắt tới. Vào Pháp dễ đến thế sao?
    Nếu như tôi có hình thức đáng tin hay hành lý gọn nhẹ thì có thể hiểu được. Đằng này… Chắc
    chẳng ai đặt chân đến Pháp với bộ dạng thê thảm như tôi. Tám mươi cân hành lý được nhồi
    nhét trong hai cái vali to, thêm hai thùng carton, một túi kéo, một túi đeo trên người. Nếu phải
    mang từng ấy thứ, tôi cũng chẳng ngại. Đáng ngại ở chỗ tôi mang gấp đôi trọng lượng cho
    phép. May sao chị tôi lại quen một anh làm ở sân bay. Anh bảo tôi mở vali, lấy đồ cho vào một
    đống túi giấy VNAirlines mà anh vừa quờ được ở đâu đó. Nhét đầy chục túi, anh cầm vào trong,
    đợi tôi ở cửa máy bay và giao lại.
    Lúc lên máy bay, tôi ngượng chín người vì ai cũng nhìn mình với đống túi giấy lỉnh kỉnh. Lúc
    xuống máy bay ở đầu Paris còn thê thảm hơn. Sau khi lấy vali, tôi muốn mở chúng ra để nhét
    lại đồ vào nhưng không sao nhét được. Cũng dễ hiểu, vì đó là “công trình” thu xếp bao nhiêu
    ngày của mẹ tôi, bà lèn, bà cuốn, bà nhét giỏi đến mức lấy ra vô số đồ rồi mà vali vẫn đầy
    nguyên. Chỉ có cách đổ hết ra xếp lại từ đầu. Mà tôi thì không đủ dũng cảm làm việc ấy. Bởi
    trong vali không chỉ đựng quần áo, sách vở mà còn là muối vừng, ruốc, ớt bột, mì chính, hạt
    tiêu, nồi cơm điện… Phong phú chẳng khác nào một cửa hàng tạp hóa! Hành trang của gã sinh
    viên nghèo đi du học là thế. Có lẽ cũng vì vậy mà Hải quan Pháp thậm chí chẳng ngó ngàng đến
    tôi, chẳng kẻ nào khùng điên đến mức mang hàng cấm mà gây sự chú ý một cách tự nhiên như
    thế.
    Tôi bặm môi, xốc lại cái túi đeo trên người, bỗng nhiên kẹo từ trong túi rơi ra lả tả. Trước lúc
    lên máy bay, mẹ tôi nhét đầy kẹo vào túi. “Con đang hút thuốc lá nhiều thế mà bỏ, thể nào cũng
    buồn mồm con ạ, ăn kẹo cho đỡ thèm.”
    Mà thèm thật, sau mười mấy tiếng trên máy bay, tôi thèm một điếu thuốc đến phát cuồng.
    Tháng Ba, Paris vẫn còn lạnh. Lạnh thế này mà hút thuốc thì đã phải biết. Thôi, ăn tạm cái kẹo.
    Đắng ngắt.
    Không có ai ra đón. Biết trước là như thế mà tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng và lạc lõng giữa sân
    bay quá rộng lớn và đông đúc này. Cậu bạn cùng khóa cũng được học bổng lần này đã đi trước
    tôi một tuần. Cậu đang ở nhà một người quen của tôi, đợi tôi sang rồi cả hai đi tìm nhà thuê
    chung. Cậu không đón tôi, chỉ viết mail: “Đi về trung tâm dễ lắm, không cần tao đón. Đến sân
    bay chỉ cần mua cái thẻ điện thoại gọi cho tao, tao chỉ đường cho về.”

    Vật vờ ở sân bay một lúc không tìm thấy chỗ nào bán thẻ điện thoại, tôi nghĩ thầm: “Khỏi
    cần, gọi điện thì nó cũng chỉ chỉ đường đi tàu điện ngầm về trung tâm thôi. Mình sẽ tự hỏi”. Bắt
    gặp một người nói tiếng Anh, tôi chìa địa chỉ cần đến ra hỏi, ông ta nghĩ một lát, nhìn đống
    hành lý của tôi và bảo: “Để đến chỗ này, nếu đi tàu điện ngầm phải đổi mấy lần, lên xuống
    nhiều cầu thang, riêng chỉ đi bộ từ đây ra đến bến tàu cũng đã cả cây số rồi. Tôi khuyên anh đi
    xe bus. Có xe đỗ ngay trước cửa kia”. Vậy là tôi lên xe bus, tài xế bảo: “Xe về trung tâm Paris”.
    Tôi tặc lưỡi “Thế là được, về đó tính sau. Mua thẻ gọi bạn ra đón.”
    Xe bus đi khá lâu, chừng cả tiếng đồng hồ rồi thả tôi xuống một vòng xoay giao thông rộng
    lớn. Tôi ngỡ ngàng nhận ra: Khải Hoàn Môn.
    Trước lúc đến Paris, hình như tôi đã nhìn thấy ảnh Khải Hoàn Môn trong một cuốn sách nào
    đó. Chẳng hiểu sao tôi cứ nghĩ nó giống như cái cổng chùa hay cổng làng ở Việt Nam, to hơn
    một chút là cùng. Đến nơi rồi, thấy nó sừng sững đứng đó tôi mới giật mình: thật kỳ vĩ! Người
    xưa không có máy tính để làm mô phỏng, để tính toán chính xác khối lượng, kỹ thuật và thời
    gian mà lại nghĩ và làm được một công trình thế này, quả thật đáng kinh ngạc vô cùng!
    Không biết với mọi người, ấn tượng đầu tiên khi nhìn thấy Khải Hoàn Môn là gì, chỉ biết rằng
    lúc đó, tôi thậm chí không đủ sức ngước nhìn quá lâu. Mệt đói, kiệt sức với gánh nặng của gần
    100 cân hành lý và gánh nặng tinh thần: tôi đến Paris du học với 500 đô-la trong túi. Học bổng
    của tôi chỉ được miễn học phí, còn ăn ở sinh hoạt trông vào vẻn vẹn số tiền ấy. Cái vali to kéo
    được gần 100 mét thì gãy bánh. Vậy là từ lúc ấy tôi thành một phu khuân vác, trời lạnh mà mồ
    hôi đầm đìa. Lúc lên máy bay tôi đã cố mặc thật nhiều quần áo để nhẹ bớt hành lý, bây giờ làm
    sao cởi ra?
    Khải Hoàn Môn khi ấy với tôi là điểm đến đau khổ hơn là Cổng vòm chiến thắng ngày về.
    Nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ rằng khi ấy, tôi, mồ hôi nhễ nhại với đống hành lý lỉnh kỉnh đã
    ngang qua cổng Khải Hoàn Môn và tự nói với lòng mình: “Mẹ ơi, đừng lo, rồi con sẽ chiến thắng
    trở về”. Tôi có những ước mơ và một niềm tin.
    Rồi tôi đi tìm chỗ bán thẻ điện thoại để gọi cho cậu bạn. Nhưng đành chịu: hôm ấy là Chủ
    nhật, trời hãy còn sớm nên không mấy ai ngoài đường, nhiều cửa hàng còn chưa mở cửa. Thêm
    nữa, sau này tôi mới biết, ở Paris muốn mua thẻ điện thoại thì phải vào hàng bán… thuốc lá.
    Cậu bạn tôi quên dặn điều đó.
    Tôi loay hoay với đống hành lý, giở cuốn sổ nhỏ ghi các địa chỉ ra xem. Tôi có một cái bản đồ
    nhỏ. Nhờ đó, tôi biết rằng từ chỗ tôi đang đứng đến nơi tôi định đến rất xa, nếu không gọi điện
    được cho bạn thì chắc hẳn không thể đến đó. Tôi tìm một địa chỉ khác rồi quyết định: tìm cách
    đi bộ về nhà người bạn gần nhất, đó là một bạn gái cùng trường đại học nhưng dưới tôi một
    khóa. Điều này không nằm trong dự tính ban đầu, tôi cũng không báo trước với bạn.
    Bản đồ của tôi không đủ chi tiết để tìm đường, tôi quyết định hỏi đường bằng tiếng Anh. Có
    đến lần lượt hai, ba quý ông, quý bà chăm chú nghe tôi hỏi, mỉm cười rồi hăng hái trả lời tôi
    bằng tiếng… Pháp. Điều này cũng rất có thể xảy ra với bạn khi đến Pháp, người Pháp phần lớn
    biết tiếng Anh nhưng ngoài lớp trẻ, thường thì họ không thích nói tiếng Anh, không biết vì lòng
    kiêu hãnh dân tộc, vì không tự tin với accent (cách phát âm) tiếng Anh của mình hay chỉ đơn
    giản vì họ không thích (người Anh và người Pháp vốn không ưa gì nhau). Sau hơn hai tiếng đi
    bộ, tôi kiệt sức, mất phương hướng, nghiến răng gọi một cái taxi. Taxi chở tôi vòng vèo qua các
    phố, 20 phút sau dừng lại, lấy của tôi 40 đô-la và cho tôi xuống. Khi taxi đã đi rồi, tôi quan sát
    kỹ và nhận ra rằng chỗ tôi đang đứng chỉ cách chỗ tôi bắt taxi chừng 300 mét. Thế đấy, khi ta
    ngu ngơ thì ở đâu ta cũng dễ dàng bị “chặt chém”. Taxi ở Paris thường không dám chỉnh đồng
    hồ hoặc chạy không đồng hồ, nhưng khi bạn trông ngu ngơ và gặp phải kẻ xấu, hắn sẽ cho bạn
    đi chơi vòng xa gấp nhiều lần quãng đường thực.
    Tôi so tên phố, nhìn số nhà với địa chỉ trên tay và nghĩ đến cảnh bạn tôi sẽ chạy ùa ra đón khi
    tôi bấm chuông, vẻ đầy ngạc nhiên vì tôi không báo trước.
    Nhưng tôi ngạc nhiên thì đúng hơn, vì không có cái chuông nào cả. Có một cái khóa có mã để

    có thể vào được bên trong tòa nhà bạn tôi ở vì đó là một khu chung cư. Không biết mã khóa.
    Tôi ra cabin điện thoại công cộng, định bụng chờ ai đó gọi xong thì năn nỉ họ cho tôi gọi nhờ
    đúng một câu báo bạn tôi xuống đón. Sáng Chủ nhật, cabin vắng tanh. Rất lâu mới có một
    người. Và rất lâu mới có một người hiểu những gì tôi nói và tin tôi nói thật để cho tôi dùng nhờ
    thẻ điện thoại. Bạn tôi dường như còn đang ngái ngủ, tỏ ra không quá vồn vã, chỉ bảo: “Chờ em
    tí nhé, em đánh răng”. Tôi hơi ngạc nhiên, nghĩ rằng không cần khách sáo quá như thế, có thể
    cứ cho tôi vào nhà rồi đánh răng sau cũng được. Sau đó tôi mới hiểu nguyên do.
    Tôi đợi, lại đợi, rất lâu. Cho đến khi cảm thấy mình như một vị khách không mời mà đến, tôi
    tự ái, kéo vali đi, định tiếp tục cuộc hành trình đến nhà người bạn theo kế hoạch ban đầu thì cô
    bạn xuống, hớt hải tìm kiếm, chạy theo bảo tôi: “Em xin lỗi nhé, tại em đang ngủ, nhà bừa bộn
    quá không có chỗ ngồi nên phải dọn một lúc.”
    Vào trong tòa nhà, thêm một lần nữa ngạc nhiên, bạn tôi ở tầng tám, không cầu thang máy.
    Sau này tôi mới biết rằng, hầu hết sinh viên bên này đều ở như thế. Chúng tôi hay gọi đùa
    những căn buồng đó là “chuồng chim” vì nó rất nhỏ với một ô cửa sổ cũng rất nhỏ. Căn buồng
    chỉ khoảng bảy, tám mét vuông, thường ở tầng trên cùng, rất cao, không cầu thang máy. Đó
    thường là những căn buồng mà trước đây các gia đình quý tộc dành cho người hầu ở hay là nơi
    để đồ đạc cũ. Cầu thang bộ tách riêng với khu cầu thang máy chính. Buồng tắm và toilet mỗi
    tầng một cái, dùng chung cho rất nhiều chuồng chim. Trong buồng ngoài góc lavabo để đánh
    răng rửa mặt, một khoảng nữa đặt tủ và giường, còn lại gần như không còn chỗ trống, quả thật
    nếu không dọn thì không thể có chỗ ngồi. Cũng vì thế mà bạn tôi phải đánh răng trước, nếu
    không sẽ phải làm việc đó ngay trước mặt tôi. Và với các cô gái sống trong những căn buồng
    kiểu này, họ rất ngại mời bạn trai đến nhà, bởi hiểu theo cách trực diện nhất: mời đến nhà
    đồng nghĩa với việc mời lên giường, ngoài chỗ ấy ra không còn chỗ nào ngồi hết.
    Tôi khuân đồ lên vì không dám để dưới nhà, nghỉ một lát rồi gọi cho người bạn đang chờ
    điện thoại. Bạn tôi đến, khuân đồ xuống. Chúng tôi đi tàu điện ngầm. Tới nơi. Lại chuồng chim,
    lại tầng bảy, lần này có cầu thang máy nhưng hẹp đến nỗi hai người cùng đứng sẽ úp mặt vào
    nhau. Căn phòng bảy mét vuông có thêm tôi là ba người ở. Nó chật đến mức ai muốn di chuyển
    thì phải “đăng ký”, nếu không thì không có chỗ đi. Hôm đầu tiên đến, tôi hăng hái rửa bát, dọn
    dẹp suốt, được một lúc anh chủ nhà bảo: “Em ngồi yên một góc đi, để anh quen anh làm, nhà
    chật mà em cứ đi vòng vòng, chóng hết cả mặt”… Tôi ở đó ba ngày, ngày nào cũng dậy thật
    sớm và về thật muộn để đi tìm nhà, đăng ký học… và nhất là để không làm chật nhà của anh.
    Không tìm được nhà, nhưng cũng không thể ở thêm phiền bạn quá lâu, tôi và người bạn mới
    sang thuê chung một phòng trọ rẻ tiền: 210 đô-la một người một tháng. Ôi, 500 đô-la của tôi.
    Viết đến đây, tôi muốn cung cấp cho bạn vài bài học và kinh nghiệm “xương máu” rút ra từ
    lần đầu bỡ ngỡ của tôi đến Paris và những lần đi du lịch sau này:
    Trước khi đến một thành phố xa lạ, hãy chuẩn bị bản đồ, ngay cả khi có ai đó hứa
    sẽ ra đón bạn. Bạn có thể mua từ trước, tìm trên internet hoặc nếu không, khi tới
    nơi, mua ở sân bay (ở các thành phố châu Âu, bạn có thể xin miễn phí ở văn
    phòng du lịch, điểm hỏi thông tin về phương tiện giao thông công cộng ngay tại
    sân bay hoặc trung tâm thành phố). Kể cả nếu bạn không cần dùng đến, nó cũng
    ít nhiều cho bạn sự tự tin, thứ mà bạn luôn cần khi đến nơi xa lạ.
    Tốt hơn, nếu có thể, hãy tìm mua một cuốn hướng dẫn du lịch. Không phải ngẫu
    nhiên mà đó luôn là loại sách bán chạy. Với những hiểu biết thực tế của mình,
    người viết sẽ cung cấp cho bạn những thông tin thiết yếu mà tự bạn không dễ gì
    tìm ra, trong khi những người thân của bạn sống ở đó không nghĩ đến để dặn bạn
    từ trước, như kiểu ở Paris, muốn mua thẻ điện thoại phải vào hàng bán thuốc lá,
    và hàng thuốc lá thì không có hình bao thuốc hay điếu thuốc nào ở ngoài, chỉ có
    chữ “Tabac”…
    Câu “đầu xuôi, đuôi lọt” không phải lúc nào cũng đúng. Nếu bạn có nhiều hành lý,
    hãy lo tính và chuẩn bị kỹ càng để vừa “xuôi” ở sân bay Việt Nam, vừa ổn khi bạn

    đặt chân ra nước ngoài. Nhớ rằng khi ở Việt Nam, bạn có gia đình, người thân
    bên cạnh, còn ở nơi đất khách quê người, bạn chỉ có một mình. Không chỉ cân
    nặng, số lượng hành lý mà “nội dung” những thứ bạn mang theo có thể khiến bạn
    khốn khổ. Thời tôi đi còn dễ, càng ngày việc kiểm soát an ninh, vệ sinh thực
    phẩm, thương mại càng thắt chặt. Mang những đồ ăn tươi sống (và cả thực phẩm
    khô) có thể khiến người ta lục tung hành lý của bạn, tịch thu và bắt bạn nộp phạt.
    Người Việt mình hay xếp đồ ăn vào các thùng carton hay thùng xốp. Đừng. Hãy
    để mọi thứ vào các vali, vì thùng carton và thùng xốp là lời tố cáo rõ ràng nhất
    với hải quan nước ngoài rằng bạn mang theo thực phẩm. Mang theo bên mình
    hàng giả, hàng nhái cũng có thể khiến bạn lao đao, dù đó là chiếc thắt lưng bạn
    đang thắt trên quần hay đôi giày in chữ Nike nhưng lại có ba vạch biểu tượng của
    Adidas bạn đang đi dưới chân: tất cả đều có thể bị lột ra và hủy trước mặt bạn
    kèm theo một khoản tiền phạt. Tôi biết một cậu em sang Mỹ du học với hàng
    trăm CD và DVD phim sao chép ở Việt Nam đã bị bắt lại ở sân bay Mỹ, nộp phạt
    25 ngàn đô-la và suýt bị cho vào tù. Tất nhiên không phải ai cũng bị kiểm tra,
    nhưng hãy đề phòng trường hợp xấu nhất. Nếu có dùng hàng nhái, ít nhất đừng
    chưng diện nó ra trên người bạn (như kiểu các tiểu thư hay khoác theo túi Louis
    Vuitton nhái), nếu đựng trong vali, đừng để nguyên bao bì, nhãn mác và đừng để
    cùng một thứ với số lượng lớn, bởi khi đó, bạn khó lý giải rằng chỉ mua để dùng
    chứ không để buôn bán.
    Ở các thành phố lớn, sân bay thường rất xa trung tâm nhưng luôn có các phương
    tiện giao thông công cộng dành cho bạn. Nếu có thể xoay xở được hãy dùng tàu
    điện (ngầm hoặc nổi) vì đó là phương tiện nhanh nhất đưa bạn vào thẳng trung
    tâm. Đi taxi có thể rất tốn kém và mất nhiều thời gian, có khi mất hơn nửa ngày
    vì kẹt xe, tắc đường, chưa kể bạn còn bị lừa hay bắt chẹt.
    Dũng cảm lên, tất cả mới chỉ là sự bắt đầu!

    2. Tháp Eiffel: nhập học

    Tháp Eiffel và sông (Ảnh: Tác giả)

    Có bao giờ bạn nghĩ rằng mọi thứ xung quanh bạn, từ cái cây, ngọn cỏ đến bức tường hay
    thùng rác đầu phố đều có tâm hồn riêng?
    Tôi thì luôn nghĩ như vậy, và luôn tìm cách để giao lưu, hít thở cái tâm hồn ấy của vạn vật. Có
    những thứ tôi tìm thấy và cảm nhận được, có thứ thì vô cảm. Có thể điều đó phụ thuộc vào việc
    tôi có đủ thời gian tìm hiểu, cảm nhận, đủ tình cảm với cảnh vật đó hay không.
    Trước khi đặt chân đến Pháp, tôi thầm nghĩ, tháp Eiffel, biểu tượng của nước Pháp, hẳn phải
    mang trong mình một tâm hồn. Và rồi tôi đã tìm thấy câu trả lời: tháp Eiffel là một khối sắt có
    tâm hồn.
    Như hầu hết các công trình kiến trúc khác ở Pháp, tháp Eiffel nằm trên một quảng trường
    rộng và trong một quần thể các công trình kiến trúc với quảng trường Trocadero có hệ thống
    đài phun nước hiện đại hay khu trường quân sự quốc gia (Ecole Militaire). Ngay trước chân
    tháp Eiffel cũng có một cây cầu lớn và một bến sông rộng, nơi ta có thể lấy thuyền đi dọc sông
    Seine hay ngồi nhâm nhi một ly cà phê. Những quần thể kiến trúc đa dạng ở gần nhau và đặc
    biệt những khoảng vườn, quảng trường lớn ở trước mỗi công trình càng làm tăng thêm vẻ đẹp,
    sự hùng vĩ của chúng. Với cá nhân tôi, điều ấy cũng thể hiện được tầm nhìn quy hoạch và ý
    thức bảo tồn những giá trị văn hóa kiến trúc của người Pháp.
    Lần đầu đến tháp Eiffel, nhiều người sẽ bị choáng ngợp trước sự hùng vĩ của nó, trước sự đồ
    sộ của khối thép có kết cấu cực kỳ phức tạp, tinh xảo, hay có thể ngập tràn cảm xúc khi ngồi
    trong thang máy lên cao dần nhìn xuống cảnh đẹp của Paris.
    Mắt bạn sẽ lấp lánh khi 10 nghìn bóng đèn của tháp phát sáng hay thấy vô cùng lãng mạn khi
    cầm một ly champagne trong một nhà hàng sang trọng nằm trên tầng cao của tháp, nhìn hoàng
    hôn và thành phố đang lên đèn (Tất nhiên bạn sẽ chỉ thấy lãng mạn khi hóa đơn thanh toán
    không khiến bạn quá bận tâm). Tất cả những cảm giác ấy đều rất thực, và còn nhiều trạng thái
    cảm xúc khác nữa mà tháp Eiffel có thể đem đến cho bạn. Có phải vì thế mà tôi bảo đó là một
    khối sắt có tâm hồn? Không phải.
    Ấn tượng đầu tiên của tôi về tháp Eiffel: thất vọng. Tôi thấy nó xấu và thô thiển. Hai ngày sau
    khi đặt chân lên đất Pháp, tôi đến đăng ký ở ngôi trường đã trao học bổng cho tôi và phát hiện
    ra trường của mình chỉ cách tháp Eiffel chừng 700 mét. Thế là mỗi sáng đi học tôi sẽ nhìn thấy
    tháp Eiffel.
    Phải hiểu rằng thất vọng là cảm giác chung của tôi về Paris khi ấy. Không phải vì những khốn
    khổ về vật chất và tinh thần mà tôi nếm trải trong những ngày đầu đến Paris, hoặc cũng có thể

    nhưng chỉ phần nào thôi. Nguyên nhân chính, mà có thể rất phổ biến là khi chưa từng đến
    Paris, người ta thường vẽ ra quá nhiều những ảo tưởng, do thiếu hiểu biết, do thói mơ mộng
    viển vông hay do những lời phóng đại của báo chí, sách vở… để rồi khi đối mặt với thực tế, ta
    cảm thấy thất vọng.
    Paris, cũng như bất kỳ thành phố nào khác đều có những góc khuất của nó, cũng ăn xin, có
    rác rưởi, cũng vô tâm, cũng kiêu ngạo, cũng có trộm cắp, lừa đảo. Không ở đâu có thành phố
    trong mơ. Cảnh đẹp, kiến trúc là điều không phủ nhận, nhưng cảnh đẹp và kiến trúc ấy mỗi
    người cảm nhận một khác, trong mỗi hoàn cảnh ta lại thấy khác. Cũng giống như bạn vào một
    nhà hàng ăn món cực ngon, nhưng phải chờ đợi quá lâu hay gặp anh bồi bàn phục vụ kém thì
    món ăn có thể mất đi 90% hương vị. Ấy là chưa kể, đôi khi để thấy được một công trình kiến
    trúc đẹp bạn còn phải ít nhiều có kiến thức, hiểu biết về nghệ thuật, văn hóa và xuất xứ của nó.
    Giống như khi uống một ly rượu vang, nếu có một người am hiểu chỉ cho bạn đặc trưng của
    loại rượu, của vùng sản xuất, những yếu tố thời tiết của năm sản xuất rượu hay cách chế biến
    nho, bạn đột nhiên sẽ cảm nhận được thứ đang ngấm dần vào mạch máu của bạn không chỉ
    đơn giản là thứ đồ uống lên men mà thấy hương vị của nó, “thần thái” của nó.
    Và cuối cùng, cái đẹp cái xấu, cái hay cái dở nếu muốn cảm nhận thực sự bạn phải cảm nhận
    nó bằng tâm hồn của mình, theo đúng cách mà nó đáng được cảm nhận. Ly rượu vang Pháp sẽ
    ngon hơn, thơm hơn và nồng hơn khi bạn ngồi nhâm nhi nó với một người bạn hợp ý, khi bạn
    có thời gian và sự thanh thản, khi bạn uống với tinh thần thưởng thức chứ không phải uống để
    say hay để khoe khoang.
    Hồi ấy, với tôi, như rượu vang định nghĩa đơn giản là thứ nước nho lên men, tháp Eiffel
    chẳng qua là một khối sắt đồ sộ, lâu ngày không được bảo dưỡng thì biến thành cục sắt đen xì.
    Sáng nào đi học tôi cũng thấy cục sắt ấy.
    ***
    Khi mới biết trường mình học ngay gần tháp Eiffel, tôi đã tự hào, mơ mộng viển vông về một
    ngôi trường đẹp đẽ, tráng lệ, chẳng gì cũng nằm ở “khu xịn nhất Paris cơ mà”. Tôi hình dung
    khi đến trường đăng ký, sẽ có người đón tiếp long trọng. Dù sao tôi cũng là một trong hai sinh
    viên tốt nghiệp loại xuất sắc nhất khóa của một trường đại học ở Việt Nam có mối quan hệ tốt
    với trường bên này, được hiệu trưởng người Pháp về tận nơi phỏng vấn và lựa chọn trao học
    bổng cho khóa thạc sĩ (MBA) theo chuẩn quốc tế đầu tiên của trường. Nhưng tôi đã lại phải
    ngạc nhiên. Không có lễ chào đón nào cả, cũng không có ngôi trường hoành tráng sang trọng
    như những campus (khu đại học) tôi từng xem trên phim.
    Các trường đại học công lập của Pháp có cơ sở vật chất khá tốt, khuôn viên rộng rãi, nhưng
    nếu so sánh thì còn kém xa các campus ở Mỹ, ở Anh. Các trường tư thục thì cơ sở hạ tầng càng
    kém hơn. Giống như hầu hết các trường tư về quản trị kinh doanh hay tài chính của Paris, ngôi
    trường tôi học chỉ có địa chỉ đẹp trên bản đồ (vì nó sẽ gây ảnh hưởng marketing tốt, thu hút
    sinh viên mới). Để đổi lấy vị trí đẹp, trường không hề rộng vì ở những khu này, tấc đất là tấc
    vàng. Rất nhiều phòng học được đặt dưới tầng hầm hoặc trong các góc của khu nhà không có
    quá nhiều ánh sáng (vì những phòng thuận tiện với cửa sổ lớn đã được để dành cho các văn
    phòng, công ty khác thuê). Giáo viên và nhân viên của trường cũng ở mức tối thiểu vì chi phí về
    nhân sự và thuế trên lương nhân viên ở Pháp rất cao. Tôi cũng ngỡ ngàng và dần dần hiểu ra
    rằng, trường đón tôi đến không phải vì tôi là một nhân tài mà trường muốn đầu tư để sau này
    làm rạng danh cho cả trường, tôi chỉ đơn giản là một quân bài marketing trong chiến dịch mở
    rộng thị phần sang châu Á, đặc biệt là thị trường Việt Nam và Trung Quốc. Và học bổng của tôi
    thực chất là một gánh nặng chi phí mà nhà trường đầu tư như một hình thức quảng cáo tại Việt
    Nam cho chiến dịch này.
    Dẫu vậy tôi vẫn là một sinh viên có học bổng, được đón nhận vào trường vài ngày sau khi đặt
    chân đến Pháp, và khi tôi đi là do tôi lựa chọn, không có ai quảng cáo, tô vẽ cho “bến mơ” ở
    Paris. Nhưng sau tôi, đã có rất nhiều sinh viên Việt đến Pháp theo con đường tự túc, được các
    công ty du học tô son điểm phấn về một tương lai huy hoàng, dựng nên bức tranh đầy màu sắc

    về trường lớp sung túc, thực chất khi đến chỉ được học khóa tiếng Pháp trong một cơ sở kiểu
    như trung tâm ngoại ngữ nhà mình, điều kiện vật chất thậm chí còn kém hơn, hoặc nhiều
    người phải bon chen nộp đơn xin học cả năm trời trước khi được nhận vào một trường công,
    nỗi thất vọng của họ còn đến thế nào?
    Trong nhiều năm sau này, tôi gặp nhiều người, với “bi kịch” thất vọng khi thực sự bắt đầu
    cuộc hành trình du học của mình. “Thê thảm” nhất là các “cậu ấm, cô chiêu” quen sống trong
    nhung lụa, rồi đến những bạn trước đó chỉ biết học và học, không có nhiều kỹ năng sống, cũng
    không biết tự lo việc nội trợ. Nhưng ngay cả những người từng trải hơn, mạnh mẽ, năng động
    hơn cũng thất vọng. Phần lớn là do bị phỉnh gạt hoặc nghe phóng đại quá mức về một “thiên
    đường” không có thực, hay là tự huyễn hoặc chính bản thân mình. Dù thế nào thì cũng bởi
    thiếu thông tin, thiếu sự chuẩn bị. Thời đại càng phát triển, thông tin càng nhiều và ở khắp mọi
    nơi. Hãy trang bị cho mình lượng thông tin đầy đủ nhất và chuẩn bị trước tinh thần và kỹ năng
    (ngoại ngữ, giao tiếp, đi chợ, nấu nướng…) cho những thứ mình sẽ gặp phải, chứ đừng chỉ nhét
    vào vali của mình những giấc mơ.
    Đời thì không đẹp như mơ. Tôi đã biết như thế, và dường như tháp Eiffel cũng vậy. Khi ấy tôi
    không hiểu cái khối thép vô hồn ấy có gì để người ta tự hào đến thế, ca ngợi đến vậy.
    Nhưng càng ngày, càng nhìn, càng hiểu, càng ngấm “tâm hồn” Paris, tôi bỗng nhận ra rằng
    tháp Eiffel đẹp và sống động. Nó thay đổi mỗi mùa, mỗi ngày, mỗi giờ, nó thay đổi theo thời
    tiết, ánh sáng, nó thay đổi theo cả vui buồn của tôi.
    Những ngày tôi mới sang là cuối đông, đầu xuân, trời còn lạnh, tối và hay mưa phùn. Tháp
    Eiffel màu đen xám, ủ rũ giữa bầu trời mây vần vũ. Trông nó buồn như nỗi lòng tôi lúc ấy.
    Những ngày sau, xuân về, nắng lên, trời xanh ngắt, tháp Eiffel cũng tươi hơn, ánh lên một
    màu xanh kiêu hãnh. Với đặc tính kim loại và nằm bên cạnh dòng sông, tháp Eiffel phản chiếu
    rất nhiều ánh sáng mà nó nhận được từ trời mây, sông nước.
    Những ngày nắng nóng, tùy theo nhiệt độ và ánh nắng, tháp Eiffel lại có màu nâu vàng hay
    nâu sẫm. Tôi hay liên tưởng đến sở thích của người Paris, mỗi khi trời nắng nóng lại tranh thủ
    phơi nắng, da càng cháy nắng nâu bóng lên thì càng thấy đẹp, có vẻ như tháp Eiffel cũng vậy.
    Những ngày cuối thu, khi những hàng cây và khu vườn quanh tháp vàng rực màu lá, tháp
    Eiffel lại có ánh vàng đỏ của lá thu. Những lúc như vậy, tháp Eiffel như một cô gái tóc đỏ ngồi
    một mình trong sân quán cà phê có mái che màu đỏ chiều cuối thu, vừa nổi bật khiến ta đi
    ngang qua cũng phải giật mình quay lại, vừa hài hòa đến không ngờ với cảnh sắc xung quanh.
    Những lúc vui, tôi thấy tháp Eiffel lấp lánh, thỉnh thoảng lại lóe tia nắng khi được phản chiếu
    bởi một mảnh kim loại trên tháp (hay đèn flash của một chiếc máy ảnh) giống như nó nháy
    mắt cười với tôi.
    Eiffel buổi đêm vô cùng quyến rũ, nó như một vũ công rực sáng dưới ánh đèn khiến ai ngang
    qua cũng phải trầm trồ. Cứ một tiếng một lần, 10 nghìn ngọn đèn trên tháp đồng loạt nhấp
    nháy, cảm giác như tháp đang nhảy múa.
    Nếu đã đọc những dòng này, khi nào có điều kiện đến thăm tháp Eiffel, bạn đừng nhớ hết
    những gì tôi viết, hãy nhìn và cảm nhận tháp Eiffel ở những thời điểm khác nhau. Bạn hãy thử
    xem tháp Eiffel có thay đổi không, có đồng cảm với vui buồn của bạn không. Tôi thì thấy có,
    nhưng không phải chỉ vì thế mà tôi nghĩ là khối sắt ấy có tâm hồn.
    Chính là ta gieo tâm hồn của mình lên vạn vật. Nếu bạn mở lòng ra, nhìn cảnh vật và cảm
    nhận nó với tâm hồn của bạn, nó sẽ hiểu bạn và đáp lại bạn. Bạn có thể buồn, có thể vui, có thể
    lạc quan hay tuyệt vọng, nhưng đừng bao giờ đóng cánh cửa tâm hồn mình, hãy chia sẻ, nếu
    thấy cần có thể hét lên, hoặc không cần qua lời nói, chỉ bằng ánh mắt, bằng suy nghĩ, bằng nụ
    cười hay nước mắt cũng đã đủ rồi.
    Bạn có thể thấy suy nghĩ này thật điên rồ, nhưng cứ thử làm xem: hãy mỉm cười với góc phố
    thân quen mỗi ngày bạn qua, bạn sẽ thấy dường như nó mỉm cười với bạn.

    Có thể bạn sẽ thấy ngớ ngẩn, nhưng phương châm của tôi để vượt qua mọi khó khăn là: mỗi
    ngày tôi cố gắng tìm cho mình ít nhất một lý do để có thể mỉm cười với cuộc đời này. Và đôi
    khi tôi mỉm cười với cái cột điện đầu đường vì nghĩ rằng ngày nào nó cũng đứng đó chào tôi.
    Nụ cười ngớ ngẩn ấy bỗng nhiên khiến tôi… bật cười. (Cả bạn nữa, có thể cũng đang cười đấy.
    Thấy không? Nếu như tôi cười với cái cột điện và việc đó khiến tôi cười, bạn cười thì nụ cười
    của bạn cũng có thể khiến bạn và nhiều người khác vui, những niềm vui ấy nhân lên để tôi, bạn
    và bao nhiêu người quên đi những khó khăn, buồn tủi. Vậy thì nụ cười với cái cột điện của tôi
    chưa chắc đã ngớ ngẩn (Tất nhiên tôi không đánh giá cao những người đứng cả ngày cười với
    cột điện đâu nhé).
    Đó cũng là lý do vì sao đến một ngày, tôi thấy tháp Eiffel không còn là một khối sắt vô hồn.

    3. Trung tâm ký túc xá Cité Universi taire: ở
    trọ

    Cite université (Ảnh: Tác giả)

    “Con chim ở đậu cành tre,
    Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
    Tôi nay ở trọ trần gian…”
    Tôi hát khe khẽ khi bước vào phòng trọ đầu tiên của mình trên đất Pháp. Căn phòng trọ rẻ
    tiền ấy thực ra nằm trong khu ký túc xá quốc tế đẹp và hoành tráng của Paris: Cité
    Universitaire ‒ một khuôn viên rộng mênh mông với các tòa nhà, vườn hoa, sân bóng, thư
    viện, nhà ăn… Mỗi tòa nhà trong khu này ưu tiên cho sinh viên đến từ một nước, một khu vực
    địa lý hay một chuyên ngành nào đó. Những sinh viên sống ở đây được hưởng nhiều quyền lợi
    và hỗ trợ của chính phủ, có rất nhiều sinh viên được ở miễn phí. Nhưng để giành được một
    suất ở chính thức như vậy, bạn phải là sinh viên đi du học theo diện học bổng chính phủ, hoặc
    phải làm hồ sơ, nộp đơn chờ đợi xét duyệt rất lâu, có khi cả năm trời.
    Còn tôi mới đến Paris có bốn ngày. Tôi ở đây theo đúng kiểu “ở trọ”, tức là chỉ ở tạm thời và
    trả tiền theo từng ngày, bởi thế mà mức phí đắt hơn nhiều so với giá thuê hàng tháng của các
    sinh viên trong khu này, tuy nhiên, với chúng tôi, đó đã là mức giá rẻ nhất có thể rồi. Căn phòng
    đúng ...
     
    Gửi ý kiến